BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THẢO NGUYÊN
PHÁP LUẬT VỀ ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI
LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC
Chuyên ngành
Mã số
: Luật kinh tế
: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN BÌNH
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào. Các
thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn
này.
Tác giả luận văn
Phạm Thảo Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn tôi thực
hiện luận văn này – TS. NGUYỄN VĂN BÌNH - người đã cho tôi những hướng
dẫn hết sức quý báu, giúp tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa
sau Đại học, Khoa Pháp luật kinh tế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn động viên, quan tâm và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình hoàn
thành Luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn này một
cách tốt nhất xong vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những nhận
xét, đóng góp để Luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN
:
Doanh nghiệp
HĐLĐ
:
Hợp đồng lao động
LĐLĐVN
:
Liên đoàn lao động Việt Nam
NLĐ
Người lao động
NLĐVN
:
Người lao động Việt Nam
NSDLĐ
:
Người sử dụng lao động
VN
:
Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
Chương 1 .......................................................................................................... 8
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG
VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT .......................................................... 8
1.1. Khái quát chung về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ......................................................... 8
1.1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của hoạt động đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ............................ 8
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng.................................................................10
1.2. Pháp luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng. ............................................................................................................ 13
1.2.1. Pháp luật đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng. ........................................................13
1.2.2. Những nội dung cơ bản cần được điều chỉnh bởi pháp luật trong
hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng……………………………………….......................15
1.3. Một số tiêu chuẩn quốc tế có liên quan và kinh nghiệm một số
quốc gia về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. .. 18
1.3.1. Một số tiêu chuẩn quốc tế có liên quan. .............................................18
1.3.2. Kinh nghiệm một số quốc gia về hoạt động đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài ...........................................................................22
CHƯƠNG 2.................................................................................................... 32
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ VIỆC ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở
NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH ĐỐI
VỚI THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC ............................................................... 32
2.1. Thực trạng pháp luật lao động hiện hành về đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ................................. 32
2.1.1. Về các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng ..............................................................................33
2.1.2. Về quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. ..................................36
2.1.3. Về bảo vệ quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của người lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. ................................................37
2.1.4. Về chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài sau
khi trở về nước........................................................................................40
2.1.5. Về việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài .......................................................................40
2.1.6. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đưa người lao động đi làm
việc ở nước ngoài. ..................................................................................42
2.2. Thực tiễn thi hành hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với thị trường Hàn Quốc. .... 43
2.2.1
Những kết quả đạt được........................................................................43
2.2.2
Những tồn tại và nguyên nhân của hoạt động đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với thị trường
Hàn Quốc. ...............................................................................................48
2.2.2.1. Những tồn tại..........................................................................................48
2.2.2.2. Những nguyên nhân .............................................................................56
CHƯƠNG 3.................................................................................................... 60
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐƯA NGƯỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP
ĐỒNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC ......................................... 60
3.1.
Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng .................................. 60
3.2.
Các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng…………………………………………………………………..61
3.3.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
đối với thị trường Hàn Quốc hiện nay. ............................................. 65
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế xã hội năm
2017, lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8 triệu
người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016. Trong số 54,8 triệu lao động
qua thống kê, bao gồm lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước
năm 2017 ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị chiếm 33,4%;
khu vực nông thôn chiếm 66,6% với đặc điểm nguồn nhân lực trẻ, có quy mô
lớn nên đã, đang và sẽ tạo ra nguồn cung dồi dào về nhân lực. Hằng năm số
lượng người cần có việc làm ngày càng tăng cao, trong khi đó, với trình độ
phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế như hiện nay, cầu về nhân lực còn hạn chế
và phản ánh một cơ cấu lạc hậu, đại bộ phận nguồn nhân lực còn nằm trong
khu vực nông thôn.
Điều này đã dẫn đến việc Việt Nam - một quốc gia đang phát triển sẽ
có xu hướng dư thừa lao động, một bộ phận lớn người lao động bị dôi dư
không có việc làm, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của chính bản thân
và gia đình họ cũng như toàn xã hội. Trong khi đó, nhiều quốc gia, nhiều
vùng lãnh thổ trên thế giới lại đang rơi vào tình trạng thiếu lao động hoặc giá
nhân công tại chỗ quá cao. Họ cần tuyển lao động là người từ các quốc gia
khác sang làm việc. Từ đó phát sinh nhu cầu cung ứng sức lao động và di
chuyển lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác. Đây là một nhu cầu tất
yếu xuất phát từ sự vận động khách quan của thị trường lao động quốc tế.
Hàn Quốc là một quốc gia không nằm ngoài thực trạng chung này, đây
là một thị trường đang rất nóng hiện nay và thu hút rất nhiều lao động, đặc
biệt là các lao động đến từ Việt Nam bởi giá nhân công cao. Trong bối cảnh
tình hình chung của thế giới và xuất phát từ nhu cầu khách quan của Việt
Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề lao động và giải
2
quyết việc làm nói trên cũng như đưa NLĐ đi làm việc tại thị trường Hàn
Quốc nói riêng, cho đến nay, pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã đạt được những thành quả to lớn tuy
nhiên, bên cạnh đó thì vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu tổng quan pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa NLĐVN đi
làm việc ở nước ngoài cũng như thực tiễn thi hành đối với thị trường Hàn
Quốc nhằm tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao
chất lượng thực tiễn thi hành là vấn đề cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Đó
chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thi hành đối
với thị trường Hàn Quốc” với mục đích nhằm nghiên cứu các quy định pháp
luật và thực tiễn thi hành một cách toàn diện nhằm tìm ra đúng các giải pháp
hiệu quả để hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho hoạt động đưa NLĐ Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài đối với thị trường Hàn Quốc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, tình hình nghiên cứu cũng như tìm hiểu về đề tài đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được tiến hành
rộng rãi và phổ biến. Cụ thể, hiện nay đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều công
trình nghiên cứu khoa học và những bài viết về vấn đề này. Trong đó phải kể
đến sự đóng góp của các hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước, đơn cử như
Hội nghị nâng cao chất lượng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng do Bộ Lao động, thương binh và xã hội tổ
chức tại Hà Nội ngày 08 tháng 03 năm 2017, theo đó tại Hội nghị Phó thủ
tướng Vũ Đức Đam đã cảm ơn chân thành đến những đóng góp của các doanh
nghiệp cho việc đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong hơn 20
năm qua và cho rằng hoạt động này nếu tổ chức tốt hơn nữa thì lao động của
Việt Nam từng làm việc ở nước ngoài sẽ là một trong những yếu tố thu hút
đầu tư.
3
Bên cạnh đó, có một số công trình đáng lưu ý như: Nguyễn Đặng
Phước Tâm (2014) “Bảo vệ Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng- Thực trạng và giải pháp”; Nguyễn Văn Tiến (2002)
“Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động- Thực trạng và giải
pháp”-Luận văn thạc sĩ luật học; Khóa luận tốt nghiệp “Một số biện pháp
nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong
những năm tới”, Nguyễn Long Đoàn, T.S Nguyễn Anh Tuấn hướng dẫn. Các
công trình nghiên cứu khoa học các cấp như: Nguyễn Phúc Khanh (2004)
“Xuất khẩu lao động với chương trình quốc gia về việc làm- Thực trạng và
giải pháp”- Đề tài khoa học cấp Bộ; Đề tài nghiên cứu Quản lý nhà nước về
xuất khẩu lao động ở Việt Nam (QK.08.03) do PGS.TS. Phan Huy Đường làm
chủ nhiệm từ tháng 04/2008 đến tháng 04/2010. Ngoài ra, phải kể đến rất
nhiều các bài báo với nhiều ý kiến trái chiều, phản ánh thực trạng như
“Khoảng trống trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng” trên báo Dân trí online của tác giả Hoàng Mạnh, hoặc “Đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài chưa thực sự chuyên nghiệp” đăng
trên báo Đại đoàn kết online ngày 01/04/2017 của tác giả Minh Long. Ở mức
độ nhất định, các công trình nghiên cứu này đã phân tích, đánh giá và đưa ra
những kiến nghị liên quan đến việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc. Nhưng hầu như các bài
viết nói trên chưa đánh giá được một cách toàn diện về thực trạng thi hành đối
với việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
và đặc biệt là chưa có bất kì công trình nghiên cứu nào riêng biệt đối với thị
trường Hàn Quốc. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do còn thiếu các
thông tin về tình hình người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đối với
thị trường Hàn Quốc cũng như công tác thi hành pháp luật trong lĩnh vực nêu
trên.
Do đó, đề tài luận văn “Pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thi hành đối với thị trường
4
Hàn Quốc” sẽ là một công trình nghiên cứu tương đối hệ thống về vấn đề này.
Trên cơ sở đó đánh giá được những tác động, ảnh hưởng của pháp luật Việt
Nam hiện hành với thực tiễn thi hành hoạt động đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với thị trường Hàn Quốc nhằm đề
xuất những giải pháp, kiến nghị khả thi hướng tới việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng, phù hợp với xu thế vấn động của thị trường lao động quốc tế cũng như
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật đối với hoạt động này.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của tác giả khi nghiên cứu đề tài “Pháp luật về đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thi hành
đối với thị trường Hàn Quốc” là:
✓ Phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa NLĐVN đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm làm rõ những nội dung của pháp
luật Việt Nam khi điều chỉnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trên cơ sở đó đánh giá những kết quả và
hạn chế của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng;
✓ Đánh giá tình hình thực tiễn thi hành những quy định pháp luật về
vấn đề đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đặc biệt
là đối với thị trường Hàn Quốc. Từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định
pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này và đưa ra những giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng.
Tác giả mong muốn đề tài luận văn sẽ phục vụ cho việc học tập, giảng
dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo Luật ở Việt Nam, đặc biệt
đối với chuyên ngành Luật Lao động tại Trường đại học Luật Hà Nội. Nội
dung luận văn có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết cho mọi cá nhân tìm
hiểu vấn đề đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
5
đồng. Ngoài ra, tác giả mong rằng những kiến nghị khoa học trong luận văn
sẽ không chỉ được áp dụng trong vấn đề xây dựng pháp luật mà còn được áp
dụng thực tiễn trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và quản lý đối
với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để ngày
càng nâng cao hiệu quả đối với hoạt động này và đặc biệt là áp dụng đối với
thị trường Hàn Quốc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Nghiên cứu thực trạng quan hệ giữa các bên trong hoạt động đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó
chủ yếu nghiên cứu những khía cạnh chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp
luật Việt Nam như: Quan hệ giữa chủ thể thực hiện dịch vụ đưa người lao
động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng và người lao động với mục đích
tìm kiếm, giới thiệu và môi giới lao động; quan hệ giữa chủ thể đưa người lao
động Việt Nam ra nước ngoài và chủ sử dụng lao động nước ngoài với mục
đích cung ứng lao động; quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam với chủ thể đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài nhằm
thanh tra và xử lý vi phạm theo quy định;
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành của hoạt động này đối với thị trường
Hàn Quốc, các quan hệ được xác lập đối với người lao động và chủ sử dụng
lao động tại Hàn Quốc
Phạm vi nghiên cứu:
Trong điều kiện thời gian và quy mô nghiên cứu còn nhiều hạn chế,
đồng thời để phù hợp với đối tượng nghiên cứu đã được xác định, tác giả chủ
yếu tập trung vào việc nghiên cứu trong phạm vi các quy định của pháp luật
Việt Nam về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng dưới góc độ của pháp luật lao động. Theo đó, những vấn đề khác của
6
hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nếu không
trực tiếp được điều chỉnh dưới góc độ của pháp luật lao động tạm thời sẽ chưa
được đề cập trong phạm vi của luận văn mà sẽ chỉ được giới thiệu sơ lược. Ví
dụ như, vấn đề xác định các điều kiện và tiến hành các thủ tục xuất cảnh cho
lao động Việt Nam ra nước ngoài; hoặc nhập cảnh cho lao động Việt Nam khi
về nước; vấn đề xác định trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự của lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong những trường hợp có liên quan
đến nghĩa vụ tài sản, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự…Với việc thu hẹp
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tác giả mong muốn sẽ giải quyết được
tương đối cụ thể những vấn đề được đưa vào nghiên cứu trong luận văn dưới
các góc độ lý luận, thực tiễn thi hành, cũng như đề xuất được những kiến nghị
khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam khi điều chỉnh
những vấn đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin với phương pháp duy vật biện chứng để giải quyết các
vấn đề về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đồng thời, sử dụng
kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu như: tổng hợp, phân tích,
thống kê, khảo sát và phỏng vấn …
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thi hành đối với thị trường Hàn
Quốc” có ý nghĩa trên hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, trong phạm vi nghiên cứu đã được xác định, tác giả đi
sâu vào việc nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Về mặt thực tiễn, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các cơ quan
lập pháp có thêm tư liệu tham khảo để phục vụ cho công tác hoàn thiện pháp
7
luật. Đồng thời, đề tài cũng phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của những
sinh viên luật quan tâm đến vấn đề này trong quá trình được đào tạo tại
trường Đại học Luật Hà Nội và các trường đại học thuộc chuyên ngành luật
học cũng như những chuyên ngành khác có liên quan. Đồng thời nâng cao
hiệu quả hoạt động của công tác này đặc biệt là đối với thị trường Hàn Quốc.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và sự điều chỉnh của pháp luật Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về việc đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực
tiễn thi hành đối với thị trường Hàn Quốc.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu
quả thi hành pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng đối với thị trường Hàn Quốc.
8
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG
VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG VÀ
SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT
1.1.
Khái quát chung về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
1.1.1.
Khái niệm và tầm quan trọng của hoạt động đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Vấn đề “Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”
những năm trước được thực hiện dưới hình thức “Hợp tác quốc tế về lao
động”, đến đầu những năm chín mươi thì hoạt động này được sử dụng bằng
thuật ngữ “Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài” và trong những năm gần đây thì sử dụng thuật ngữ “Xuất khẩu lao động”
để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Thuật ngữ “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” được sử
dụng chính thức lần đầu tiên trong Nghị định số 270/HĐBT ngày 09/11/1991,
ban hành quy chế về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài. Đây cũng là văn bản pháp luật quan trọng đánh dấu sự chuyển
đổi cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật trong lĩnh vực này. Sau đó, Bộ luật lao
động năm 1994 được ban hành đã sử dụng thuật ngữ “Đưa người lao động đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài” và được sử dụng phổ biến trong các văn
bản pháp luật của nhà nước ta từ những năm 1990. Khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường, sức lao động được coi là một thứ hàng hóa đặc biệt, không chỉ
được tự do thuê mướn ở trong nước mà còn có thể chuyển dịch ra nước ngoài
với mục đích kinh tế, nhằm thu ngoại tệ cho Việt Nam. Hiện nay, để quản lý
hoạt động này, ngày 29 tháng 11 năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụm từ “Xuất
khẩu lao động” đã chính thức được thay thế bằng “Đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Trong đạo luật này và các văn
9
bản hướng dẫn, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng được hiểu là hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan,
tổ chức nhằm đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc trên cơ sở
sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể. Kết quả của hoạt động này là
các quan hệ lao động được hình thành giữa các bên.
Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hiểu là
công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định
của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi
làm việc ở nước ngoài theo quy định. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
trong quan hệ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được
chủ yếu thỏa thuận trong ba loại hợp đồng như sau:
Hợp đồng cung ứng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh
nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về điều kiện,
nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa
thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động
về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài.
Hợp đồng cá nhân là sự thỏa thuận trực tiếp bằng văn bản giữa người
lao động với bên nước ngoài về việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người lao động
và người sử dụng lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
lao động.
Như vậy, hoạt động đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo HĐ là
một quy trình khép kín bao gồm nhiều giai đoạn, với nhiều chủ thể khác nhau
tham gia và chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Các
chủ thể tham gia quy trình này bao gồm: Doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐVN
đi làm việc ở nước ngoài; NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài; NSDLĐ nước
10
ngoài có nhu cầu tiếp nhận lao động. Theo đó, hoạt động đưa NLĐ đi làm
việc ở nước ngoài bao gồm các nội dung chủ yếu là như ký kết các hợp đồng
liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển chọn lao
động; dạy nghề, ngoại ngữ cho NLĐ, tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết
cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện hợp đồng
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện các chế độ, chính sách
đối với NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp,
tổ chức sự nghiệp và NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; các hoạt động khác của
tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
1.1.2.
Đặc điểm của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng
Hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài làm việc là hoạt động
mang tính xã hội. Hoạt động đưa NLĐVN ra nước ngoài làm việc đã góp
phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dư thừa trong xã hội, góp
phần tạo công ăn việc làm và mang lại thu nhập cho một bộ phận không nhỏ
của xã hội, giải quyết vấn đề việc làm mà nhà nước đang cần quan tâm. Bên
cạnh đó, việc đưa NLĐVN ra nước ngoài làm việc còn góp phần thúc đẩy chi
tiêu của Chính phủ cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Người lao
động ra nước ngoài làm việc muốn được doanh nghiệp nước sở tại tiếp nhận
thì họ phải có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định theo yêu
cầu của chủ sử dụng lao động. Do vậy, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật
chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác để đảm bảo cho việc đào tạo
NLĐ. Việc đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc cũng tạo điều kiện cho việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Khi đi làm việc ở nước noài, NLĐ được trang
bị một khối lượng kiến thức học vấn và ngoại ngữ cơ bản. Khi được làm việc
trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, trình
độ tay nghề và kỹ năng nghề nghiệp của họ ngày càng được nâng cao. Sau
một thời gian làm việc ở nước ngoài, trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật, phong
11
cách làm việc, trình độ ngoại ngữ và vốn hiểu biết của NLĐ được nâng cao
vượt bậc. Như vậy có thể thấy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này
phải kết hợp với các chính sách xã hội của nhà nước để đảm bảo các chế độ
cho người lao động cũng như giải quyết được những vấn đề của xã hội.
Hoạt động đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động
mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân người lao động, doanh nghiệp đưa đi và
nhà nước cũng như nền kinh tế Việt Nam nói chung. Sáng ngày18/06/2018,
tại Hà Nội, Tổng LĐLĐVN phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
Quỹ Châu Á (TAF) tổ chức Hội thảo tham vấn chính sách “Vai trò của tổ
chức công đoàn trong việc hướng tới tuyển dụng công bằng và việc làm bền
vững đối với NLĐ đi làm việc ở nước ngoài”. Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN
Trần Văn Lý dự và phát biểu tại hội thảo cho biết, ngoài việc mang lại thu
nhập cho bản thân và gia đình, NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng còn có đóng góp cho phát triển kinh tế ở cả quốc gia tiếp nhận cũng như
tại Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 500.000 người đang làm việc tại
nước ngoài theo hợp đồng. Riêng năm 2017, đã có khoảng 134.000 người đi
làm việc ở nước ngoài. Bình quân mỗi năm, NLĐVN đi làm việc ở nước
ngoài gửi về VN xấp xỉ 3 tỉ USD1. Về phía người lao động, việc ra nước
ngoài làm việc góp phần làm tăng thu nhập của bản thân người lao động và
gia đình họ. Khi ra nước ngoài làm việc, người lao động thường có thu nhập
cao hơn so với làm việc trong nước thông thường và từ đó họ có khoản tiền
tích lũy dài hạn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của mình. Về phía đa số
doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đây là một hoạt
động kinh doanh thuần túy, do đó, mục tiêu của họ là hướng tới các khoản lợi
nhuận thu được thông qua hoạt động này. Đối với nhà nước, việc cho phép
đưa người lao động ra nước ngoài làm việc tạo điều kiện để chúng ta tận dụng
Minh Bùi (2018) “Mỗi năm, người lao động Việt Nam tại nước ngoài gửi về
3 tỉ USD”, www.laodong.vn, ngày 18/06/2018.
1
12
nguồn nhân lực làm tăng thu nhập quốc gia. Ở nhiều nước trên thế giới, đưa
người lao động ra làm việc ở nước ngoài là một trong những giải pháp quan
trọng nhằm giải quyết việc làm cho lực lượng lao động đang gia tăng tại quốc
gia đó, thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các
lợi ích khác. Tuy nhiên, việc quản lý và thực thi pháp luật luôn luôn phải bám sát
đặc điểm này để mục tiêu kinh tế luôn là mục tiêu trọng tâm của các chính sách
pháp luật về hoạt động này.
Hoạt động đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài phải đảm bảo
được lợi ích của cả 3 bên: Nhà nước – NLĐ – Doanh nghiệp đưa đi. Trong
hoạt động này, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà NLĐ ở
nước ngoài gửi về, là khoản thu từ thuế thu nhập của họ. Lợi ích của tổ chức,
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này là các khoản thu từ các loại phí
dịch vụ. Còn lợi ích của NLĐ là có công ăn việc làm, thu nhập chắc chắn sẽ
cao hơn nhiều so với ở trong nước. Xuất phát từ lợi ích, các doanh nghiệp rất
dễ vi phạm quy định của Nhà nước trong việc thu các loại phí dịch vụ, đóng
thêm các khoản tiền ngoài quy định của pháp luật. Ngược lại, vì chạy theo lợi
ích, mong muốn nhanh chóng thu hồi những khoản chi phí đã bỏ ra để được
đi làm việc ở nước ngoài, nhiều NLĐ đã vi phạm hợp đồng (như bỏ trốn ra
ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm pháp luật nước sở tại…). Do đó, các
chế độ, chính sách pháp luật về đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài khi ban
hành phải được xem xét trên mọi khía cạnh, phải được tính toán sao cho đảm
bảo sự hài hòa lợi ích của các bên, đặc biệt quan tâm tới lợi ích của NLĐ.
Hoạt động đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc chịu sự điều chỉnh của
nhiều loại quy phạm pháp luật. Đây cũng là một loại quan hệ phát sinh trong
lĩnh vực lao động, vì vậy nó được pháp luật lao động điều chỉnh một cách
thống nhất. Bên cạnh đó, hoạt động này còn chịu sự điều chỉnh của luật dân
sự (về hợp đồng, bảo lãnh, tiền ký quỹ, thỏa thuận giữa các bên…), luật hành
chính (về vấn đề xuất nhập cảnh, xử lý vi phạm hành chính), luật hình sự ( đối
với các vi phạm hình sự), luật tố tụng dân sự (đối với các vấn đề giải quyết
13
tranh chấp)…Quan hệ này còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật
quốc tế như các Hiệp định ký kết giữa Chính phủ với các nước, các quy phạm
pháp luật quốc gia mà NLĐ đến làm việc. Đôi khi, không tránh khỏi tình
trạng xung đột pháp luật. Vì vậy, trong quá trình xây dựng các chính sách,
pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài cần có
sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật trong nước với nhau và giữa pháp
luật trong nước với pháp luật và thông lệ quốc tế.
1.2.
Pháp luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng.
1.2.1. Pháp luật đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng.
Xuất phát từ tính chất phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động đưa
NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có thể thấy rõ sự cần thiết
phải điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này. Trường hợp Việt
Nam và quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam đã có những hiệp định tương
trợ tư pháp quy định chi tiết, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của ba bên (NLĐ,
bên đưa đi, bên tiếp nhận) trong quá trình tìm kiếm – đưa lao động đi làm việc
– tiếp nhận lao động – thanh lý hợp đồng thì luật Việt Nam chỉ đưa ra những
vấn đề chung về nguyên tắc áp dụng pháp luật quốc tế và việc thanh tra, xử lý
vi phạm đối với những trường hợp vi phạm các cam kết giữa hai Chính phủ.
Trong trường hợp chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp giữa hai quốc gia,
hoặc nếu đã có Hiệp định tương trợ tư pháp nhưng Hiệp định đó quy định
chưa cụ thể thì cần có sự xác định rõ ràng phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều
chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam và pháp luật lao động nước tiếp nhận lao
động. Trên cơ sở đó xây dựng các quy phạm pháp luật tương ứng, cũng như hạn
chế tình trạng xung đột pháp luật khi điều chỉnh một số vấn đề cụ thể phát sinh
từ hoạt động này.
Thông thường, những vấn đề phát sinh trong giai đoạn tìm kiếm lao
động – giáo dục định hướng và chuẩn bị đưa NLĐ xuất cảnh khỏi Việt Nam
14
(gọi chung là giai đoạn trước khi xuất cảnh khỏi Việt Nam) và giai đoạn thanh
lý hợp đồng đưa NLĐ trở về Việt Nam (tạm gọi là giai đoạn nhập cảnh vào
Việt Nam) sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, với đối
tượng điều chỉnh là quan hệ giữa bên đưa đi với NLĐ và quan hệ giữa bên
đưa đi với bên tiếp nhận ở nước ngoài.
Như vậy, quan hệ giữa NLĐ và bên tiếp nhận sau khi NLĐ đã sang đến
nước ngoài sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Tuy
nhiên, do HĐLĐ ký giữa NLĐ và bên tiếp nhận ngoài việc phải phù hợp với
pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động thì những vấn đề cơ bản của
HĐLĐ này cũng phải phù hợp với những thỏa thuận đã đạt được trong hai
hợp đồng trước đó là hợp đồng cung ứng lao động và hợp đồng đưa NLĐ đi
làm việc ở nước ngoài. Do đó, ở một mức độ nhất định, tuy không trực tiếp
điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ và bên tiếp nhận, cũng như không
được sử dụng là cở sở pháp lý nếu phát sinh tranh chấp giữa hai bên này,
nhưng những quy định có tính chất định khung của pháp luật lao động Việt
Nam về vấn đề đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn sẽ được
đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
Tóm lại, pháp luật lao động về đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài
chỉ điều chỉnh hoạt động của các DN, tổ chức Việt Nam đưa NLĐ đi làm việc
ở nước ngoài và NLĐVN đối với các vấn đề về lao động và giải quyết tranh
chấp (nếu có) trước khi NLĐ ra nước ngoài làm việc và sau khi NLĐ về
nước. Những vấn đề này bao gồm điều kiện gia nhập thị trường, hoạt động
tìm kiếm thị trường, tuyển dụng lao động của bên đưa đi, trách nhiệm trong
việc giáo dục định hướng cho NLĐVN để đáp ứng yêu cầu của bên nước
ngoài tiếp nhận lao động, quyền và nghĩa vụ của hai bên trong việc ký kết,
thực hiện và thanh lý hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, việc xử lý
vi phạm và việc giải quyết tranh chấp giữa hai bên (nếu có). Ngoài ra, có thể
điều chỉnh một phần quan hệ hợp đồng cung ứng lao động sao cho phù hợp
với những nguyên tắc của pháp luật Việt Nam trong trường hợp không có
15
Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa hai bên. Còn mối quan hệ giữa
NLĐVN với bên nước ngoài tiếp nhận lao động diễn ra ở nước ngoài và hoàn
toàn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài hoặc các Điều ước quốc tế
ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với các quốc gia tiếp nhận lao động. Những
vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực này như: Thành lập của các doanh nghiệp
đưa lao động đi nước ngoài, tiến hành các thủ tục để NLĐ xuất cảnh, nhập
cảnh, việc xử lý vi phạm hình sự đối với các chủ thể vi phạm pháp luật trong
quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài…sẽ không được pháp luật Việt
Nam (pháp luật lao động) về đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài trực tiếp
điều chỉnh.
1.2.2. Những nội dung cơ bản cần được điều chỉnh bởi pháp luật trong
hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng.
Trên cơ sở việc xác định và phân biệt tương đối rõ nét về phạm vi và
đối tượng điều chỉnh của pháp luật về đưa NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng lao động như đã nêu ở trên, có thể thấy trong lĩnh vực này,
pháp luật cần điều chỉnh những vấn đề như sau: (i) Các hình thức đưa NLĐ
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (ii) Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức,
doanh nghiệp đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, (iii) Quyền và
nghĩa vụ của NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (iv) Vấn đề thanh tra và
xử lý vi phạm pháp luật Việt Nam về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài, (v) Vấn đề giải quyết tranh chấp trong hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài khi liên quan đến các vấn đề (i) (ii) (iii). Pháp luật về đưa
người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng cần có những
nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các hình thức đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng và thủ tục tiến hành các hình thức đó. Để xác định giới hạn
điều chỉnh của pháp luật về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng và bao quát được các hình thức đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở
16
nước ngoài theo hợp đồng mà pháp luật lao động cần điều chỉnh, phải xác
định rõ các hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong
mỗi hình thức phải xác định chủ thể tham gia và địa vị pháp lý các chủ thể
này (bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp nào được đưa lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài, người lao động được đi làm việc ở nước ngoài), điều
kiện tiến hành đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, các loại hợp đồng làm căn
cứ pháp lý phát sinh quan hệ giữa các bên và trình tự, thủ tục tiến hành để đưa
NLĐ đi theo hình thức đó.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của chủ thể đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài. Trong các quan hệ pháp luật lao động nói chung và quan hệ đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng, mặc dù pháp luật đã quy
định quyền bình đẳng của các chủ thể, song trên thực tế, người lao động vẫn
luôn ở vị thế yếu hơn, bất lợi hơn khi tham gia quan hệ. Do vậy việc quy định
các quyền và nghĩa vụ của tổ chức, doanh nghiệp đưa NLĐ Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài, nhất là xác định các nghĩa vụ đối với NLĐ, sẽ tạo ra cơ sở
pháp lý để doanh nghiệp đưa đi tiến hành hoạt động đưa NLĐ Việt Nam ra
nước ngoài làm việc, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp đưa đi đồng thời
ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp với NLĐ trong toàn bộ quá trình
thực hiện hợp đồng, kể cả các nghĩa vụ đối với NLĐ trong quá trình NLĐ làm
việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước
ngoài mang tính chất và đặc điểm khác nhau nên phải quy định các quyền và
nghĩa vụ tương ứng của doanh nghiệp đưa đi cho phù hợp.
Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng. Người lao động Việt Nam khi làm việc ở nước ngoài
phải hoàn toàn tuân theo các quy định của pháp luật nước sở tại. Mối quan hệ
giữa NLĐ Việt Nam với bên sử dụng lao động nước ngoài cũng do pháp luật
nước ngoài điều chỉnh. Bởi vậy, các quy định của pháp luật Việt Nam về
quyền và nghĩa vụ của NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa NLĐ với các cơ quan, tổ chức, doanh
17
nghiệp, cá nhân của Việt Nam có liên quan đến quan hệ này. Bên cạnh các
quyền và nghĩa vụ chung của NLĐ cũng cần có những quy định đối với NLĐ
tham gia từng hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài cho phù hợp với
tình chất và đặc điểm của mỗi hình thức.
Thứ tư, vấn đề xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam
trong quá trình đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Việc xử lý vi
phạm trong hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có ý
nghĩa quan trọng nhằm loại bỏ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này, bảo vệ
quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, NLĐ và của nhà nước. Do vậy, cần
có đầy đủ các văn bản pháp luật quy định về việc xử lý vi phạm, các văn bản
này phải có tính đồng bộ và đảm bảo:
(i) Dự liệu tương đối đầy đủ, chặt chẽ các vi phạm có thể xảy ra và
phân loại vi phạm pháp luật tùy thuộc tính chất và mức độ của hành vi để áp
dụng trách nhiệm pháp lý phù hợp với chủ thể của từng loại vi phạm: Vi
phạm hành chính, vi phạm hình sự, vi phạm dân sự,…
(ii) Quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc, không chỉ có tác dụng trừng
phạt chủ thể vi phạm mà còn phải đủ mạnh để ngăn ngừa chủ thể tiếp tục vi
phạm và răn đe các chủ thể khác.
Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam
ra nước ngoài làm việc. Các tranh chấp trong lĩnh vực này có thể phát sinh
giữa doanh nghiệp đưa đi và NLĐ, doanh nghiệp tiếp nhận và NLĐ hoặc giữa
các bên ở bất kì giai đoạn nào của quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước
ngoài. Tuy nhiên, trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam thì chỉ
giải quyết các tranh chấp giữa doanh nghiệp đưa đi và NLĐ (trừ trường hợp
điều ước quốc tế có những quy định khác) bởi tranh chấp trong quan hệ lao
động giữa doanh nghiệp tiếp nhận và NLĐ được điều chỉnh bởi pháp luật
nước tiếp nhận lao động. Các quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh
chấp cần xác định rõ các vấn đề sau đây để làm cơ sở cho việc giải quyết
tranh chấp giữa các bên:
18
(i)
Các nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp;
(ii)
Các dạng tranh chấp và phân loại tranh chấp, trên cơ sở đó quy
định thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết tranh chấp.
(iii)
Cơ chế giải quyết tranh chấp như cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp, trình tực thủ tục giải quyết,…
Các quy định này phải phù hợp với quy định khác của hệ thống pháp
luật như Bộ luật tố tụng dân sự, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia.
1.3.
Một số tiêu chuẩn quốc tế có liên quan và kinh nghiệm một số quốc
gia về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
1.3.1. Một số tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.
Một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia phải đối mặt
trong quá trình toàn cầu hóa đó là vấn đề di trú vì việc làm, kèm theo đó là
việc bảo vệ quyền của NLĐ di trú. Tình trạng di trú vì việc làm góp phần làm
năng động hóa các hoạt động kinh tế của thế giới, tuy nhiên nó cũng tạo ra
những vấn đề nghiêm trọng mà những người lao động di trú khắp nơi trên thế
giới đã và đang phải đối mặt, đó là bị phân biệt đối xử, bị quên lãng và xâm
phạm các quyền con người cơ bản. Đây là một sự bất công có tầm vóc toàn
cầu, bởi lao động di trú cũng là những con người và do đó cũng phải được
hưởng các quyền cơ bản của con người; và bởi lao động di trú đã và đang có
những đóng góp to lớn và không thể phủ nhận với nền kinh tế và sự thịnh
vượng xã hội của cả nước tiếp nhận và nước gốc.
Để bảo vệ quyền của NLĐ di trú, Liên hợp quốc và Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) đã ban hành nhiều điều ước và văn kiện: Công ước quốc tế về
bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia
đình họ, 1990;Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm
người khác, 1949; Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị
việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung công ước về
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của liên hợp quốc; Công ước số 29