1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyền máu là một liệu pháp điều trị hỗ trợ rất quan trọng trong điều trị
ngoại khoa, hầu hết bệnh nhân chấn thương đều có chảy máu và mất máu, do
vậy truyền máu đã góp phần điều trị hiệu quả và cứu sống được nhiều bệnh
nhân chấn thương.
Một trong những cấp cứu hay gặp trong ngoại khoa là chấn thương, chấn
thương là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong. Tại Mỹ, chấn thương
đứng thứ 3 trong số các nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân hàng đầu
gây tử vong ở bệnh nhân thuộc lứa tuổi từ 1 đến 44. Tại Việt Nam, mỗi năm
có hơn 10.000 ca tử vong do chấn thương và chiếm vào khoảng 10,9% trong
số các trường hợp bệnh nhân tử vong. Các ca tử vong do chấn thương xếp thứ
ba trong tổng số các ca tử vong, chỉ đứng sau bệnh tim mạch (18%) và bệnh
truyền nhiễm (15%).
Tử vong do chấn thương có thể xảy ra ở 3 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất
là trong vòng vài giây đến vài phút sau chấn thương: có khoảng 50% bệnh
nhân tử vong ở giai đoạn này, thường là tử vong do chấn thương não nặng,
tổn thương tủy nặng, vỡ tim, vỡ động mạch chủ hoặc mạch máu lớn, những
bệnh nhân gặp ở giai đoạn này thường rất khó phòng ngừa và được cứu sống.
Giai đoạn thứ 2 là trong vòng vài phút đến vài giờ sau chấn thương: khoảng
30% tử vong ở giai đoạn này, thường do mất máu. Một số trường hợp tử vong
ở giai đoạn này có thể tránh khỏi gặp ở các trường hợp bệnh nhân chấn
thương là những người trẻ và khỏe mạnh trước đó. Do vậy chỉ định truyền
máu hợp lý: truyền đúng, đủ, cần gì truyền nấy, truyền đúng thời điểm cho
bệnh nhân, kết hợp với giải quyết nguyên nhân có thể cứu sống nhiều bệnh
nhân ở giai đoạn này.
Bệnh viện Việt Đức là bệnh viện ngoại khoa tuyến trung ương, hàng năm
thực hiện tới 38.000 ca mổ lớn và trung bình, đã sử dụng tới trên 31.000 đơn
2
vị máu và chế phẩm cho cấp cứu và điều trị, nhu cầu về máu rất lớn và ngày
càng tăng, trong đó bệnh nhân chấn thương chiếm tỷ lệ lớn trong việc sử dụng
máu và chế phẩm.
Đã có một số tác giả nghiên cứu về tình hình sử dụng máu và chế phẩm
máu tại Viện Huyết học - Truyền máu trung ương, bệnh viện Bạch Mai... Tại
bệnh viện Việt Đức, rất cần có bức tranh tổng thể về tình hình sử dụng máu,
làm cơ sở cho việc tính toán nhu cầu máu và các chế phẩm máu được sử dụng
hàng năm tại bệnh viện Việt Đức, đặc biệt là việc sử dụng máu và chế phẩm
cho bệnh nhân chấn thương, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
tình hình sử dụng máu, chế phẩm máu tại bệnh viện Việt Đức 2015-2016”
với 2 mục tiêu:
1.
Mô tả tình hình sử dụng máu, chế phẩm máu tại bệnh viện Việt
Đức từ tháng 7/2015 đến 6/2016.
2.
Đánh giá việc chỉ định sử dụng máu và chế phẩm máu ở bệnh
nhân chấn thương tại bệnh viện Việt Đức từ 1/2016 - 6/2016.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử truyền máu trên thế giới và tại Việt Nam
Lịch sử phát triển truyền máu trên thế giới
Năm 1628, tác giả William Harvey (Anh) đã phát hiện ra bộ máy tuần
hoàn của cơ thể con người, nhờ vậy có thể lấy máu ra khỏi cơ thể và cũng có
thể đưa máu vào hệ tuần hoàn qua hệ thống mạch máu [1].
Sang thế kỷ XIX: Năm 1818, tác giả Blundell đã thực hiện thành công
khi truyền máu từ người sang người. Tác giả này đã truyền máu của người
cho cho 10 người khác bằng bơm kim tiêm, có năm người sống và năm
người người tử vong. Qua nghiên cứu trên ông đã rút ra kết luận, truyền máu
của động vật cho người là không được, truyền máu của người cho người thì
có kết quả ở một số bệnh nhân, kết quả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có yếu tố kỹ thuật, máu đông, bơm tiêm truyền máu và sự khác nhau giữa
các cá thể... Đây là kết luận rất quan trọng và là tiền đề cho những nghiên
cứu tiếp theo [1].
Năm 1901, nhà bác học vĩ đại Karl Landsteiner đã phát minh ra hệ nhóm
máu ABO và các đặc tính của nó, một năm sau, hai học trò của ông là
Decastello và Sturly đã lặp lại các thí nghiệm trên và đã phát hiện thêm nhóm
máu AB. Sự phát minh ra hệ nhóm máu ABO của Karl Landsteiner là một
công trình khoa học có giá trị nhất, lợi ích nhất và đã mở ra cho ngành truyền
máu một kỷ nguyên mới [1],[2].
Năm 1913, tác giả Reuben Otenberg (1882-1959) đã cho rằng vấn đề xét
nghiệm nhóm máu trước khi truyền máu là hết sức cần thiết và đã đưa ra một
sơ đồ truyền máu mang tên ông [1], [2].
4
Sơ đồ 1.1. Truyền máu phù hợp hệ nhóm máu ABO của Otenberg
Việc xác định nhóm máu và truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO
giữa người cho và người nhận trước truyền máu theo sơ đồ của Otenberg đã
giúp người bệnh được truyền máu an toàn và hiệu quả hơn [1],[2],[3],[4],[5].
Năm 1940, nhà bác học Karl Landsteiner và Wiener phát hiện ra nhóm
máu Rh, việc phát hiện ra nhóm máu hệ Rh đã giúp giải thích được những
trường hợp bệnh nhân mà đã có sự phù hợp nhóm máu hệ ABO với người cho
nhưng vẫn xảy ra tai biến truyền máu, đồng thời cũng đã lý giải được nguyên
nhân gây bệnh vàng da, tan máu ở trẻ sơ sinh là do bất đồng nhóm máu hệ Rh
giữa mẹ và thai nhi. Trong thực hành truyền máu hệ nhóm máu Rh có vai trò
quan trọng thứ hai, chỉ đứng sau hệ nhóm máu ABO [1],[2],[3],[4],[5].
Tiếp sau đó nhiều hệ nhóm máu khác đã được phát hiện như Kell, Kidd,
Duffy… cho đến năm 2015, Hội Truyền máu quốc tế (International Society of
Blood Trasfusion: ISBT) đã chính thức công nhận có 36 hệ nhóm máu hồng
cầu với 339 kháng nguyên nhóm máu khác nhau [6],[7],[8],[9],[10].
Năm 1911, tác giả Lewisonin (Bỉ) đã sử dụng natri citrat để làm máu
không đông khi được lấy ra ngoài cơ thể, nhờ vậy đã chấm dứt được việc
truyền máu trực tiếp từ người sang người. Các chất chống đông, nuôi dưỡng và
bảo quản máu ngày càng được cải tiến với mục đích bảo quản máu được với
5
thời gian lâu hơn và hồng cầu được nuôi dưỡng tốt nhất trong thời gian bảo
quản: Tác giả Loutit và Mollison (1943) đã phát minh ra dung dịch ACD (acide
citrate dextrose) giúp thu gom một đơn vị máu có thể tích lớn hơn và máu bảo
quản được 21 ngày ở nhiệt độ 2-6oC; Năm 1970, dung dịch ACD được thay thế
bằng dung dịch CPD (citrate phosphat dextrose) giúp bảo quản máu dài ngày
hơn; Năm 1979, dung dịch chống đông CPD được bổ sung thêm adenin (citrate
phosphat dextrose adenine: CPD-A1) nâng thời gian bảo quản khối hồng cầu
tới 42 ngày ở nhiệt độ 2-6oC. Mục tiêu của các nhà nghiên cứu là phải sản xuất
được một chất chống đông ưu việt nhất, vừa có khả năng chống đông máu, vừa
có tác dụng nuôi dưỡng hồng cầu, tiểu cầu và giảm hao hụt năng lượng mà
chức năng của tế bào lại không thay đổi [1],[2],[3],[11],[12].
Bên cạnh việc phát hiện và không ngừng cải tiến chất chống đông, các
dụng cụ để lưu trữ máu cũng không ngừng được nghiên cứu đổi mới, từ chai
thủy tinh cho tới túi dẻo để lấy máu lưu trữ và sản xuất các chế phẩm máu:
Năm 1952, tác giả Walter và Murphy đã đề xuất thay chai thủy tinh bằng túi
nhựa polyvinyl, đồng thời tác giả đã mô tả kỹ thuật lấy máu trong hệ thống
kín vào túi nhựa polyvinyl. Cùng năm đó tác giả Gibson và cộng sự đã chứng
minh túi dẻo plastics tốt hơn, dễ dàng tách huyết tương sau khi để lắng hoặc
ly tâm và còn có thể bảo quản đông lạnh, quá trình lấy máu được thực hiện
trong một hệ thống kín, đảm bảo vô trùng. Thành công chuyển từ chai thủy
tinh sang túi nhựa đã góp phần thúc đẩy phát triển việc thu gom, bảo quản,
sản xuất các chế phẩm máu, thúc đẩy việc sử dụng máu từng phần thay thế
cho việc sử dụng máu toàn phần ở các bệnh viện, góp phần nâng cao hiệu quả
điều trị và thực hiện truyền máu an toàn cho người bệnh [1],[2],[3].
Năm 1936-1939, ngân hàng máu đầu tiên đã được xây dựng tại bệnh
viện Chicago, Mỹ. Cùng năm đó, tại Nga cũng thành lập ngân hàng máu.
Trong giai đoạn này, nhu cầu truyền máu cho người bệnh ngày càng tăng,
6
nhưng nguồn người cho máu lại hạn chế [2],[3],[6]. Năm 1935, các nhà
truyền máu đã thành lập Hội truyền máu quốc tế (ISBT) với mục đích đẩy
mạnh các nghiên cứu về truyền máu, cập nhật và phổ biến các nguyên tắc,
quy định tốt nhất về khoa học truyền máu, cũng như xây dựng chiến lược
tuyên truyền vận động hiến máu để đảm bảo có đủ nguồn người hiến máu,
cung cấp đủ máu, chế phẩm an toàn cho nhu cầu điều trị tại các trung tâm
truyền máu trên thế giới [2],[3],[6].
Với các thành tựu về sự phát hiện ra các hệ thống nhóm máu, các kháng
nguyên hồng cầu, kháng nguyên bạch cầu, các chất chống đông máu để bảo
quản máu, sản xuất các chế phẩm máu và tập trung các ngân hàng máu… mà
lĩnh vực truyền máu ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần bảo đảm an
toàn và thực hiện truyền máu hiệu quả hơn cho người bệnh [1],[2],[3],[13].
Lịch sử phát triển truyền máu tại Việt Nam
Trước năm 1954, trung tâm truyền máu thuộc quyền quản lý của quân
đội Pháp. Hòa bình lập lại (năm 1954), trung tâm truyền máu đầu tiên của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thành lập tại bệnh viện Trung ương
quân đội 108. Năm 1956, bệnh viện Việt Đức thành lập Khoa “Lấy máu và
Truyền máu”. năm 1970 tại bệnh viện Bạch Mai, giáo sư Bạch Quốc Tuyên đã
thành lập “Khoa Lấy máu”. Truyền máu ở nước ta giai đoạn này chủ yếu là
phục vụ cho chiến tranh, cho quân đội, truyền máu toàn phần là chủ yếu, lấy
máu vào chai thủy tinh và truyền máu trong ngày, chưa có phương tiện để bảo
quản máu dài ngày và chưa triển khai điều chế các thành phần máu [1],[2].
Từ năm 1975 - 1992: Nhu cầu máu gia tăng, nguồn máu thu được chủ
yếu là từ người bán máu (trên 90%). Thu gom máu được lấy vào chai với quy
trình hở, an toàn truyền máu về mặt miễn dịch chủ yếu mới thực hiện định
nhóm máu hệ ABO và làm phản ứng chéo ở phòng xét nghiệm để tìm đơn vị
7
máu tương đồng. Các bệnh lây truyền qua đường truyền máu chỉ mới sàng lọc
được tác nhân gây bệnh sốt rét và giang mai, chỉ có một vài cơ sở triển khai
sàng lọc được HBsAg cho người hiến máu. Truyền máu được thực hiện ở hầu
hết ở các bệnh viện trung ương, các bệnh viện tỉnh và 100% trường hợp bệnh
nhân được truyền máu toàn phần, chưa có chương trình quốc gia về an toàn
truyền máu [1],[2].
Từ năm 1993-2005: Truyền máu Việt Nam đã phát triển toàn diện theo
xu hướng phát triển hiện đại của truyền máu trong khu vực và thế giới. Phong
trào vận động cho máu tình nguyện trên quy mô toàn quốc đã bắt đầu được
khởi động từ ngày 24/1/1994. Đổi mới các trang bị thu gom và bảo quản máu:
Thay chai bằng túi chất dẻo, thay giường bằng ghế lấy máu, tủ lạnh bảo quản
máu và quầy lạnh bảo quản huyết tương. Sàng lọc đủ 5 bệnh nhiễm trùng theo
yêu cầu của Tổ chức y tế thế giới trên phạm vi toàn quốc: HIV, giang mai, sốt
rét, HBV, HCV [1],[2].
Sản xuất và chuẩn hoá các chế phẩm máu bao gồm: Khối hồng cầu
nghèo bạch cầu, khối tiểu cầu pool, khối tiểu cầu được tách từ một cá thể trên
hệ thống máy tự động, huyết tương tươi, huyết tương tươi đông lạnh, tủa lạnh
yếu tố VIII và khối bạch cầu hạt trung tính [1],[2].
Phát triển truyền máu lâm sàng: chỉ định và sử dụng hợp lý máu và cácsản phẩm máu. Truyền máu từng phần đã được thực hiện cho 100% bệnh
nhân được truyền máu và chế phẩm tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung
ương (HHTMTU) và các bệnh viện trực thuộc Trung tâm truyền máu Hà Nội.
Đây là một thay đổi lớn về nhận thức và thói quen truyền máu toàn phần của
các bác sỹ ở các bệnh viện. Truyền máu từng phần giúp tránh được những tác
dụng phụ của truyền máu toàn phần như phản ứng tan máu, sốt, dị ứng, tăng
sắt huyết thanh, các biến chứng chuyển hóa, nguy cơ lây truyền các bệnh
8
truyền nhiễm. Truyền máu từng phần là sử dụng hiệu quả nhất nguồn máu quý
giá, tránh lãng phí do một đơn vị máu có thể tách ra các thành phần máu khác
nhau và được truyền cho nhiều bệnh nhân [1],[5].
1.2. Thành phần và chức năng của máu
Máu là một tổ chức lỏng lẻo lưu thông trong hệ thống tuần hoàn, bao
gồm các thành phần tế bào và thành phần huyết tương [15].
1.2.1. Thành phần tế bào
Thành phần tế bào chiếm khoảng 40% thể tích máu toàn phần, gồm:
Hồng cầu với đời sống khoảng 120 ngày, hồng cầu là những tế bào có mức
độ biệt hóa rất cao (không có nhân, rất ít bào quan) và có hình thái đặc biệt để
tăng khả năng tiếp xúc giữa môi trường bên trong với bên ngoài của tế bào.
Hồng cầu có chứa huyết sắc tố và một hệ thống enzyme giúp cho quá trình
chuyển hóa mạnh mẽ để thực hiện nhiệm vụ rất đặc biệt là vận chuyển O2 và đào
thải khí CO2 [15].
Bạch cầu với chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân xâm nhập
bằng hình thức thực bào hoặc sinh kháng thể đặc hiệu. Bạch cầu có hệ thống
enzyme đầy đủ nhất trong các tế bào sống, biệt hóa cao độ thành nhiều loại
với chức năng riêng khác nhau [15].
Tiểu cầu: Tham gia vào cơ chế đông, cầm máu, ngoài ra còn có chức
năng tăng thấm mạch nhờ các chất có hoạt tính sinh lý của chúng [15].
1.2.2. Thành phần huyết tương
Gồm các protein, các yếu tố đông máu, globulin miễn dịch, đường, mỡ,
muối khoáng, các enzyme, nội tiết tố, các chất dinh dưỡng cho cơ thể tạo dịch
trung tính có tỉ trọng là 1,051 và pH từ 7,3-7,4 [15].
Máu rất cần thiết cho sự sống của cơ thể, khi mất máu trên 25% khối
lượng tuần hoàn, cơ thể bắt đầu có các rối loạn về chức năng của các cơ quan
9
quan trọng của cơ thể như tim mạch, hô hấp, thần kinh và tiết niệu...[15]. Khi
thay đổi các thành phần có trong huyết tương và pH có thể gây rối loạn hoạt
động chung của cơ thể [14], [15].
1.3. Đặc điểm của hệ nhóm máu ABO, Rh, các hệ nhóm máu khác
1.3.1. Hệ nhóm máu ABO:
Đây là hệ nhóm máu có ý nghĩa quan trọng nhất trong thực hành truyền
máu. Hệ nhóm máu ABO gồm có 4 kháng nguyên (KN) là A; B; AB và A1,
KN của hệ nhóm máu ABO thường được xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ
năm sau khi thụ thai. Gen mã hóa tổng hợp các KN nhóm máu hệ ABO là
ABO nằm trên nhiễm sắc thể (NST) số 9. Gen quy định tổng hợp lên kháng
nguyên của hệ nhóm máu này gồm 3 allen: A, B và O. Allen A và B có tác
dụng tổng hợp các enzyme đặc hiệu để gắn các gốc carbohydrat đặc trưng cho
từng nhóm máu vào chất cơ bản H. Nhóm A có nhiều dưới nhóm trong đó có
hai dưới nhóm chính là Al và A2 được xác định bằng kháng thể đặc hiệu antiAl. Kháng thể của hệ ABO là kháng thể tự nhiên. Kháng nguyên hệ ABO có
trên bề mặt hồng cầu và các tế bào khác trong cơ thể (bao gồm bạch cầu và
tiểu cầu cũng như trong các dịch cơ thể) [2],[4],[6],[7].
Bảng 1.1. Đặc điểm của hệ nhóm máu ABO
Kiểu gen
Kiểu hình
Kháng nguyên
Kháng thể tự nhiên
O
OO
O
Anti-A,anti-B
A
AA hoặc AO
A
Anti-B
B
BB hoặc BO
B
Anti-A
AB
AB
AB
Không có
1.3.2. Hệ nhóm máu Rh
10
Hệ nhóm máu Rh có vai trò rất quan trọng trong thực hành truyền máu,
chỉ đứng sau hệ nhóm máu ABO. Người ta đã phát hiện rất nhiều kháng
nguyên Rh: D, C, c, E, e… Kháng nguyên Rh có tính kháng nguyên cao nhất
là kháng nguyên D, phản ứng kháng nguyên - kháng thể xảy ra mạnh và gây
tan máu. Kháng thể chống D là kháng thể quan trọng nhất và có ý nghĩa trên
lâm sàng. Kháng thể của hệ Rh hầu hết là kháng thể miễn dịch, có bản chất
IgG, chúng có thể lọt qua hàng rào nhau thai. Kháng thể tự nhiên của hệ Rh
rất hiếm gặp. Kháng thể hệ Rh được sinh ra do quá trình miễn dịch ở những
người có nhóm máu Rh âm nhận máu Rh dương hoặc do bất đồng nhóm máu
Rh giữa mẹ và thai (mẹ có nhóm máu Rh âm, con có nhóm máu Rh dương)
gây tan máu vàng da ở trẻ sơ sinh. Vì vậy truyền máu khác nhóm Rh cho phụ
nữ chưa sinh đẻ có nhóm máu Rh âm sẽ có nguy cơ gây miễn dịch cho họ và
nguy hiểm cho thai nhi khi mang thai [2], [4], [5], [6], [7], [8], [16], [17].
1.3.3. Các hệ nhóm máu khác
Cho tới 2015 đã có tới 35 hệ nhóm máu được ISBT công nhận, đó là hệ
nhóm máu ABO, MNS, P1PK, Rh, Lutheran, Kidd, Kell, Lewis, Duffy,
Diego, Yt, Xg, Scienna, Dombrock, Colton,
Landsteiner- Wiener,
Chido/Rodgers, H, Kx, Gerbich, Cromer, Knops, Indian, Ok, Raph, John
Milton Hagen, I, Globoside, Gill, RhAG, Forssman, Jr, Lan, Vel, CD 59 [2],
[4], [5], [6], [7], [8], [16], [17], [18].
11
1.4. Các chế phẩm máu
Khối tiểu cầu
Huyết tương
giàu tiểu cầu
Máu toàn
phần
HTTDL
sử dụng cho BN
Khối hồng
cầu
HTT
HTTDL để SX
Tủa lạnh YT VIII
KHC được thêm dung
dịch nuôi dưỡng
Hình 1.1. Máu và chế phẩm máu [35]
Từ máu toàn phần bằng phương pháp ly tâm phân lớp, người ta có thể
sản xuất ra được nhiều chế phẩm của máu như khối hồng cầu (KHC), khối
tiểu cầu (KTC), khối bạch cầu (KBC) hạt, huyết tương tươi đông lạnh
(HTTĐL) và tủa lạnh yếu tố VIII… (Hình 1.1) [35].
1.4.1. Máu toàn phần
Là máu lấy từ tĩnh mạch của người cho máu khỏe mạnh, máu toàn
phần có đầy đủ các thành phần máu, nhưng hầu hết bạch cầu và tiểu cầu sẽ
mất chức năng chỉ sau vài ngày lưu trữ. Một đơn vị máu toàn phần có thể là
250 ml (trong đó gồm 200 ml máu và 50 ml dung dịch chống đông ACD,
CPD) có hematocrit từ 0,35 -0,44. Máu toàn phần được bảo quản ở 4oC (26oC) trong vòng 35 ngày [19].
12
1.4.2. Khối hồng cầu đậm đặc
Được điều chế từ máu toàn phần, là toàn bộ phần hồng cầu của đơn vị
máu toàn phần, sau khi được ly tâm phân lớp và phần huyết tương được tách
sang một túi dẻo mới. Mỗi đơn vị KHC có thể tích từ 150-200 ml, hematocrit
dưới 80% [19].
1.4.3. Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản
Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản là phần còn lại của máu toàn phần
đã loại bỏ huyết tương và còn rất ít bạch cầu, tiểu cầu sau khi được ly tâm
hoặc để lắng và có bổ sung dung dịch bảo quản hồng cầu nhằm cải thiện chất
lượng hồng cầu. Hematocrit khoảng 0.50-0.60 L/L[19].
1.4.4. Khối hồng cầu nghèo bạch cầu
Các khối hồng cầu được loại bỏ trên 70% bạch cầu, tiểu cầu bằng kĩ
thuật ly tâm (Còn dưới 8.108 BC/đơn vị), được bảo quản trong dung dịch
bảo quản hồng cầu [19].
1.4.5. Khối hồng cầu lọc bạch cầu
Khối hồng cầu loại bỏ trên 98% bạch cầu bằng bộ lọc bạch cầu (chỉ còn
1.108 BC/đơn vị) và được bảo quản trong dung dịch bảo quản hồng cầu [19].
1.4.6. Khối hồng cầu rửa
Là khối hồng cầu loại huyết tương bằng cách rửa nhiều lần với nước
muối 0,9%. Bảo quản ở 2-6oC trong 24 giờ [19].
1.4.7. Khối hồng cầu chiếu xạ gamma
Khối hồng cầu đã được tia xạ gamma với liều 2500 rad [19].
1.4.8. Huyết tương giàu tiểu cầu
Là huyết tương tách đơn giản từ máu toàn phần mới lấy, có các thành
phần: tiểu cầu và còn bạch cầu, các yếu tố huyết tương. Bảo quản ở 22 oC
13
trong 24 giờ, lắc liên tục [19].
1.4.9. Huyết tương tươi đông lạnh
Huyết tương tươi đông lạnh (HTTĐL) được điều chế từ máu toàn phần
tươi (trong vòng 6 giờ sau khi lấy máu). Lượng yếu tố đông máu V, VIII trong
huyết tương ở mức bình thường của người cho máu. Thể tích 250 ± 20 ml,
lượng yếu tố VII trên 0.7 IU, protein toàn phần trên 50 gram, lượng
hemoglobin dưới 0.05 g/l. Bảo quản ở nhiệt độ -30oC trong 2 năm [19].
1.4.10. Huyết tương tươi đông lạnh bỏ tủa
Là huyết tương còn lại sau lấy tủa VIII, fibrinogen. Thành phần gồm
yếu tố IX, protein, khoáng, một số yếu tố đông máu khác. Bảo quản 2 năm
ở dưới -30oC [19].
1.4.11. Khối tiểu cầu (KTC)
KTC đơn: được điều chế từ huyết tương giàu tiểu cầu sau khi loại bỏ
phần lớn hồng cầu, bạch cầu, huyết tương. Mỗi túi chứa ít nhất 5,5x10 9 trong
50-70 ml huyết tương.
KTC pool: Được điều chế từ 2-4 KTC đơn.
KTC máy: Được sản xuất từ một người cho trên hệ thống máy tách tiểu
cầu tự động và có số lượng tiểu cầu 30x1010 TC/ đơn vị [19].
1.4.12. Tủa lạnh yếu tố VIII
Là phần tủa của huyết tương tươi đông lạnh chứa nồng độ cao yếu tố
VIII, fibrinogen. Bảo quản trong 2 năm ở nhiệt độ -300C.
1.4.13. Khối bạch cầu hạt
Chế phẩm giàu bạch cầu hạt được tách từ nhiều đơn vị máu toàn phần.
Thể tích 250 ± 50 ml với số lượng bạch cầu hạt trung tính trên 0,6 x1010 BC.
Tốt nhất nên sử dụng các khối BC được gạn từ một người cho, như vậy sẽ an
toàn hơn về miễn dịch và có số lượng bạch cầu hạt cao hơn (trên
2x1010BC/đơn vị). Các đơn vị KBC được bảo quản dưới 12 giờ [19].
14
1.4.14. Albumin người (5% hoặc 20%) và Immunoglobulin
Albumin được chiết tách từ huyết tương người và được chỉ định như một
dung dịch bù thể tích hoặc cho các bệnh nhân có giảm nặng albumin máu như
trong bệnh xơ gan [19].
Immunoglobulin được sử dụng cho các bệnh nhân có giảm
immunoglobulin máu nặng để chống nhiễm virus hoặc vi khuẩn, hoặc trong
các bệnh giảm tiểu cầu miễn dịch, bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh
hoặc mắc phải (bệnh nhân ung thư, lơ xê mi, HIV/AIDS...) [1],[5].
1.5. Chỉ định truyền máu và chế phẩm máu
Theo tổ chức y tế thế giới: Sử dụng máu hợp lý, an toàn là chỉ định đúng
thành phần máu cho đúng người bệnh và vào thời điểm bệnh nhân cần truyền
máu, việc chỉ định sử dụng máu và các thành phần máu là do các bác sỹ lâm
sàng ra y lệnh (Hình 1.2) [1],[19].
Máu rất cần thiết trong điều trị và cứu sống người bệnh khi bệnh nhân
mất máu nhiều do chấn thương, bệnh lý sản khoa, nội khoa, phẫu thuật… và
khi triển khai các kỹ thuật y học hiện đại như ghép các cơ quan tổ chức, máu
cần thiết và quan trọng trong điều trị như vậy, tuy nhiên truyền máu cũng có
thể gây nên những tai biến nguy hiểm do truyền nhầm nhóm máu, lây nhiễm
các bệnh về máu do giai đoạn cửa sổ huyết thanh, các phản ứng trong, sau
truyền máu: dị ứng, miễn dịch. Sử dụng máu đúng theo chỉ định, không lạm
dụng truyền máu để tránh những hậu quả không mong muốn sau truyền, tránh
lãng phí nguồn máu quý hiếm và kinh tế của người bệnh [2],[20].
15
Hình 1.2.Truyền máu lâm sàng
Do vậy, để chỉ định truyền máu đúng, hợp lý, các bác sỹ điều trị cần
tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thực hiện theo Thông tư 26/2013TT-BYT được Bộ Y tế ban hành ngày
16 tháng 9 năm 2013 về “Hướng dẫn hoạt động truyền máu”.
- Đánh giá đúng, chính xác tình trạng thiếu máu của người bệnh để xem
xét về sự cần thiết truyền máu, thành phần máu và số lượng máu sẽ chỉ
định truyền [1], [19].
1.5.1. Thiếu máu
Là tình trạng giảm số lượng hồng cầu và nồng độ huyết sắc tố hoặc
giảm nồng độ huyết sắc tố lưu hành trong máu ngoại vi so với mức bình
thường của người cùng tuổi, cùng giới và cùng điều kiện sống [5], [22].
1.5.1.1. Biểu hiện lâm sàng thiếu máu phụ thuộc vào:
-
Bệnh chính gây thiếu máu
o Thiếu máu do sản xuất không đủ hồng cầu (suy tủy xương, thiếu
máu thiếu sắt...).
o Thiếu máu do tăng phá hủy hồng cầu: Tan máu cấp tính, mạn tính.
o Thiếu máu do mất máu: cấp tính (chảy máu do chấn thương, tai
biến sản khoa...), mạn tính (trĩ, đái máu...).
-Mức độ thiếu máu: Thiếu máu rất nặng, thiếu máu nặng, thiếu máu vừa,
16
thiếu máu nhẹ;
- Tốc độ thiếu máu: Thiếu máu cấp tính, thiếu máu mạn tính;
-Đặc điểm thể trạng (hệ tim mạch, hô hấp…) và tinh thần (dễ xúc
động…) của người bệnh, khả năng bù trừ của cơ thể [5], [20], [21].
1.5.1.2. Cận lâm sàng
Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (lượng huyết sắc tố, số
lượng hồng cầu…), hồng cầu lưới, xét nghiệm đông máu…[22].
1.5.2. Quy định của Thông tư 26/2013TT-BYT
Được Bộ Y tế ban hành vào ngày 16 tháng 9 năm 2013, yêu cầu [19]:
- Bác sỹ điều trị cần đánh giá tình trạng bệnh lý và phát hiện sớm nhu
cầu cần truyền máu của người bệnh.
- Bác sỹ điều trị phải chỉ định thực hiện các xét nghiệm cho người bệnh
có dự kiến cần truyền máu (Định nhóm máu hệ ABO…).
- Bác sỹ chỉ định truyền máu sau khi đã cân nhắc lợi ích, nguy cơ của
truyền máu đối với từng người bệnh.
- Bác sỹ phải thông báo lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra cho người bệnh,
người nhà người bệnh.
- Nguyên tắc truyền máu là truyền máu cùng nhóm hệ ABO, Rh. Trong
trường hợp truyền khác nhóm hệ ABO, bác sỹ có thể chỉ định: truyền thay
khối hồng cầu O cho người bệnh cần truyền khối hồng cầu có nhóm máu
khác và truyền huyết tương AB cho người bệnh cần truyền chế phẩm huyết
tương… [2], [19], [21].
1.5.3. Bảng kiểm 10 điều dành cho bác sỹ điều trị khi chỉ định truyền máu của
tổ chức Y tế thế giới, trong đó lưu ý một số nội dung sau [19], [20], [21]
-
Truyền máu có cải thiện tình trạng bệnh cho người bệnh không?
Có thể hạn chế thiếu máu ở người bệnh để hạn chế truyền máu được không?
Có phương pháp nào khác thay thế truyền máu (dịch truyền) không?
Giả thử là mình, gia đình mình thì quyết định truyền máu sẽ ra sao?
17
- Sau khi cân nhắc lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra do truyền máu đối
với người bệnh khi không có liệu pháp điều trị thay thế và liệu pháp điều
trị thay thế khác không hiệu quả, bác sỹ điều trị quyết định chỉ định truyền
máu cho người bệnh.
Vấn đề chỉ định truyền máu có một số hướng dẫn khác trên thế giới đã
được công bố như: Chiến lược truyền máu tối thiểu thay cho truyền máu tối
ưu cũng được quan tâm. Quyết định truyền máu căn cứ vào mức huyết sắc tố
tối ưu và tối thiểu. Mức tối ưu của huyết sắc tố là nồng độ HST có thể đảm
bảo chức năng hoạt động của các cơ quan là tối đa (100g/l), mức HST tối
thiểu là mức tại đó lưu lượng mạch vành không đủ để đáp ứng nhu cầu ôxy
của cơ tim, mức tối thiểu của HST- ngưỡng truyền. Ngưỡng truyền hạn chế là
truyền KHC khi nồng độ HST dưới 70g/l để duy trì lượng HST từ 70-90g/l so
với truyền tối ưu khi nồng độ HST dưới 100g/l để duy trì HST từ 100-120g/l.
Đến nay, ngưỡng giá trị hemoglobin và hematocrit để chỉ định truyền KHC
cho người bệnh còn có sự khác nhau giữa các Hiệp hội, các bệnh viện, thậm
chí giữa các khoa, phòng trong từng bệnh viện [22],[23],[24],[25],[26], [27],
[28].
1.5.4. Chỉ định truyền máu trên bệnh nhân chấn thương
1.5.4.1. Định nghĩa chấn thương, đa chấn thương
- Chấn thương là sự tổn thương của cơ thể khi bị tác động một cách đột
ngột hay cấp tính không thể chịu đựng được do ngoại lực [29].
- Đa chấn thương là chấn thương có từ hai hay nhiều tổn thương nặng trở
lên ở các vùng hoặc hệ thống các cơ quan khác nhau mà trong đó có ít nhất
một tổn thương đe dọa tới tính mạng của bệnh nhân [29].
1.5.4.2. Chỉ định truyền máu trên bệnh nhân chấn thương
A. Triệu chứng lâm sàng:
Biểu hiện lâm sàng [30]
- Da xanh, niêm mạc nhợt.
18
- Huyết áp tối đa dưới 90 mmHg.
- Mạch trên 100 lần/phút.
- Bệnh nhân có dấu hiệu sốc mất máu: Sốc mất máu là tình trạng suy
sụp toàn thân, kéo dài sau các chấn thương hoặc mổ xẻ lớn, thể hiện rõ
nét trên lâm sàng bằng một hội chứng suy sụp tuần hoàn, trong đó lưu
lượng tim thấp, dẫn đến tình trạng không cung cấp đủ ô xy cho tổ
chức và nhu cầu cơ thể [30]. Bệnh nhân sốc mất máu thường có những
biểu hiệu: Vã mồ hôi, đầu chi lạnh, rối loạn ý thức (vật vã, kích thích,
lơ mơ), tụt huyết áp, huyết áp tối đa < 90 mm Hg, nhịp tim nhanh ≥
100 lần/phút, thở nhanh ≥ 25lần/phút, lượng nước tiểu ít (Thể tích <
0,5ml/kg/h) [30].
Bệnh nhân có các tổn thương gây mất máu [30],[31]
- Do chấn thương hàm mặt: gãy xương hàm trên, hàm dưới…
- Do vỡ các tạng đặc trong ổ bụng như gan, lách thận, hoặc đứt các
mạch máu lớn, vỡ tim trong chấn thương ngực…
- Do gãy các xương lớn: xương đùi, xương chậu...
Mức độ mất máu [31]
- Các nguyên nhân gây mất máu ra ngoài: Vỡ nền sọ, chấn thương hàm
mặt (gãy xương hàm trên, xương hàm dưới...), các vết thương (vết
thương ngực, vết thương thấu bụng...), gãy xương hở, các tổn thương
phầm mềm (lóc da...), tổn thương đứt mạch máu...;
- Các nguyên nhân gây mất máu vào trong: vỡ các tạng trong ổ bụng
(gan, lách, thận, bàng quang...), chấn thương ngực (đụng dập phổi, vỡ
các mạch máu lớn ở tim...), gãy kín xương đùi, xương chậu;
- Dựa vào các loại thương tổn, mức độ của chúng, lượng gạc thấm máu,
dịch dẫn lưu người ta có thể ước lượng máu mất và phân loại theo bốn
mức độ (Bảng 1.2) [31].
Bảng 1.2. Phân loại giảm dung lượng máu [31]
19
Thể tích máu
mất
Độ I
< 750 ml
Mạch (l/p)
Huyết áp tối đa
(15%)
90-100
Bình
(mm Hg)
Thời gian về
thường
Bình
đầy mao mạch
Nhịp thở (l/p)
thường
14-20
Da, niêm mạc
Hơi nhợt
Độ 2
Độ 3
750-1500 ml 1500-2000 ml
Độ 4
> 2000 ml
(15%-30%)
>100
(30-40%)
> 120
(> 40%)
> 140
Bình thường
Giảm
Giảm
Kéo dài
Rất dài
Không có
20-30
30-40
>45
Da rất nhợt,
Da nhợt
Da nhợt, lạnh hạ thân nhiệt
(35oC)
Thể tích nước
tiểu (ml/giờ)
>30
20-30
5-15
<5
Thờ ơ với
Tri giác, thần
Tỉnh, hơi
kinh
lo lắng
Lo lắng
Lờ đờ, giảm
ngoại cảnh/
cảm giác,
mất tri giác,
giảm trương
Đồng tử
lực
giãn,
RL cơ tròn
Điều trị
Tinh thể
Tinh thể
Tinh thể,
Tinh thể,
máu
máu
Xử trí truyền máu theo các mức độ mất máu [31].
- Nếu bị mất máu ở mức độ I (vừa), có thể truyền các dung dịch nước
muối sinh lý, các dung dịch có trọng lượng phân tử cao để bù đắp thể
tích tuần hoàn, chưa cần truyền máu.
20
- Nếu bị mất máu ở mức độ II (nặng), ưu tiên truyền các dung dịch có
trọng lượng phân tử cao trước. Nếu tiếp tục bị mất máu hoặc có biểu
hiện các triệu chứng thiếu máu nặng hơn thì cần phải truyền máu.
- Nếu bị mất máu mức độ III (quá cấp tính) và mức độ IV (trầm trọng)
có thể đe dọa đến tính mạng, cần truyền cấp cứu máu cùng nhóm kết
hợp với truyền các dung dịch có trọng lượng phân tử cao.
Đánh giá mức độ mất máu, từ đó dự đoán xem bệnh nhân có phải
truyền máu khối lượng lớn không? [31],[32], [33].
- Truyền máu khối lượng lớn (TMKLL –Massive Blood Transfusion)
hay truyền máu ồ ạt được định nghĩa là truyền một lượng máu tương
đương hoặc lớn hơn một thể tích máu toàn thể của cơ thể trong vòng
24 giờ.
- Các nguy cơ có thể gặp trong TMKLL: Rối loạn, mất cân bằng điện
giải, rối loạn đông máu.
-
Khó khăn trong TMKLL: Do cần truyền máu cấp cứu, đòi hỏi một
lượng máu và chế phẩm lớn, trong thời gian ngắn.
Do vậy cần có sự phối hợp của ngân hàng máu, trung tâm gây mê- hồi
sức, trung tâm phẫu thuật, xây dựng quy trình chuẩn để góp phần giảm tỉ lệ tử
vong, giảm lượng chế phẩm máu sử dụng không cần thiết ở các trung tâm
chấn thương [34].
21
Chẩn đoán BN cần TMKLL [34].
Thang điểm ABC ở các trung tâm chấn thương dùng để đánh giá nguy cơ
truyền máu khối lượng lớn?
- Bệnh nhân có tổn thương xuyên thấu không? Có/Không;
- Bệnh nhân có huyết áp tâm thu < 90mmHg? Có/Không;
- Bệnh nhân có tần số tim > 120 lần/phút? Có/Không;
- Bệnh nhân có dịch ổ bụng trên siêu âm? Có/Không;
Trả lời “có” được 1 điểm, trả lời “không” được 0 điểm. Điểm ABC cao
nhất là 4 điểm, thấp nhất là 0 điểm.
- Bệnh nhân cần phải TMKLL nếu có một trong các dấu hiệu sau:
o Thang điểm ABC trên 2 điểm;
o Huyết động không ổn định;
o Chảy máu không cầm có chỉ định phẫu thuật hoặc nút mạch.
- Bệnh nhân có chỉ định TMKLL [34]:
o Truyền máu sớm nhất có thể, hạn chế truyền dịch tinh thể;
o Truyền HCK:HTTĐL giữa tỉ lệ 1:1 và 2:1;
o Kết hợp với truyền một KTC máy hoặc một KTC pool lấy từ 6
đv MTP;
o Chế phẩm phải được bảo quản tốt, để đảm bảo chất lượng khi
truyền cho BN.
B. Dựa vào xét nghiệm
Khối hồng cầu
Chỉ định: Bệnh nhân bị thiếu máu nặng, cấp tính, có dấu hiệu, triệu
chứng giảm vận chuyển oxy truyền khi Hb < 7g/dl[35].
Bệnh nhân trước phẫu thuật hoặc phẫu thuật có liên quan đến mất máu
khối lượng lớn truyền khi 7 < Hb < 8g/dl [35].
Bệnh nhân bị mất máu nặng, mất khoảng 30-40% thể tích máu truyền
khi Hb < 10g/dl [35].
Huyết tương tươi đông lạnh[35]
Chỉ định:
- Bệnh nhân rối loạn đông máu có kết quả xét nghiệm PT ≤ 50% và/hoặc
22
rAPTT >1,5 [35];
- Phối hợp truyền cùng với khối hồng cầu cho những BN bị mất nhiều máu.
Khối tiểu cầu [35]
-
Phẫu thuật lớn hoặc thủ thuật không xâm lấn, không chảy máu truyền
tiểu cầu khi số lượng TC của BN dưới 50 G/L [35];
-
Phẫu thuật mắt hoặc thần kinh, không chảy máu truyền tiểu cầu khi
số lượng TC của BN dưới 100 G/L [35];
-
Phẫu thuật có chảy máu thường truyền tiểu cầu khi số lượng TC dưới
50 G/l, trường hợp đặc biệt có thể truyền KTC khi số lượng TC dưới
100 G/L [35].
-
Bệnh nhân ổn định, không chảy máu, truyền tiểu cầu khi số lượng
TC dưới 10 G/L [35].
-
Bệnh nhân ổn định, không chảy máu, có sốt, nhiệt độ trên 38oC hoặc
trải qua thủ thuật xâm lấn thì truyền KTC khi số lượng TC dưới 20
G/L [35].
1.6. Tình hình sử dụng máu và chế phẩm
1.6.1. Tình hình sử dụng máu trên thế giới
Tổ chức y tế thế giới đã đặt ra mục tiêu là mỗi quốc gia trên thế giới cần
phải tự cung tự cấp càng an toàn càng tốt máu và chế phẩm máu với mức chi
phí hợp lý và phù hợp với nhu cầu mỗi quốc gia [36].
Hầu hết các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều có chương trình quốc
gia về truyền máu và an toàn máu, có ngân hàng máu thực sự đủ máu để cung
cấp cho nhu cầu điều trị và cấp cứu người bệnh. Các kỹ thuật mới về ATTM
được áp dụng một cách hệ thống: Truyền máu từng phần, truyền máu tự thân,
lọc bạch cầu trước bảo quản, sàng lọc kháng thể bất thường... Việc sàng lọc
các bệnh nhiễm trùng bằng các kỹ thuật hiện đại như kỹ thuật miễn dịch, kỹ
23
thuật phân tử PCR... đã giúp rút ngắn giai đoạn cửa sổ, nâng cao chất lượng
sàng lọc, nhờ vậy ATTM ở các nước trên đã đạt đến mức cao [14].
Năm 1999, tại Wild Kreuth (Đức), cộng đồng châu Âu đã thực hiện một
bước mới, lập ra hướng dẫn kỹ lưỡng về quy trình truyền máu lâm sàng
(TMLS) và sự cần thiết phải truyền máu đúng và đủ. Quy định mới cũng
hướng dẫn: Không nên lạm dụng truyền máu để tránh các hậu quả về các
bệnh lây qua đường truyền máu, gây ra các bệnh tự miễn, nhiễm sắt, đái
đường, lãng phí kinh tế của bệnh nhân, lãng phí nguồn máu hiếm. Tuy nhiên
quy định này cũng đề cập là: cần phải nhận định rõ những trường hợp cấp cứu
cần truyền máu để cứu người bệnh, vì vậy cần thiết phải xây dựng các ngân
hàng máu có chất lượng, an toàn, hiệu quả [37], [38].
1.6.2. Tại Việt Nam
Việc sử dụng máu và chế phẩm vẫn đóng vai trò chính trong điều trị các
bệnh về máu, ngoại khoa, sản khoa và một số bệnh thuộc nhiều chuyên khoa
khác. Nhu cầu máu ngày càng tăng, trong khi đó, chưa có đủ máu cho nhu cầu
điều trị.
Theo WHO, số lượng đơn vị máu cần cho một quốc gia bằng 2% dân số.
Việt Nam với số dân trên 80 triệu người vào năm 1999 thì cần khoảng
1.600.000 đơn vị máu tương đương với 400.000 lít máu/năm(1đv= 250ml),
nhưng trên thực tế lượng máu thu gom hiện mới đạt 20% nhu cầu tức là
khoảng 62.000 lít/năm [14].
Công tác truyền máu và ATTM còn nhiều khó khăn, thiếu nguồn người
hiến máu, thiếu trang thiết bị, chưa phát triển được các kỹ thuật mới và hiện đại.
Phong trào hiến máu nhân đạo tuy đã có những tiến bộ đáng kể nhưng còn
chưa phát triển một cách sâu rộng, nhận thức của người dân về hiến máu nhân
đạo còn thấp. Tỷ lệ bệnh nhiễm trùng qua đường truyền máu, tai biến miễn dịch
còn cao [39].
Kiến thức về truyền máu lâm sàng của các bác sỹ còn hạn chế. Theo
nghiên cứu của tác giả Đỗ Trung Phấn, David và cộng sự (2001) tại 6 bệnh
24
viện tuyến TW và tuyến tỉnh, tuyến huyện cho thấy [39]:
-
Phần lớn bệnh viện chưa có văn bản thành lập hội đồng truyền máu
bệnh viện hoạt động theo định kỳ và đúng chức năng;
-
36% các bác sỹ chỉ định truyền máu dựa vào nồng độ Hb, số còn lại
dựa vào lâm sàng, hematocrit, số lượng hồng cầu.
Vì vậy cần thiết phải lập kế hoạch đào tạo và thống nhất nội dung đào
tạo về truyền máu lâm sàng trong cả nước. Thành lập ban giám sát ATTM tại
các bệnh viện, báo cáo đầy đủ, thường xuyên về tình hình truyền máu, đặc
biệt là các tai biến truyền máu.
1.6.3. Tại bệnh viện Việt Đức
Là trung tâm ngoại khoa lớn nhất của miền Bắc, là bệnh viện hạng đặc
biệt, trong bệnh viện có Viện chấn thương chỉnh hình, có các trung tâm phẫu
thuật, trung tâm ghép tạng, hàng năm thực hiện tới 38.000 ca mổ lớn và trung
bình, đã sử dụng tới trên 31.000 đơn vị máu và chế phẩm [40]. Truyền máu
từng phần đã được bệnh viện áp dụng từ năm 1996, tới nay đã thực hiện là
100% các trường hợp truyền máu [41]. Quy mô phát triển ngày càng mở rộng,
tiến tới thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu ngang tầm với khu vực và trên thế
giới thì nhu cầu về máu và chế phẩm của bệnh viện sẽ ngày càng lớn và
không ngừng tăng lên. Để góp phần đáp ứng kịp thời cho những nhu cầu về
máu và chế phẩm cho bệnh viện, chỉ định truyền máu hợp lý (truyền đúng, đủ,
cần gì truyền nấy, không cần, không truyền), phải có những chiến lược, kế
hoạch dự trù máu, chế phẩm cụ thể và phổ cập các kiến thức về chỉ định
truyền máu cho toàn bộ các bác sỹ làm việc tại các Khoa lâm sàng.
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của mục tiêu 1: 19.951 bệnh nhân ngoại khoa
(với 21.807 lượt truyền máu) được điều trị truyền máu và chế phẩm máu tại
bệnh viện Việt Đức (Phòng khám cấp cứu, phòng mổ và các khoa điều trị) từ
tháng 7/2015 – 6/2016.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu của mục tiêu 2: 200 bệnh nhân chấn thương
được chỉ định truyền máu và chế phẩm máu từ tháng 1/2016 đến 6/2016:
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
BN chấn thương vào cấp cứu tại phòng khám cấp cứu BV Việt Đức,
được truyền máu, chế phẩm máu:
o Có đầy đủ các thông số sinh tồn: mạch, huyết áp, nhịp thở, tri giác;
o Tình trạng da, niêm mạc, tình trạng chảy máu;
o Vị trí các thương tổn được xác định: Sọ não, hàm mặt, cột sống, ngực,
bụng, chi;
o Các thông tin trên của bệnh nhân được thu thập vào mẫu bệnh án
thống nhất.
Tiêu chuẩn loại trừ:
o Những bệnh nhân có bệnh lý về máu, về tim mạch, hoặc mắc các bệnh
lý mãn tính khác;
o Những bệnh nhân không có đầy đủ các thông tin nghiên cứu được lựa
chọn ở trên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, hồi cứu (giai đoạn nghiên cứu từ tháng 07/2015 đến
tháng 09/2015) và tiến cứu (giai đoạn từ tháng 10/2015 đến 06/2016).