Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Thực tiễn phân chia di sản thừa kế theo quy định bộ luật dân sự năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.53 MB, 96 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------

TRẦN THỊ HÒA

THỰC TIỄN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

:

8380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------

TRẦN THỊ HÒA

THỰC TIỄN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số

:

8380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn

gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận
văn này.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Hòa


DANH SÁCH CHỮ VIẾT TĂT

BLDS
QSDĐ
HN&GĐ
XHCN
TTCT

BỘ LUẬT DÂN SỰ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Hôn nhân và Gia đình
Xã hội chủ nghĩa
Tổn thương cơ thể


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 3

5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ........................................... 4
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................. 4
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI SẢN THỪA KẾ VÀ PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ .............................................................................. 5
1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế ...................... 5
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế ................................................................ 5
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế .............................................. 8
1.1.3 Xác định di sản thừa kế ...................................................................... 9
1.2 Căn cứ phân chia di sản thừa kế ........................................................ 12
1.2.1. Theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế ................ 13
1.2.2 Theo ý chí định đoạt của người lập di chúc ................................ 13
1.2.3 Theo quy định của pháp luật........................................................ 14
1.3 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế .......................................... 18
1.4 Ý nghĩa của phân chia di sản thừa kế ................................................ 24
1.5 Hạn chế phân chia di sản thừa kế ...................................................... 26
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
......................................................................................................................... 28
2.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật xác định thừa kế cụ thể là
quyền sử dụng đất.......................................................................................... 28
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa
kế theo di chúc ............................................................................................ 35
2.2.1. Phân chia theo di chúc trong trường hợp người chết để lại di
sản thờ cúng ............................................................................................ 36
2.2.2. Phân chia theo di chúc trong trường hợp có di tặng ................ 41


2.2.3. Phân chia theo di chúc trong trường hợp người để lại di chúc
có nghĩa vụ về tài sản ............................................................................. 46

2.2.4. Phân chia theo di chúc trong trường hợp có người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc ......................................... 48
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật ........................................................................................ 58
2.3.1. Phân chia di sản thừa kế thế vị ................................................... 61
2.3.2. Phân chia di sản theo pháp luật trong trường hợp xuất hiện
người thừa kế mới .................................................................................. 67
Chương 3: KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 ................... 70
3.1. Một số khó khăn vướng mắc và nguyên nhân khi áp dụng pháp
luật phân chia di sản thừa kế .................................................................... 70
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế .
................................................................................................................ 76
KẾT LUẬN ................................................................................................ 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề thừa kế có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là
hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân. Chính vì vậy,
thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của
mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội. Mỗi nhà nước dù có các xu thế
chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân
và được ghi nhận trong Hiến pháp. Cụ thể tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013

quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để
dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Quyền sở hữu tư nhân và quyền
thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của
công dân luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo
dõi và bảo hộ.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền
văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời
khác. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát
triển ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội, tranh chấp về phân chia di
sản thừa kế có xu hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung, bởi vì
giá trị của di sản thừa kế không còn là tài sản thông thường phục vụ sinh hoạt
tiêu dùng mà là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, cổ phiếu,
trang trại, doanh nghiệp…
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng
tỏ một số nội dung về "Thực tiễn phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ
Luật Dân sự năm 2015" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học. Việc nghiên
cứu phân chia di sản thừa kế nhằm nắm bắt được thực trạng của chế định thừa
kế trong xã hội đồng thời có các biện pháp hoàn thiện là rất cần thiết, để mọi


2

công dân điều được đảm bảo quyền lợi công bằng trong các mối quan hệ về
tài sản nói chung và quyền thừa kế nói riêng....hướng đến công bằng ổn định
xã hội. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện
lý luận cũng như thực tiễn.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài


Thừa kế nói chung và phân chia di sản thừa kế là một trong những vấn
đề thu hút sự chú ý và nghiên cứu của nhiều luật gia đã có nhiều chương trình
và đề tài nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến: Bình luận khoa học BLDS
2015 của PGS.TS Nguyễn Văn Cừ - TS. Trần Thị Huệ; Thừa kế - Qui định
của pháp luật và thực tiễn áp dụng của tác giả Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết Trường Đại học luật Hà Nội; Phùng Trung Tập (2002), Luật thừa kế Việt Nam.
Nxb Hà Nội...
Bộ luật dân sự 2015 đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội
khóa XIII ngày 24/11/2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017.Bộ luật dân sự 2015
đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp
năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ
và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, xây
dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải
cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ
luật dân sự thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện,
bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ,
thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.
Hiện nay các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng gia tăng và
trở nên phức tạp hơn. Sự nhận thức không đầy đủ về pháp luật của các cá
nhân, việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp Tòa án là những


3

yếu tố làm cho các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài,
ảnh hưởng không tốt đến truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có từ lâu đời của
dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, một trong những khó khăn vướng mắc lớn khi áp
dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp thừa kế chính là vấn

đề phân chia di sản thừa kế.
3.

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Với đề tài "Phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ Luật Dân sự
năm 2015", tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản
chất của phân chia di sản thừa kế được quy định trong Bộ Luật dân sự 2015
và thực tiễn phân chia di sản thừa kế, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị
mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định về nội
dung này trong Bộ Luật dân sự 2015.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế
hiện nay.
Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, bản chất quy
định của pháp luật về thừa kế nhằm làm rõ những quy định về phân chia di
sản thừa kế theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015.
5.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp đối
chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, v.v....


4

Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp quy
nạp, phương pháp đánh giá mặt mạnh, mặt yếu (phương pháp SWOT),
phương pháp tổng hợp, v.v..
Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh giữa quy định của
BLDS 2015 và BLDS 2005, ngoài ra cũng được sử dụng để so sánh mối quan
hệ giữa Bộ luật dân sự với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Luật
đất đai, luật sở hữu trí tuệ, luật công chứng .
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài luận văn thạc sỹ“ Phân chia di sản thừa kế theo bộ luật dân
sự 2015” là một công trình nghiên cứu về phân chia di sản thừa kế. Luận văn
đã giúp cho bản thân nâng cao được nhận thức, lý luận thực tiễn đối với các
vụ việc về giải quyết phân chia di sản thừa kế và có thể làm tài liệu tham khảo
cho cá nhân, tổ chức muốn tìm hiểu pháp luật về phân chia di sản thừa kế.
7.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu,
kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 03
Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân chia di sản thừa kế
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về
phân chia di sản thừa kế theo quy định bộ luật dân sự 2015
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp

luật


5

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI SẢN THỪA KẾ VÀ PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Di sản” có hai nghĩa: “1. Tài sản của
người chết để lại. Hưởng di sản của cha mẹ; 2. Cái của thời trước để lại. Kế
thừa di sản văn hóa” [ tr.246].
Thuật ngữ “di sản” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực
của đời sống. Song, trong từng lĩnh vực cụ thể như: văn hóa - xã hội, kinh tế...
thì thuật ngữ này lại được hiểu với những nghĩa khác nhau. Trên lĩnh vực
pháp luật, thuật ngữ di sản được các nhà làm Luật sử dụng để chỉ di sản thừa
kế trong pháp luật Dân sự. Nó được hiểu như phần tài sản thuộc sở hữu hợp
pháp của người chết để lại cho những người còn sống khác.
Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa
ra định nghĩa thế nào là di sản thừa kế mà chỉ liệt kê về di sản thừa kế. Điều
612 BLDS 2015 về di sản bao gồm: “Tài sản riêng của người chết, phần tài
sản của người chết trong tài sản chung với người khác” mà: “Tài sản bao gồm
vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (Khoản 1 Điều 105 Bộ luật
Dân sự năm 2015). Như vậy, di sản có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá
được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.
Khi xem xét về vấn đề di sản thừa kế hiện nay còn nhiều quan điểm
khác nhau, cụ thể là:
- Quan điểm thứ nhất: Di sản thừa kế bao gồm các tài sản và các
nghĩa vụ tài sản của người chết để lại. Tức là, người để lại di sản thừa kế khi
còn sống ngoài những tài sản mà họ có thì còn có các khoản nợ (nghĩa vụ tài

sản) khác. Những nghĩa vụ này phát sinh từ các quan hệ dân sự như: nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay, nghĩa vụ trả tiền


6

thuê nhà... Các nghĩa vụ về tài sản họ để lại khi chết đi sẽ được dịch chuyển
cho những người thừa kế thực hiện đồng thời với việc dịch chuyển các tài sản.
Pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế Việt Nam nói riêng trong thời kỳ
phong kiến phổ biến với quan điểm này vì luật tục “phụ trái tử hoàn”. Người
thừa kế sẽ phải thực hiện việc thanh toán nợ của người chết để lại kể cả trong
trường hợp tài sản của người chết để lại không đủ để trả hết nợ và phải chịu
trách nhiệm vô hạn với nghĩa vụ đó. Quan điểm này đã không còn phù hợp
với sự phát triển của đất nước, cho thấy sự bất công của chế độ cũ, chế độ bóc
lột người dân của bọn cường hào, địa chủ. Quy định của Sắc ngày 22/5/1950
lệnh số 97/SL đã xóa bỏ quy lệ bất công này.
- Quan điểm thứ hai: Di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của
người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản. Đây là quan điểm
phù hợp với những quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự
năm 2005. Vì thừa kế là thừa hưởng của cải của người đã khuất. Theo từ điển
Tiếng Việt, thì thừa kế được định nghĩa là: “hưởng của người chết để lại cho”
[ Tr 972]. Với ý nghĩa này thì không thể nói người thừa kế “ được hưởng
nghĩa vụ tài sản” hay “ được hưởng các tài sản nợ”. Những “giá trị” không
mang đến lợi ích cho người tiếp nhận thì không được coi là di sản.Vì vậy,
không thể coi các nghĩa vụ là được thừa hưởng.(1)
Mặt khác, về phương diện đạo đức truyền thống, theo suy nghĩ của
người Việt Nam cha mẹ sinh con thì có nghĩa vụ chăm lo, nuôi nấng con nên
người. Những việc làm mang tính “bổn phận” không chỉ là trong hiện tại mà
còn cho cả tương lai sau này của người con, tạo ra “tiền đề vật chất” ban đầu
cho con, cho cháu. Người con, người cháu được thừa hưởng tài sản khi cha

mẹ chết đi, dựa vào đó mà làm ăn phát triển cuộc sống và sau này lại tích lũy
tài sản cho con cái của họ. Và tất nhiên những tài sản mà người chết để lại
1 Lê Văn Minh (2012) Phân chia di sản thừa kế theo BLDS 2005, Luận văn thạc sĩ Dân sự, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội.


7

cho người được hưởng phải thuộc quyền sở hữu của họ, không trái với các
quy định của pháp luật. Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Do tính chất vĩnh viễn và tuyệt đối của quyền sở hữu mà
nguyên tắc liên tục của việc đảm nhận tư cách chủ sở hữu đối với tài sản được
đặt ra:“ Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những
người còn sống khác”. Như vậy, với ý nghĩa trên thì di sản chỉ là tài sản của
người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ về tài sản.
Về phương diện pháp luật thì: “Những người hưởng thừa kế có trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ
trường hợp có thoả thuận khác....”(Khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm
2015). Cùng với việc nhận di sản thừa kế thì người thừa kế có trách nhiệm
thanh toán các khoản nợ mà người chết để lại. Cần phải hiểu, ở đây người
thừa kế khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư
cách là một chủ thể mới, họ không thay thế vị trí của chủ thể. Họ thực hiện
nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết. Khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ do
người chết để lại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế sẽ xảy ra các
trường hợp:
Một là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác nhỏ hơn khối tài sản mà
người chết để lại, trong trường hợp này tài sản vẫn còn để chia thừa kế.
Hai là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác lớn hơn hoặc bằng đúng
khối tài sản mà người chết để lại, trong trường hợp này tài sản không còn để
chia thừa kế. Và vì thế sẽ không có quan hệ nhận di sản.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, người
thừa kế có quyền từ chối nhận di sản. Nếu nhận di sản thì người thừa kế phải
thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và ngược lại nếu họ không
nhận di sản thì họ không phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để
lại. Rõ ràng ở đây người thừa kế không bắt buộc phải nhận di sản để sau đó


8

phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ.
Tóm lại, di sản thừa kế được hiểu là tài sản, các quyền tài sản mà
người đã chết có được một cách hợp pháp, không bao gồm các nghĩa vụ tài
sản của người đó để lại cho người hưởng thừa kế.(2)
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế
Hiện nay do sự phát triển kinh tế , xã hội dẫn đến tài sản tích lũy của
mỗi cá nhân và gia đình ngày càng nhiều. Vì vậy, các tranh chấp nói chung và
các tranh chấp liên quan đến vấn đề thừa kế nói riêng ngày càng tăng về số
lượng đồng thời mang tính chất phức tạp hơn. Đích cuối cùng của tranh chấp
thừa kế giữa các bên chủ thể là xác định di sản và phân chia di sản thừa kế
đúng để đảm bảo quyền, lợi ích của những người được hưởng thừa kế.
Trong quan hệ thừa kế nếu chỉ có một người có quyền hưởng di sản
thì họ là sở hữu duy nhất của khối di sản sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài
sản của người chết để lại và cũng chỉ có mình họ phải thực hiện các nghĩa vụ
tài sản đó. Vì lẽ đó mà việc phân chia di sản thừa kế chỉ đặt ra khi có ít nhất
từ hai người trở lên có quyền thừa kế đối với khối di sản của người chết để
lại.
Vậy, phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập
quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng người một có quyền hưởng thừa kế
trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản. Chấm
dứt tình trạng nhiều người cùng có quyền được hưởng thừa kế từ một hoặc

nhiều tài sản do người chết để lại.

2 Lê Văn Minh (2012) Phân chia di sản thừa kế theo BLDS 2005, Luận văn thạc sĩ Dân sự, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội.


9

1.1.3 Xác định di sản thừa kế
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản mà người chết để
lại bao gồm: “Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người đó trong
tài sản chung với người khác”.
Thứ nhất, tài sản riêng của người chết
Là phần tài sản không bị chi phối về mặt pháp lý, không phải chịu sự
ràng buộc với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và quyền định
đoạt. Như vậy để xác định tài sản của một cá nhân không nằm trong khối tài
sản chung với người khác, không nằm trong khối tài sản chung hợp nhất của
vợ, chồng mà được xác định là: Độc lập trong sở hữu chung theo phần, độc
lập trong sở hữu chung hợp nhất được căn cứ theo khoản 1 điều 43 LHN&GĐ
2014 “ Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi
kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39
và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài
sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng ’’.
Theo quy định trên thì tài sản riêng của vợ, chồng được quy định theo các căn
cứ sau:
+ Tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn: Trước khi kết hôn
họ không bị ràng buộc về mặt pháp lý, chưa phải là vợ chồng theo quy định
của pháp luật. Vì vậy tất cả những tài sản do công sức lao động của họ làm ra
được pháp luật thừa nhận thì tài sản đó là tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc

chồng.
+ Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân:
Là tài sản do ông bà, cha mẹ, bạn bè thân thuộc của vợ hoặc chồng
định đoạt thông qua hợp đồng tặng cho hoặc thừa kế hợp pháp.


10

+ Tài sản riêng của vợ, chồng có được khi chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân.
Căn cứ khoản 1 Điều 40 LHN&GĐ 2014 quy định trong trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản
riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản
còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
+Tài sản phục vụ nhu cầu cá nhân : Là tài sản riêng của người vợ
người chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu như
công việc, học tập, nghề nghiệp và các sinh hoạt khác của vợ chồng .
Từ quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản riêng trên đây,
một mặt tôn trọng quyền sở hữu tài sản của vợ, chồng. Mặt khác tạo điều kiện
cho mỗi bên được hoàn toàn chủ động, độc lập thực hiện các quyền mà pháp
luật cho phép đối với chủ sở hữu.
Thứ hai, tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với
người khác
Di sản của người chết không chỉ bao gồm tài sản riêng của người đó để
lại mà còn bao gồm cả tài sản trong khối tài sản chung với người khác. Trên
thực tế, có nhiều trường hợp tài sản là tài sản chung của nhiều người do được
tặng cho chung, thừa kế chung hoặc cùng góp vốn để hợp tác kinh doanh tìm
kiếm lợi nhuận… Do đó, khi một đồng chủ sở hữu chết thì phần tài sản thuộc

sở hữu của người đó có trong khối tài sản chung được xác định là di sản. Theo
qui định của pháp luật có hai hình thức sở hữu chung đó là sở hữu chung hợp
nhất và sở hữu chung theo phần. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu
chung hợp nhất và tài sản chung với người khác là sở hữu chung theo phần.
Là phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc nằm
trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với nhiều người khác, tuỳ


11

theo cách thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu đó.
+ Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng:
Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra từ thu nhập
lao động, sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong
thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng được thừa kế chung; Tặng, cho chung và
những tài sản khác được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; Quyền sử dụng
đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Những tài sản này là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, nếu
bên nào chết trước thì bên kia yêu cầu chia di sản thừa kế thì tài sản chung
này được chia đôi một nửa thuộc sở hữu của người chết, một nửa thuộc sở
hữu của người sống.
+ Tài sản thuộc sở hữu chung theo phần:
Sở hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu
như phần vốn góp trong công ty, phần vốn góp để kinh doanh, phần tài sản
được cho chung, được thừa kế chung của nhiều người. Khi người này chết thì
những tài sản này trở thành di sản thừa kế.
Thứ ba, di sản thừa kế là các quyền tài sản của người chết để lại
Khi người còn sống họ tham gia vào các giao dich dân sự khác nhau
như mua bán, cho vay nhưng người mua chưa trả hết tiền gây thiệt hại ngoài
hợp đồng, trong hợp đồng chưa bồi thường thiệt hại… Thì khi chết, những

người thừa kế có quyền yêu cầu những người khác phải thực hiện nghĩa vụ tài
sản. Có nghĩa là những người thừa kế có quyền hưởng những quyền tài sản do
người chết để lại. Các quyền này được gọi là tài sản quy định tại điều 105
BLDS năm 2015
Quyền được nhận tiền bảo hiểm cũng được coi là di sản thừa kế đối với
quyền tài sản nếu khi còn sống người để lại di sản có ký kết hợp đồng bảo


12

hiểm thì những người thừa kế có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường
thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện người chết.
Khi tác giả của các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình khoa học,
các đối tượng sở hữu công nghiệp chết thì những người thừa kế của tác giả đó
có quyền được hưởng các quyền tài sản liên quan đến các tác phẩm, công
trình khoa học, đối tượng sở hữu công nghiệp. Khi chủ sở hữu tác phẩm, đối
tượng sở hữu công nghiệp mà sử dụng vào việc sản xuất kinh doanh thì phải
t rả cho những người thừa kế của tác giả một số tiền nhất định theo quy định
của pháp luật. Điều 40 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định: “Tổ chức, cá
nhân được quyền thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa
kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật
này” (3)
Người thừa kế có quyền sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng cho người
khác hoặc định đoạt quyền sở hữu của mình, người thừa kế tài sản của chủ sở
hữu có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật trừ những quyền nhân thân
thuộc quyền của tác giả.(4)
1.2 Căn cứ phân chia di sản thừa kế
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự nói
riêng, không tồn tại khái niệm “căn cứ phân chia di sản thừa kế” mà mới chỉ
có các khái niệm như “căn cứ pháp lý”, “căn cứ xác lập quyền sở hữu”, “căn

cứ chấm dứt quyền sở hữu”... Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chuẩn là cần
thiết để có cách hiểu thống nhất về “căn cứ phân chia di sản thừa kế”.

3 Phùng Trung Tập (2004),“Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay”; Nxb. Tư
pháp, Hà Nội

4 Phan Văn Nghĩa (2015), Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật việt nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ dân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội


13

Việc phân chia di sản thừa kế có hai trường hợp đó là chia theo di
chúc và chia theo pháp luật. Khi phân chia di sản thừa kế dù có phân chia theo
di chúc hay phân chia theo pháp luật thì cũng đều phải căn cứ theo những quy
định chung của pháp luật và chúng ta có thể hiểu:“ Căn cứ phân chia di sản
thừa kế là những sự kiện pháp lí mà trên cơ sở đó các chủ thể tiến hành việc
phân chia di sản thừa kế”. Các căn cứ để phân chia di sản thừa kế gồm:
1.2.1. Theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế
Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích việc thỏa thuận, tự nguyện khi
phân chia di sản thừa kế của những người thân quen trong gia đình. Theo quy
định tại điều 3 Bộ luật dân sự 2015 về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
dân sự đã ghi nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận. Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận, thống nhất về
cách chia thì đó có thể là căn cứ để phân chia di sản thừa kế. Tòa án chỉ tham
gia giải quyết trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận với
nhau được
Khi phân chia di sản theo thỏa thuận, người thực hiện phân chia di sản
có thể tham gia nhưng đây không phải là điều kiện bắt buộc. Người thực hiện
phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lí di sản. Theo khoản 2 điều

656 BLDS 2015 “ Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập
thành văn bản” , trong trường hợp : “Những người thừa kế theo pháp luật
hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được
hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận
phân chia di sản…” (5)
1.2.2 Theo ý chí định đoạt của người lập di chúc
Theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Cá
nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của
5 ( khoản 1, điều 57, Luật công chứng 2014)


14

mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo
pháp luật.”. Quy định thể hiện quyền của cá nhân trong việc lập di chúc thể
hiện quyền định đoạt tài sản của mình.
Tùy vào ý chí của người lập di chúc mà người được thừa kế theo di
chúc được hưởng các phần di sản nhiều ít khác nhau. Pháp luật luôn tôn trọng
ý chí của người để lại di sản, vì vậy họ có thể để lại di sản cho bất kì ai, kể cả
những người không có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với
họ…tức là họ được tự do thể hiện ý chí của mình, Nhà nước không quy định
phạm vi người được hưởng thừa kế theo di chúc. Nhưng Nhà nước ta chỉ hạn
chế ý chí của người lập di chúc trong một số trường hợp cụ thể được quy định
tại Khoản 1 Điều 644 BLDS 2015“ Những người sau đây vẫn được hưởng
phần di sản bằng hai phần Ba của một người thừa kế theo pháp luật nếu di
sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di
chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba
suất đó: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không
có khả năng lao động.”.
Mục đích của quy định này là bảo vệ quyền lợi cho những người cha,

người mẹ, vợ, chồng, con của những người để lại di sản, đồng thời nó càng có
ý nghĩa hơn khi những người này rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: Không đủ
khả năng lo cho bản thân; Bị tàn tật hoặc chưa thành niên…
Vậy phân chia di sản theo ý chí định đoạt của người lập di chúc là căn
cứ để tiến hành việc phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh quyền sở hữa của
người có quyền thừa kế.
1.2.3 Theo quy định của pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho
những người còn sống theo diện thừa kế, hàng thừa kế, điều kiện và trình tự
thừa kế do pháp luật quy định.


15

Diện thừa kế bao gồm các cá nhân còn sống có quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản được tính
đến thời điểm mở thừa kế của người đó và những cá nhân sinh ra và còn sống
sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản
chết. Phạm vi những cá nhân thuộc diện thừa kế được xác định theo số người
được pháp luật chỉ định trong các hàng thừa kế theo pháp luật của người để
lại di sản.
Thứ nhất, quan hệ hôn nhân
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì "hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi đã kết hôn". Vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp
luật của nhau khi quan hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của
người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp. Để có thể
được pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc kết hôn phải
tuân thủ các điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định. Hôn nhân hợp pháp
phải đảm bảo cả về mặt nội dung lẫn hình thức nghĩa là phải đảm bảo các điều
kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn.

Thứ hai, quan hệ huyết thống
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu
về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ.
Xuôi theo dòng phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cho
đến nay, phạm vi các đối tượng thuộc diện thừa kế theo pháp luật xác định
trên cơ sở quan hệ huyết thống theo quy định tại BLDS năm 2015 là đầy đủ và
mở rộng nhất. Trước hết phải kể đến mối quan hệ giữa con và cha mẹ. Quyền
thừa kế theo pháp luật của con không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của
cha, mẹ đẻ. Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai, con
gái, con trong giá thú hay con ngoài giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay
không đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.


16

Thứ ba, quan hệ nuôi dưỡng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, diện thừa kế được xác định
trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng bao gồm quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con
nuôi và ngược lại và trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế nếu đáp ứng
điều kiện nhất định.
Trước hết, xét quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Theo quy định
tại Điều 653 BLDS năm 2015 thì " Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa
kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và
Điều 652 của Bộ luật này". Mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được
xác lập trên sự kiện nuôi con nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi dựa trên ý chí chủ
quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi. Theo nguyên tắc chung
thì "Người được nhận làm con nuôi phải dưới 16 tuổi. Một người chỉ được làm
con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng" (Điều 8
Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng các
điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Việc nhận nuôi

con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và ghi vào
sổ hộ tịch. Con nuôi có đầy đủ quyền như con đẻ và được coi là người thừa
kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi.
Quan hệ thừa kế được xác định dựa trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng
còn bao gồm quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế. Theo quy định tại
Điều 654 BLDS năm 2015 thì pháp luật về thừa kế chỉ thừa nhận con riêng và
bố dượng, mẹ kế thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi và chỉ khi
đáp ứng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Quy định
này còn mang tính chủ quan, chung chung.
Tóm lại, ngoài ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với
người để lại di sản thì không có bất cứ quan hệ nào khác để xác định diện thừa
kế theo pháp luật.
Hàng thừa kế là những nhóm, người thừa kế được pháp luật xếp trong
cùng một hàng. Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực, đảm bảo để
những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những
người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng


17

thừa kế trước đó đã chết, hoặc do không có quyền hưởng di sản; hoặc bị truất
quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Bộ luật Dân sự hiện hành quy
định ba hàng thừa kế theo pháp luật tại Điều 651.
Thứ nhất, hàng thừa kế thứ nhất
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,
mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế thuộc hàng
thừa kế thứ nhất dựa trên cả ba mối quan hệ bao gồm quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Trong đó, những người ở bề trên gồm
có: ông, bà; ngang bậc gồm có: vợ, chồng và bề dưới bao gồm: các con. Theo
quy định của pháp luật hiện hành, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất

đều có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau, là giám hộ và đại diện đương
nhiên của nhau khi thỏa mãn các điều kiện luật định.
Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là mối quan hệ mang tính đối nhau,
nghĩa là bên này chết thì bên kia thuộc hàng thừa kế thứ nhất và ngược lại.
Theo quy định tại Điều 651 BLDS năm 2015 thì con nuôi, cha nuôi,
mẹ nuôi của người chết để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Chỉ những
trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ
hộ tịch hoặc có đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền mới phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật.
Thứ hai, hàng thừa kế thứ hai

Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người
chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Hàng thừa kế thứ hai còn bao gồm anh, chị, em ruột của người
chết. Anh ruột, chị ruột, em ruột là anh, chị, em cùng mẹ hoặc cùng cha.
Quan hệ thừa kế này được hình thành theo một căn cứ duy nhất là quan
hệ huyết thống, bao gồm những người có quan hệ huyết thống trực hệ
cùng một đời.
Nếu anh hoặc chị hoặc cả anh chị chết thì em ruột sẽ là người
thuộc hàng thừa kế thứ hai đối với di sản của anh, chị đã chết và ngược


18

lại. Như đã chỉ ra ở trên, con nuôi không đương nhiên trở thành anh, chị,
em của con đẻ của người nuôi nên giữa con nuôi và con đẻ không phải
là người thừa kế theo pháp luật của nhau.
Tương tự như những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, những
người thừa kế thuộc hàng thứ hai cũng được hưởng phần di sản bằng

nhau, không phân biệt là người bề trên, người bề dưới hay người cùng
bậc với người để lại di sản.
Thứ ba, hàng thừa kế thứ ba

Hàng thừa kế thứ ba được quy định để dự liệu trường hợp cả hai
hàng trên không còn người thừa kế. Những người thừa kế ở hàng thứ ba
được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005, bao gồm
"cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì
ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người
chết là cụ nội, cụ ngoại". Có thể nhận thấy, những người ở hàng thừa kế
thứ ba gồm nhiều thế hệ và nhiều bậc trên - dưới khác nhau theo quan hệ
huyết thống.
Trong thực tiễn cuộc sống, cách xưng hô trong gia đình người
Việt Nam rất phong phú và tinh tế, thể hiện nét đặc trưng của mỗi vùng
miền. Mặc dù cách xưng hô ở các vùng miền có sự khác nhau nhưng đều
chỉ chung một chủ thể và do đó phải tuân thủ theo quy định chung của
pháp luật.
Như vậy, khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong
cùng một hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau và theo thứ tự ưu tiên
tuyệt đối giữa các hàng. Trên thực tế rất hiếm trường hợp những người ở hàng
thứ ba được hưởng thừa kế và việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ ba gặp
nhiều khó khăn so với việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai.
1.3 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế
Theo quy định của pháp luật dân sự, chế định thừa kế được ghi nhận


19

và chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của Luật dân sự, là một chế

định mang nhiều đặc thù, bị chi phối bởi chế độ sở hữu, chế độ hôn nhân và
gia đình và cả nhiều yếu tố như: Phong tục, tập quán ….nên có những nguyên
tắc riêng để điểu chỉnh làm cơ sở, định hướng cho những quy phạm pháp luật
về thừa kế. Phân chia di sản là một phần trong chế định thừa kế nên các
nguyên tắc đó và cũng được áp dụng cho các phương thức phân chia di sản,
chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên việc phân chia di sản
có những nguyên tắc riêng của nó. Để tìm hiểu về nguyên tắc phân chia di sản
thừa kế là cần thiết bởi nó đóng vai một vai trò quan trọng trong pháp luật
thừa kế và trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến phân chia di
sản thừa kế. Vì vậy, phân chia di sản thừa kế được quy định bởi các nguyên
tắc sau:
- Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế trong thừa kế theo di chúc
Trước khi chết thì người lập di chúc bao giờ cũng mong muốn di chúc
của mình không bị thất lạc hư hỏng, ý nguyện không bị người khác xâm
phạm, di sản còn nguyên vẹn đến lúc trao tài sản cho người thừa kế, di sản
được chia theo đúng ý chí chủ quan của người lập di chúc. Vì vậy, khi phân
chia di sản thừa kế theo di chúc chúng ta cần phải thực hiện đúng với những
gì người lập di chúc để lại như:
+ Tôn trọng ý chí của người lập di chúc
Theo quy định tại điều 158 BLDS 2015 khẳng định quyền sở hữu là
quyền duy nhất của chủ sở hữu đối với tài sản, là tổng hợp của các quyền
năng cụ thể đối với tài sản đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định
đoạt.
Để lại di sản thừa kế là một trong những cách thức định đoạt tài sản
của chủ sở hữu. Nhà nước ta luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc, các
quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 BLDS 2015. Nhà


×