1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông khí đóng vai trò quan trọng trong duy trì sự sống. Một trong
những nhu cầu cơ bản nhất của mỗi người là được cung cấp đủ oxy. Mọi tế
bào trong cơ thể cần được cung cấp oxy để chuyển hóa, dinh dưỡng và tạo ra
nǎng lượng cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể. Kiểm soát đường thở nhằm
đảo bảo lưu lượng ôxy cung cấp cho cơ thể là một trong những mục tiêu quan
trọng khi cấp cứu và hồi sức cho bệnh nhân.
Bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu cần được duy trì hô hấp tốt, đặc biệt
nhóm bệnh nhân có tổn thương ở não. Các bệnh nhân thường nằm trong tình
trạng hôn mê, suy hô hấp do tổn thương trung tâm ở não. Bên cạnh điều trị
nội khoa tích cực bệnh nhân cần phải được hỗ trợ hô hấp bằng thở máy có thể
thông qua nội khí quản hoặc mở khí quản [1].
Thông khí nhân tạo đã giúp cứu sống nhiều bệnh nhân bệnh lý sọ não có
chỉ định điều trị bằng phẫu thuật. Mục đích là tăng thông khí để đảm bảo áp
lực khí CO2 trong máu động mạch đạt ở mức 35 – 45 mmHg nhằm duy trì lưu
lượng máu đến não hằng định giúp dễ dàng kiểm soát áp lực nội sọ, làm giảm
hiện tượng phù não, không gây các tổn thương thứ phát giúp quá trình hồi
phục tổn thương thần kinh một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Thông khí nhân tạo luôn song hành với đặt nội khí quản. Nội khí quản là
công cụ hỗ trợ cho không khí từ máy thở ra vào phổi của bệnh nhân. Tuy
nhiên thông khí nhân tạo trên bệnh nhân hôn mê do tổn thương ở não thường
xuyên phải kéo dài do đó nếu duy trì ống nội khí quản thường gây ra nhiều
biến chứng, hiệu quả không cao và gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc đường
thở cho bệnh nhân.
Mở khí quản có nhiều ưu điểm như: Giảm khoảng chết ở đường thở, cải
thiện tình trạng suy hô hấp, dễ dàng cho việc hút sạch dịch tiết khí phế quản,
dễ dàng thay ống canuyn [1],[2].
Nhờ có MKQ mà qúa trình thông khí của bệnh nhân đạt được kết quả
cao hơn, chức năng thông khí của bệnh nhân được đảm bảo trong suốt giai
2
đoạn điều trị tích cực khi mà hô hấp của bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào
máy thở [3].
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng MKQ phối hợp với thông khí nhân tạo
giúp bệnh nhân nhanh cải thiện được tri giác, dùng thuốc an thần ít hơn, giảm
số ngày nằm tại khoa hồi sức tích cực, giảm số ngày thở máy, dễ dàng cai
máy thở, giảm ngày nằm điều trị tại bệnh viện, giảm tỷ lệ tử vong và giảm
tình trạng viêm phổi bệnh viện [3],[4],[5],[6]. Để tìm hiểu hiệu quả và tác
động của MKQ lên qúa trình thông khí trên nhóm bệnh nhân bệnh lý sọ não,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm chức năng
thông khí trên bệnh nhân bệnh lý sọ não được mở khí quản thở máy” với
hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu diễn biến lâm sàng của bệnh nhân sọ não có chỉ định
mở khí quản thở máy.
2. Đánh giá mức độ cải thiện khí máu động mạch sau mở khí quản.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. MỞ KHÍ QUẢN
1.1.1. Lịch sử mở khí quản
1.1.1.1. Lịch sử mở khí quản trên thế giới [7],[8]
Theo Shody dựa vào di tích ở Ai Cập người ta đã biết MKQ từ 3600 năm
trước Công nguyên.
Theo Galien (131-201 sau Công nguyên) thì cho rằng Aclepiade (124- 96
trước Công Nguyên) thầy thuốc người Hy Lạp là người thực hiện MKQ đầu
tiên.
Năm 1546 bác sỹ Antonio Muso Brasovola (người Ý) đã thực hiện ca
MKQ thành công đầu tiên để tháo mủ ở hạ họng và thanh quản.
Năm 1620 Nicolas Habicot đã tiến hành mở khí quản để lấy cục máu
đông trong thanh quản. Đây được coi là ca MKQ đầu tiên để lấy dị vật. Năm
1766 Caron đã thực hiện MKQ ở đứa trẻ 7 tuổi để lấy bỏ hạt đậu trong thanh
quản. Đây được coi là trường hợp đầu tiên MKQ thành công ở trẻ em.
Thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 được coi là thời kỳ cực thịnh của MKQ bởi tác
dụng tuyệt vời của nó đã cứu rất nhiều trẻ em bị bệnh bạch hầu gây khó thở.
Mouret đã có sáng kiến khoét hai lỗ bên của nòng thông không sợ bệnh
nhân bị ngạt thở khi phẫu thuật viên quên không nắp nòng trong. Để tránh rơi
máu xuống đường thở, Trendelenburg bao bọc quanh canuyn một bóng cao
su nhỏ.
Năm 1909 Chevalier Jackson đã nhấn mạnh đến việc chăm sóc sau
MKQ, nhờ đó làm giảm tỷ lệ tử vong do MKQ từ 25% xuống dưới 2% đồng
thời giảm các yếu tố nguy cơ gây hẹp khí quản sau rút canuyn [9].
4
Năm 1952 Lasen đã công bố những kết quả khả quan do MKQ để điều
trị các trẻ em bị bại liệt có khó thở tại Copenhague. Cũng vào những năm đó
MKQ được người Mỹ áp dụng rỗng rãi trong điều trị các vết thương lồng
ngực trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, từ đó MKQ được áp dụng trong nhiều
chuyên nghành khác nhau.
1.1.1.2.
Lịch sử mở khí quản tại Việt Nam [8].
Trường hợp MKQ đầu tiên được thực hiện tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh
viện Bạch Mai là một cháu bé gái 6 tuổi bị khó thở do bạch hầu vào năm 1950
do bác sỹ Võ Tấn thực hiện.
Trong kháng chiến chống Pháp giáo sư Trần Hữu Tước và các học trò
đầu tiên của ông đã thực hiện MKQ ở những bệnh nhân bị khó thở thanh quản
đem lại kết quả tốt.
Sau ngày hòa bình lập lại, chuyên khoa Tai Mũi Họng có điều kiện phát
triển và phẫu thuật MKQ là một trong những phẫu thuật cứu sống nhiều bệnh
nhân khó thở, đặc biệt là bệnh bạch hầu thanh quản.
Năm 1959, MKQ đã được tiến hành cho những bệnh nhân bị bại liệt có
khó thở. Sau đó, khoa TMH đã phối hợp với các chuyên khoa khác triển khai
MKQ cho các trường hợp khác: Uốn ván, hôn mê, suy hô hấp…. và các
nguyên nhân khác nhau phải vào điều trị tại khoa cấp cứu.
Ngày nay, trong lĩnh vực TMH, MKQ là một trong những cấp cứu đầu
tay của các bác sỹ TMH để xử lý những trường hợp khó thở thanh quản và
các nguyên nhân khó thở khác.
Tại hội nghị TMH toàn quốc, đề tài MKQ luôn được đề cập đến những
khía cạnh về chỉ định, kỹ thuật, chăm sóc và những kinh nghiệm mới nhất
theo tài liệu trong nước và nước ngoài.
5
1.1.2. Ưu điểm của MKQ
Mở khí quản được chỉ định rộng rãi nhờ những lợi ích như:
- Làm giảm khoảng chết trong bộ máy hô hấp (khoảng chết là đoạn
đường thở làm nhiệm vụ dẫn khí vào phổi mà không có chức năng trao đổi
khí), sau mở khí quản khoảng chết đó chỉ còn 75 ml [8],[10].
- Làm tăng hiệu quả của việc hút đờm, bên cạnh đó mở khí quản còn là
biện pháp đưa thuốc trực tiếp xuống đường hô hấp dưới một cách tốt hơn [8].
- Có canuyn sẽ thuận tiện cho việc hô hấp hỗ trợ, giảm sức cản đường
thở, đảm bảo thể tích khí lưu thông.
Ngoài những lợi ích kể trên, so với ống NKQ dài ngày MKQ còn có các
ưu điểm [11]:
- Tạo cảm giác dễ chịu thoải mái hơn.
- Hạn chế tổn thương thanh quản do giải phóng thanh quản.
- Thuận tiện cho công việc giải phóng ống.
- Người bệnh có thể thực hiện giao tiếp với người xung quanh bằng lời
nói khi sử dụng ống MKQ có cửa sổ.
- Người bệnh có thể ăn uống qua đường miệng.
- Bảo vệ an toàn đường thở và có thể không cần nằm ở khoa hồi sức.
1.1.3. Nhược điểm của MKQ
Mở khí quản có những bất lợi như:
- Loại khỏi bộ máy hô hấp toàn bộ đường hô hấp trên có chức năng bảo
vệ đường hô hấp dưới như chức năng làm ấm, làm ẩm, làm sạch [8],[10].
- Khi mở khí quản, không khí vào phổi không được sưởi ấm, làm ẩm.
Không khí khô và lạnh hít trực tiếp vào phổi gây tác hại đến niêm mạc của
đường hô hấp dưới. Các tế bào này bị kích thích gây bài tiết nhiều dễ dẫn đến
teo đét. Không khí hít vào không được thanh lọc vi khuẩn, bụi, dẫn đến dễ
nhiễm khuẩn đường thở.
6
- Khí quản trực tiếp tiếp xúc với môi trường bên ngoài, nên dễ bị
nhiễm khuẩn.
- Hiện tượng không phối hợp nhịp nhàng giữa đường hô hấp trên và
đường hô hấp dưới nếu đeo ống càng lâu càng nặng nề.
- Canuyn tồn tại trong khí quản như một dị vật do vậy gây chấn thương
trực tiếp tới khí quản.
- Mép trên của lỗ mở khí quản bị đẩy ra sau, quặt vào lòng khí quản tạo
nên một cái cựa làm hẹp lòng khí quản.
- Tổn thương khí quản do hiện tượng viêm nhiễm do khí quản tiếp xúc
trực tiếp với môi trường bên ngoài, canuyn như một dị vật kích thích niêm
mạc khí quản gây hiện tượng viêm loét phù nề. Chấn thương tại vị trí bóng
chèn do áp lực bóng không được kiểm tra thường xuyên, áp lực bóng quá cao
gây thiếu nuôi dưỡng hoại tử niêm mạc. Một yếu tố quan trọng nữa là trong
quá trình thông khí nhân tạo bóng chèn của ống MKQ di chuyển trong lòng
khí quản như một pitton đặc biệt trong các trường hợp thông khí nhân tạo mà
áp lực đường thở cao [8],[12],[13].
- Để tránh loét và hoại tử do tác động của canuyn MKQ nhiều tác giả đã
đưa ra chất liệu canuyn MKQ khác nhau xong đều có tỉ lệ chấn thương khí
quản như nhau. Hiện nay, trong hồi sức cấp cứu người ta ưa dùng canuyn
MKQ Sjoberg – Aboulker với thể tích bóng lớn mà áp lực nhỏ [12],[13],[14].
1.1.4. Kỹ thuật MKQ
Khi tiến hành phẫu thuật, bệnh nhân có thể được gây mê hoàn toàn hoặc
gây tê tại chỗ và giảm đau toàn thân. Cổ bệnh nhân được ưỡn ngửa ra tối đa
nhờ gối vai để bộc lộ vùng cổ có thể sờ thấy sụn giáp, sụn nhẫn một cách dễ
dàng. Đường rạch da có hai đường dọc và ngang. Đường rạch vào khí quản có
thể được thực hiện ở các vị trí khác nhau qua vị trí này ta xác định được mở
khí quản cao, mở khí quản trung bình hay mở thấp.
Mở khí quản cao: rạch khí quản vào sụn thứ 1- 2 trên eo tuyến giáp.
7
Mở khí quản trung bình: rạch sụn khí quản 3-4 qua tuyến giáp.
Mở khí quản thấp: rạch vào sụn khí quản 5-6-7 dưới eo tuyến giáp.
Tiến hành mở khí quản [14].
Tư thế bệnh nhân và thầy thuốc: Bệnh nhân nằm ngửa, dưới vai có độn
một cái gối, cổ ngửa hết sức. Phẫu thuật viên đứng bên phải bệnh nhân đeo
đèn Clar. Phụ mổ đứng bên đối diện với phẫu thuật viên.
Gây tê: Dùng lidocain 1% tiêm vào mô dưới da ở phần trước cổ, đi đúng
đường giữa, từ sụn nhẫn đến hố thượng đòn (nếu rạch da theo dường dọc).
Nếu rạch da theo đường ngang thì tiến hành tiêm gây tê theo nếp lằn da cổ nối
bờ trước cơ ức đòn chũm hai bên.
+ Thì 1: Rạch da: Có thể rạch da theo đường dọc hoặc ngang. Dưới đây
mô tả theo đường rạch dọc:
Tay trái của phẫu thuật viên giữ lấy sụn giáp: ngón trái và ngón giữa giữ
2 bên sụn giáp, ngón chỏ giữ ở trước và giữa của sụn giáp. Tay phải dùng dao,
rạch từ trên xuống dưới, bắt đầu từ bờ dưới sụn nhẫn, xuống đến trên hõm ức.
Đường rạch độ 3 cm, cắt lớp da và lớp mỡ.
Lớp cân nông được bộc lộ. Nếu chảy máu nhiều thì dùng Halstead cặp
lại, chưa cần phải buộc các mạch máu nhỏ ngay vì nó có thể tự cầm, hoặc khi
nào đặt được ống xong, lúc ấy ta buộc cũng được. Dùng kìm Kocher kẹp hai
bên mép da và banh nó ra hai bên.
+ Thì 2: Tách cơ
Dùng dao rạch cân nông dọc theo đường lằn trắng. Dùng bóc tách lòng
máng tách rời hai nhóm cơ dưới móng sang hai bên. Dưới cơ là hai mô liên
kết lỏng lẻo và eo tuyến giáp màu hồng, bóng nhẵn. Đặt hai banh Farabeuf
vào hố mổ do phụ mổ cầm vén hai nhóm cơ sang hai bên, có thể trông thấy
ngay eo tuyến giáp.
+ Thì 3: Bộc lộ khí quản
8
Bóc tách gỡ tổ chức liên kết ở giữa hai nhóm cơ dưới móng. Dùng banh
kéo nhẹ eo tuyến giáp lên trên hoặc xuống dưới thì thấy rõ ngay những vòng
sụn của khí quản. Trường hợp eo tuyến giáp quá to, chúng ta dùng kìm
Kocher kẹp hai bên và cắt eo tuyến giáp, rồi khâu buộc bằng chỉ Catgut, cầm
máu cẩn thận.
+ Thì 4: Rạch khí quản
Chúng ta dùng dao nhỏ chọc thủng khí quản và bao giờ cũng hất lên phía
trên, và rạch đúng đường giữa ngay ngắn, đường rạch dài khoảng 2 vòng sụn.
Ta nên rạch cho vừa với canuyn, nếu rạch rộng quá sẽ bị tràn khí sau mở khí
quản. Khi rạch khí quản ta tháo hơi bóng chèn và rút bớt ống NKQ ra (trong
trường hợp đặt NKQ). Thường ngay sau khi khí quản được rạch mở bệnh
nhân ho bật ra xuất tiết đờm ứ đọng, dùng ống thông hút sạch đờm dãi.
+ Thì 5: Đặt canuyn.
Luồn nhanh canuyn vào, rút ngay ống thông lòng ra và lắp ống trong
vào. Nếu gặp khó khăn khi đặt có thể dùng cái banh ba chạc Laborde vén lỗ
mở khí quản trước khi cho canuyn vào.
+ Thì 6: Khâu da trên và dưới canuyn vài mũi chỉ lanh. Không nên đóng
da quá kín, dễ gây tràn khí dưới da.
+ Thì 7: Buộc dây quai của canuyn ra sau cổ bệnh nhân để đề phòng
bệnh nhân ho bật ống ra ngoài. Đặt một mảnh gạc vào giữa canuyn và da cổ,
trung tâm của miếng gạc được đặt ngay lỗ mở khí quản, mỗi mép gạc chui
dưới đáy Canuyn và được bẻ quặt về phía trước.
1.1.5. Chăm sóc sau mở khí quản [1],[14],[15].
Bệnh nhân mở khí quản có thở máy được thực hiện theo kỹ thuật thường
quy hồi sức cấp cứu.
Hút đờm được thực hiện bởi điều dưỡng hồi sức cấp cứu. Số lần hút phụ
9
thuộc vào lượng dịch tiết khí phế quản. Khi hút dịch dùng găng tay và ống hút
vô khuẩn dùng một lần. Dịch nhỏ làm sạch và loãng đờm là dung dịch
Natriclorit 0,9%.
Thay băng: ngày đầu thay băng 2-3 lần phụ thuộc vào mức độ chảy máu và
dịch tiết. Những ngày sau thay băng luôn đảm bảo băng tại chỗ luôn khô sạch.
Thay canuyn sau 48 giờ với thay ống lần đầu, những lần sau thay sau 3-7
ngày một lần không có lịch cố định.
Chăm sóc bóng chèn: bệnh nhân có thở máy bóng chèn được bơm căng
liên tục trong 24 giờ đảm bảo không dò khí quanh bóng chèn. Áp lực bóng
chèn được theo dõi 8 - 12 giờ một lần và luôn duy trì ở mức 20 cmH2O. Ghi
nhận áp lực và thể tích bóng chèn. Ở những bệnh nhân không thở máy bóng
chèn được giữ căng trong lúc ăn và sau ăn 2 giờ.
Rút canuyn: khi bệnh nhân thở tốt qua đường mũi, phản xạ ho khạc bình
thường không có bội nhiễm ở phổi.
Bệnh nhân được chuẩn bị trước khi rút ống: khí dung, hút đờm. Sau rút
đắp gạc vào vết mổ.
1.1.6. Biến chứng MKQ
1.1.6.1. Biến chứng trong khi MKQ
- Chảy máu: Tai biến này có thể xảy ra trong và sau mở khí quản một vài
giờ. Lý do là trong khi phẫu thuật làm tổn thương những mạch máu, hoặc cầm
máu không kỹ. Hay gặp nhất là tổn thương đám rối tĩnh mạch dưới eo tuyến
giáp. Tỷ lệ tai biến này khác nhau tùy từng tác giả:
+ Nghiên cứu Stauffer J.L: 36% [16].
+ Nghiên cứu Huỳnh Anh: 1,7% [17]
+ Nghiên cứu của bác sỹ Lê Đức Điệp: 26,9% [18].
- Tràn khí dưới da, tràn khí trung thất: Tràn khí dưới da và tràn khí trung
10
thất thông thường do đường rạch khí quản quá rộng, trong khi đường kính
canuyn lại nhỏ so với đường rạch. Đôi khi trong khi mở khí quản, phẫu thuật
viên rạch bới, bóc tách nhiều quá để tìm khí quản cũng là một nguyên nhân
thuận lợi gây tràn khí [8],[19].
Thống kê của Tzetzu tỷ lệ là 16% [20].
- Đặt sai vị trí canuyn: phát hiện sớm ngay trong khi đặt nếu không sẽ
gây hậu quả nghiêm trọng [21].
1.1.6.2. Biến chứng trong thời gian đeo canuyn MKQ
- Chảy máu: Do không cầm máu tốt trong khi mổ, hoặc do sự dịch
chuyển của Canuyn gây chảy máu ở niêm mạc khí quản hoặc do tổn thương
động mạch cánh tay đầu [2],[22].
- Tuột canuyn: Biến chứng này dễ gây nên tử vong nhanh chóng. Có
nhiều nguyên nhân làm cho Canuyn không còn nằm trong lòng khí quản.
Hoặc do dây buộc không chặt nên khi bệnh nhân ho hoặc khi hút dịch làm cho
canuyn rời khỏi lòng khí quản. Một lý do khác cũng hay gặp là Canuyn không
đủ dài, nên khi đặt ống đầu dưới Canuyn chỉ mấp mé miệng lỗ mở khí quản
và có thể tụt ra bất cứ lúc nào vì những động chạm rất nhẹ vào Canuyn hay
những cử động của bệnh nhân. Vì vậy một trong những nguyên tắc của mở
khí quản là phẫu thuật viên phải kiểm tra dây và nút buộc canuyn trước khi trả
bệnh nhân về phòng điều trị.
- Chảy máu muộn: Thường xảy ra vào ngày thứ 4 đến ngày thứ 8 sau mở
khí quản thường do tổn thương động mạch, xảy ra khi thay canuyn, sau một
cơn ho. Loại chảy máu muộn hơn nữa vào các tuần lễ sau ở khí quản mà
nguyên nhân thường là viêm loét khí quản, lan tới một động mạch gây chảy
máu dữ dội (có thể là động mạch cánh tay đầu hoặc hiếm hơn là quai động
mạch chủ).
- Nhiễm trùng khí phế quản: Nguyên nhân là bệnh nhân hít thở không
11
khí không được làm ấm, làm ẩm trước khi vào phổi, sự ứ đọng dịch làm cho
bệnh nhân hít vào phổi trước khi mở khí quản là những nguyên nhân chủ
yếu gây nên nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Mặt khác việc hút các chất ứ
đọng trong đường thở lặp đi lặp lại cũng là nguyên nhân gây bội nhiễm. Đây
là một biến chứng rất thường gặp dễ đưa đến tử vong hay khó rút ống sau
này. Chính vì vậy săn sóc sau mổ có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là vô
trùng dụng cụ săn sóc. Nhiễm trùng có thể gây viêm khí phế quản, viêm
phổi, áp xe phổi [22],[23].
- Nhiễm trùng quanh lỗ mở khí quản: Nguyên nhân chủ yếu là do săn sóc
sau mổ không tốt. Các điều kiện săn sóc không đúng quy cách, không đảm
bảo vệ sinh. Nhiễm trùng vết mổ có thể đi từ viêm hoại tử quanh lỗ mở khí
quản đến hiện tượng mất chất và tạo điều kiện thuận lợi cho chảy máu sau mở
khí quản.
Theo nghiên cứu của Ahmed Royhail tỷ lệ 12% [24].
- Tắc ống thở: Đây cũng là một biến chứng hay gặp do ứ đọng nhiều chất
xuất tiết, mủ đặc quánh nhiều khi không hút sạch được nhất là những ngày
đầu sau mổ. Mặt khác phản xạ ho của bệnh nhân cũng bị giảm nhiều cũng là
một nguyên nhân dẫn đến tắc ống. Bệnh nhân đột ngột khó thở, giãy dụa,
hoảng hốt mặc dù đã mở khí quản từ vài ngày. Kiểm tra canuyn thấy hơi thở
qua canuyn rất yếu hoặc không có, nghe phổi thấy rì rào phế nang rất kém.
Cần thay canuyn ngay hoặc nếu canuyn có 2 nòng, phải rút nòng trong ra rửa
sạch sau đó mới lắp lại [22].
- Viêm loét khí quản, rò khí quản – thực quản: Rò khí quản – thực quản
có thể xảy ra trong khi mổ do mũi dao rạch khí quản quá sâu tới tận thực
quản. Trong quá trình mang canuyn lưng canuyn quá cong đè vào thành sau
khí quản, phối hợp với hiện tượng nhiễm trùng tại chỗ gây nên viêm loét khí
12
quản. Vết loét có thể lan tới thực quản gây nên rò khí quản - thực quản.
Theo nghiên cứu của Ahmed Royhail tỷ lệ 12% [24].
1.1.6.3. Biến chứng sau rút canuyn MKQ
- Khó thở thanh quản có thể xảy ra ngay sau khi rút ống do phù nề
thanh quản, thanh môn. Triệu chứng khó thở thanh quản bao gồm: khó thở
chậm, khó thở thì thở vào, có tiếng rít ở thì thở vào. Có ba mức độ khó thở
thanh quản.
- Nói không rõ và nói khó do rò khí ở lỗ MKQ.
- Vết mở khí quản lâu liền hoặc sẹo xấu.
- Khó thở do sẹo hẹp khí quản.
1.2. CÁC RỐI LOẠN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ SỌ NÃO SAU PHẪU
THUẬT
1.2.1. Các rối loạn trên bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não
1.2.1.1. Tăng áp lực trong sọ
Sinh lý bệnh học của tăng áp lực trong sọ:
Hộp sọ là một khung xương cứng chắc và không thể giãn nở được. Sự gia
tăng thể tích của các thành phần chứa trong hộp sọ (bao gồm: tổ chức não
80%, máu 12%, dịch não – tủy 8%) sẽ làm tăng áp lực trong sọ. Sự tương
quan giữa thể tích và áp lực trong sọ được mô tả bằng đường cong thể hiện sự
giãn nở não (Biểu đồ 1.1). Khi có sự thay đổi nhỏ của thể tích trong sọ, cơ chế
tự bù trừ bằng giảm bớt thể tích máu và dịch não – tủy có thể tránh được tăng
áp lực trong sọ. Khi cơ chế này mất tác dụng chỉ cần thêm một sự gia tăng nhỏ
của thể tích trong sọ sẽ làm áp lực trong sọ tăng rất nhanh. Khi áp lực trong sọ
tăng cao, não bộ bị đè ép gây thoát vị qua lều chèn ép hành tủy gây ra những
biến chứng nguy kịch.
Dịch não - tủy được sản xuất các đám rối mạch mạc ở hệ thần kinh trung
ương sản xuất với tốc độ khoảng 20 ml/giờ, tổng số lượng dịch não - tủy
13
khoảng 500 ml/ngày. Dịch não-tủy được tái hấp thu tại các hạt màng nhện của
hệ thống tĩnh mạch. Các tổn thương thần kinh trung ương làm rối loạn khả
năng tự điều hòa dịch não-tủy, có thể dẫn đến phù não nhanh chóng.
Biểu đồ 1.1. Sự gia tăng thể tích và áp lực trong sọ [25]
Bình thường lưu lượng dòng máu não được duy trì hằng định. Khi có
tăng hoặc giảm lưu lượng dòng máu não sẽ dẫn đến tăng hoặc giảm thể tích
máu trong não bởi quá trình co hoặc giãn mạch. Đây là cơ chế đáp ứng bù trừ
quan trọng nhất trong sinh lý bệnh mạch não. Việc tăng hoặc giảm lưu lượng
dòng máu não sẽ dẫn đến việc tăng hoặc giảm đáng kể của áp lực trong sọ.
Có ba cơ chế điều hòa lưu lượng dòng máu não:
+ Huyết áp.
+ Điều hòa thần kinh giao cảm của mạch máu.
14
+ Chuyển hóa: Áp lực riêng phần CO2 (PaCO2) trong máu động mạch
đóng vai trò rất quan trọng. Nếu PaCO2 tăng gây giãn mạch não và nếu giảm
gây co mạch não. Vì vậy, tăng thông khí nhằm giảm áp lực nội sọ.
Đáp ứng tự động
Huyết áp động
Thể tích trong lòng mạch
mạch hệ thống
Cung lượng tim
Thuốc hạ áp
p lự
Á
pn
ớ
ctư
ã im
átư
ớ
o uá
ã o
n
Á lự
p
Á
nplực g
ctro
sọtrong sọ
Giãn ạchmạch n
m
iãn
G
ãonão
ểíc h
h
T
g
n
tro
m
tíc áu
ão
g n
n
tro
ão
Phù não
Dịch não – tủy
Hạ ô xy máu
Tăng CO2 máu
Biểu đồ 1.2. Vòng xoắn bệnh lý trong bệnh mạch máu não [26]
Các yếu tố ghóp phần nặng thêm tăng áp lực trong sọ bao gồm: giảm
huyết áp hệ thống, hạ ôxy máu, tăng CO2 máu, phù não và ứ trệ dịch não – tủy.
Quá trình này chỉ có thể phá vỡ bằng cách điều chỉnh huyết áp, điều trị suy hô
hấp, chống phù não hoặc dẫn lưu dịch não – tủy. Điều này giải thích tầm quan
trọng của việc kiểm soát huyết áp và suy hô hấp trong điều trị bệnh nhân sau
phẫu thuật sọ não.
15
Đáp ứng tự động
Thể tích trong lòng mạch
Đáp ứng thiếu máu
Thuốc hạ áp
Kiểm soát huyết áp
hệ thống
c o
lự
p
ãÁ
n
áu
m
ilự
ớ
tư
c tư
i
ớ
áu n
m
ã o
c tro
lự
p
Á
sọ
nlự
c gro
n
o o
C
m
ạn
ã ạch h
sọ
ão
n
T ểtíchro
Th
g
n
m
áão áu
n g
tro
ão
n
Phù não
Dịch não – tủy
Tăng ô xy máu
Hạ CO2 máu
Biểu đồ 1.3. Các yếu tố góp phần điều trị tăng áp lực nội sọ [26]
Biểu hiện lâm sàng của tăng áp lực trong sọ:
Bệnh nhân đang hôn mê đột nhiên nặng lên nhanh chóng:
- Hôn mê sâu hơn.
- Rối loạn trương lực cơ.
- Rối loạn thần kinh thực vật là các dấu hiệu nặng:
+ Nhịp tim nhanh, tăng huyết áp hoặc giảm huyết áp, hoặc nhịp tim
chậm, trụy mạch, huyết áp không ổn định.
+ Rối loạn vận mạch: Đỏ da, vã mồ hôi.
- Rối loạn hô hấp: thở chu kỳ kiểu Cheyne – Stokes thở nhanh, sâu
hoặc nhịp thở mất điều hòa (không đều, rời rạc), phù phổi cấp nguyên nhân
thần kinh.
- Rối loạn điều hòa thân nhiệt: sốt cao.
- Rối loạn tiêu hóa: nấc, nôn ra máu.
16
- Phù gai thị.
1.2.1.2. Rối loạn hô hấp.
Suy hô hấp ở bệnh nhân TBMMN và bệnh nhân CTSN có thể do ba yếu
tố tạo ra:
- Sự rối loạn phát nhịp của trung tâm hô hấp.
- Rối loạn trong dẫn truyền những xung động thần kinh từ trung tâm hô
hấp đến cơ hô hấp.
- Rối loạn của những phản xạ hành tủy (ho sặc, phản xạ nuốt) dẫn đến
giảm khả năng bảo vệ đường thở và sặc phổi.
Biểu hiện lâm sàng của rối loạn hô hấp bao gồm: những kiểu nhịp thở bất
thường, suy hô hấp hạ ôxy và suy hô hấp tăng CO2 máu, viêm phổi do hít (do
mất khả năng bảo vệ đường thở, khả năng ho làm sạch đường thở), tắc mạch
phổi do nằm lâu [27].
Suy hô hấp trong TBMMN:
Bệnh nhân TBMMN có thể không duy trì được một lượng ôxy máu
và/hoặc thông khí đầy đủ khi không có sự bất thường của tim mạch. Thực tế,
ngưng thở là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong những ngày đầu sau
TBMMN. Phụ thuộc trên cơ chế sinh lý bệnh, bệnh nhân có thể biểu hiện suy
hô hấp với hạ oxy máu hoặc tăng CO2 máu. Xác nhận của suy hô hấp giảm
thông khí là tăng CO2 với tình trạng toan hô hấp cấp. Giảm thông khí này
thường gặp nhất do giảm thông khí phút thứ phát sau giảm xung động của
trung tâm hô hấp.
Mức độ chênh lệch ôxy phế nang mao mạch có tác dụng trong việc xác
định bệnh nhân hạ oxy máu là do giảm thông khí, hay có thêm bệnh nhu mô
phổi. Xác nhận tình trạng suy hô hấp hạ oxy máu là mất khả năng duy trì máu
thỏa đáng. Cơ chế sinh bệnh học chính bao gồm rối loạn thông khí tưới máu
và nối tắt trong phổi. Dạng suy hô hấp này thường là kết quả của một tổn
17
thương phổi cấp khuếch tán với phù phổi tăng tính thấm (ARDS) viêm phổi
thâm nhiễm nặng (sặc phổi) hoặc phù phổi do tim. Đôi khi bệnh nhân
TBMMN cấp có biểu hiện của một phù phổi không do tim, được gọi là phù
phổi do nguyên nhân thần kinh. Cơ chế chính xác của phù phổi cấp do nguyên
nhân thần kinh vẫn chưa biết rõ, nhưng có hiện tượng tăng hoạt động quá mức
của hệ Adrenalin với co mạch phổi đã được nói đến.
1.2.2. Điều trị bệnh:
1.2.2.1. Các biện pháp chung:
Theo dõi liên tục ít nhất trong 48 giờ đầu: huyết áp, điện tim, ôxy máu
bằng máy theo dõi.
Dinh dưỡng đầy đủ khi không có rối loạn nuốt, hoặc đặt ống thông dạ dày.
Điều chỉnh nước điện giải cho bệnh nhân, không dùng dung dịch Glucose.
Theo dõi đường máu thường xuyên. Đường huyết tăng là biểu hiện tiên
lương xấu. Cần điều trị bằng Insulin khi nồng độ đường vượt quá giới hạn
150- 250 mg/dl (8 – 14 mmol/l).
Chống loét: sử dụng đệm chống loét sớm, vận động sớm.
Phòng viêm tắc tĩnh mạch bằng Heparin trọng lượng phân tử thấp.
Theo dõi nhiệt độ: có thể có bội nhiễm hoặc rối loạn thần kinh thực vật,
cần cho thuốc hạ nhiệt khi nhiệt độ tăng trên 38,50C và cho kháng sinh nếu có
bằng chứng của bội nhiễm (phổi, tiết niệu).
18
Chăm sóc điều trị tích cực:
Tư thế đầu cao 300.
Đảm bảo hô hấp: nếu tăng tiết nhiều đờm rãi, phải làm sạch bằng cách
hút đờm rãi, thở ôxy 3-4 l/phút. Bệnh nhân hôn mê có giảm khả năng bảo vệ
đường thở, ứ đọng hầu – họng, rối loạn nhịp thở, suy hô hấp cần đặt NKQ
cho thở máy. Hạn chế phù não do rối loạn chuyển hóa ở não do thiếu ôxy.
Đặt NKQ thở máy (thông khí nhân tạo với Vt = 12ml/kg cân nặng cơ thể, tần
số 14 – 16 nhịp/phút).
Chống phù não: dùng Manitol, khởi đầu 1g/kg cân nặng cơ thể. Dùng
Manitol 20% với 200ml truyền trong 20 phút, sau đó truyền 0,25ml/kg cách
4-6 giờ.
Duy trì huyết áp một cách hợp lý: hiện nay thống nhất dùng thuốc hạ
huyết áp khi:
+ Huyết áp tâm thu trên 230 mmHg.
+ Huyết áp tâm trương trên 120 mmHg.
Trong trường hợp đó tốt nhất chỉ định đường tĩnh mạch Nicardipin
(Loxen) hoặc Labetalol (Trandate).
Điều trị dự phòng: chú ý tránh xẹp phổi bằng cách hút đờm rãi, thay đổi
tư thế, vỗ rung lồng ngực cách 2 giờ một lần. Chống loét dạ dày bằng thuốc
bọc niêm mạc, ức chế H2. Phục hồi chức năng vận động sớm cho bệnh nhân
ngay khi đang ở trong tình trạng cấp cứu.
1.2.2.2. Kiểm soát đường thở:
Những bệnh nhân bị TBMMN dẫn đến giảm ý thức và rối loạn các phản xạ
hành não có thể gây ra rối loạn cơ chế nuốt, ho bất thường và rối loạn phản xạ
nắp thanh quản, tất cả dẫn đến nguy có tổn thương đường hô hấp do sặc. Việc
tìm ra những dấu hiệu sớm của những bệnh nhân có nguy cơ cao có thể tránh
được việc hít phải dịch vị hoặc dịch họng miệng. Quy trình đơn giản để giảm
19
nguy cơ hít phải bao gồm: hút miệng thường xuyên, nâng cao đầu và tránh cho
uống đường miệng ít nhất là trong giai đoạn cấp. Nên quan tâm xem xét đặt
nội khí quản nếu bệnh nhân không thể bảo vệ được đường thở của họ. Quyết
định này dựa trên sự xem xét mức độ nặng và tiên lượng của những tổn
thương thần kinh, tình trạng bệnh kết hợp và tiền sử bệnh trước đó. Những chỉ
định thường gặp của đặt NKQ và thông khí nhân tạo cho bệnh nhân TBMMN
là điều trị tăng thông khí, ứ đọng đờm dãi, rối loạn nhịp thở, suy hô hấp do tắc
nghẽn đường thở, viêm phổi và phù phổi. Cần chú ý trong khi đặt NKQ ở
những bệnh nhân này về khả năng nguy cơ làm tăng thêm áp lực trong sọ.
Việc sử dụng thuốc an thần và Xylocain sẽ ngăn chặn được tăng áp lực trong
sọ do ho và đáp ứng êm dịu do quá trình đặt NKQ.
1.2.2.3. Hỗ trợ thông khí
TKNT được chỉ định nhằm mục đích duy trì giới hạn bình thường của các
chỉ số khí máu, thăng bằng kiềm – toan trong cơ thể, hạn chế phù não do rối
loạn chuyển hóa vì thiếu ôxy.
Với những bệnh nhân có biểu hiện của tăng áp lực trong sọ hoặc đe dọa
thoát vị não, thở máy tăng thông khí giữ PaCO2 trong giới hạn từ 30 – 35
mmHg và PaO2 từ 90-110 mmHg là mục đích thường được sử dụng. Tăng
thông khí nhằm giảm áp lực trong sọ là kết qủa của sự giảm lưu lượng máu
não do co mạch não. Ảnh hưởng này do tác động của PaCO2 trên độ pH của
dịch não – tủy. Tác động hết sức mạnh mẽ và giảm xuống khi pH của dịch não
– tủy về bình thường.
Năm 1993, Cruz và cộng sự đưa ra khái niệm “tăng thông khí tối ưu”
nghĩa là nên duy trì PaCO2 ở mức 30-35 mmHg [28].Gần đây người ta nghiên
cứu và thấy rằng thông khí để duy trì PaCO 2 30-35 mmHg trong 12giờ đầu
sau chấn thương sọ não sau đó duy trì PaCO2 35-40 mmHg là tốt nhất.
20
Tăng thông khí liệu pháp để giảm áp lực CO2 máu động mạch và nâng
PH dịch não tuỷ (nhân tố làm thay đổi đường kính của não) đóng vai trò trung
tâm trong điều chỉnh tăng áp lực nội sọ [29].
Tuy nhiên nếu PaCO2 giảm dưới 25mmHg làm co mạch não lại có nguy
cơ gây tắc mạch và gây phù não nặng hơn. Tác dụng của PaCO 2 giảm chỉ kéo
dài trong thời gian ngắn (24-48 giờ), và chỉ có vùng lành mới giảm cung
lượng máu lên não. Ngừng tăng thông khí lại gây giãn mạch tăng cung lượng
máu lên não. Mặt khác theo đuổi mục đích giảm áp lực trong sọ với tăng
thông khí kéo dài có thể dẫn đến tình trạng nguy hiểm do kiềm hô hấp mạn
tính. Do vậy nên bình thường hóa PaCO2 càng sớm càng tốt, miễn là áp lực
trong sọ không tăng.
Chỉ định thông khí nhân tạo
Chỉ định thông khí nhân tạo trên bệnh nhân TBMMN và CTSN tại khoa
Gây mê hồi sức Bệnh viện Bạch Mai bao gồm một trong những tiêu chuẩn sau:
- GCS ≤ 8 điểm.
- Ứ đọng đờm rãi, giảm hoặc mất phản xạ ho sặc, co giật trên 5 phút.
- Rối loạn nhịp thở.
- Suy hô hấp: PaO2 dưới 60mmHg, PaCO2 > 50mmHg, có hình ảnh thâm
nhiễm trên XQ phổi.
- Thở máy tăng thông khí duy trì PaCO2 30-35mmHg khi có biểu hiện của
tăng áp lực nội sọ hoặc đe dọa thoát vị não.
- Duy trì PaCO2 trong giới hạn bình thường nếu bệnh nhân không có tăng
áp lực nội sọ.
Các phương thức thở máy
Mục đích hỗ trợ thông khí trong điều trị sau phẫu thuật sọ não là hỗ trợ
hô hấp, điều chỉnh lại tình trạng hạ ôxy và tăng CO2 máu trong khi áp dụng các
biện pháp điều trị đặc hiệu khác và chờ đợi các tổn thương thần kinh hồi phục.
21
Đối với trường hợp suy hô hấp cấp có tăng CO2 máu, cải thiện thông khí phế
nang là mục đích điều trị và có thể dễ dàng đạt được qua thông khí xâm nhập
kiểm soát thể tích. Thông khí không xâm nhập chỉ có thể áp dụng cho bệnh
nhân còn hợp tác, tình trạng huyết động ổn định, với chức năng đường hô hấp
trên còn nguyên vẹn và không có tăng tiết quá mức, không nôn mửa.
Những bệnh nhân hôn mê do tổn thương ở não có suy hô hấp hầu như
luôn cần được hỗ trợ thông khí đầy đủ. Các phương thức cài đặt máy thở ban
đầu được đề nghị là thông khí hỗ trợ / điều khiển (A/C) hoặc thông khí điều
khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV). Vì những bệnh nhân này đều có tình trạng
thần kinh bị tổn thương và với mục đích cần thông khí trong điều trị, trong giai
đoạn đầu dùng phương thức hỗ trợ áp lực là không hợp lý.
Thông khí hỗ trợ / điều khiển (A/C)
Theo Kacmarek RM và Hess DK: thông khí hỗ trợ / điều khiển là quá
trình thông khí trong đó thầy thuốc cài đặt thông số thở tối thiểu và thể tích khí
lưu thông. Bệnh nhân có thể tự khởi động nhịp thở mà tốc độ nhanh hơn mức
cài đặt, nhưng thể tích khí lưu thông trong tất cả các nhịp thở được xác định
bằng mức cài đặt. Bệnh nhân khởi động nhịp thở bằng ngưỡng đáp ứng áp lực
hoặc ngưỡng đáp ứng dòng khí.
Vai trò của thông khí hỗ trợ / điều khiển: Những bệnh nhân có bệnh lý sọ
não thường có phổi lành, suy hô hấp có thể xuất hiện, diễn biến cấp tính rồi
dần dần hồi phục hoàn toàn. Hỗ trợ thông khí cho người bệnh và giúp người
bệnh thôi thở máy càng sớm càng tốt.
Thông khí hỗ trợ điều khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV)
Là phương pháp phối hợp hô hấp nhân tạo tần số thấp với nhịp thở tự
nhiên của bệnh nhân.
Máy đẩy một thể tích nhất định bắt buộc đồng thì với một nhịp thở tự
nhiên của bệnh nhân.
22
Máy giúp bệnh nhân thở tự nhiên trong phần lớn thời gian, tần số thở
điều khiển sẽ được giảm dần để trở thành thở tự nhiên. Giúp cho việc cai thở
máy được dễ dàng hơn, giảm bớt tác hại về huyết động. Áp dụng trong giai
đoạn bệnh nhân đang hồi phục, không còn tăng áp lực nội sọ, chuẩn bị để thôi
thở máy.
1.2.3. Theo dõi trong quá trình thở máy:
Giới hạn phân áp CO2 trong máu động mạch (PaCO2):
Bình thường PaCO2 trong cơ thể từ 35 đến 45 mmHg. Chỉ cần tăng nhẹ
CO2 cũng gây giãn mạch não dẫn đến phù não, vì vậy bệnh nhân có phù não
cần hạn chế tăng CO2. Giảm CO2 có tác dụng chống phù não.
Giới hạn phân áp ôxy (PaO2):
Bình thường phân áp ôxy trong máu động mạch từ 90 đến 100 mmHg
đây cũng là giới hạn lý tưởng cho bệnh nhân thở máy. Nếu PaO2 dưới
80mmHg là hạ oxy máu.
Độ bão hòa oxy trong máu động mạch (SaO2):
Độ bão hòa ôxy trong máu động mạch có mối tương quan chặt chẽ với
phân áp ôxy trong máu động mạch khi PaO2 75- 100mmHg, thì độ bão hòa ôxy
trong khoảng 95 – 100%. Khi SaO2 giảm thì độ bão hòa ôxy cũng giảm. Mối
liên hệ này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố pH, PaCO2, carboxyhemoglobin
(COHb).
Áp lực đường thở: áp lực đường thở trung bình từ 5 – 10 cmH2O.
Theo dõi tình trạng tăng áp lực nội sọ qua lâm sàng: phản xạ đồng
tử, mức thay đổi ý thức (GCS), vận động.
Theo dõi nhịp tim, huyết áp:
Theo dõi nhiễm khuẩn bệnh viện:
Các bệnh nhân thở máy có nguy cơ nhiễm khuẩn cao do:
23
- Đặt ống nội khí quản – mở khí quản.
- Vi khuẩn từ đường dẫn khí của máy thở đi vào đường hô hấp.
- Đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm.
- Vi khuẩn ở răng miệng, đường tiêu hóa đi lên cư trú ở hầu họng và vào
đường hô hấp do bệnh nhân hít vào.
Theo dõi xẹp phổi:
Xẹp phổi cũng là biến chứng thường gặp trong các bệnh nhân thông khí
nhân tạo. Nguyên nhân xẹp phổi thường do thông khí nhân tạo với thể tích
thấp, tắc nghẽn đường hô hấp do sặc đờm hoặc sử dụng nồng độ ôxy trong khí
thở quá cao (trên 60% quá 24 giờ).
Phòng chống xẹp phổi bằng các biện pháp như cho bệnh nhân thở thể tích
khí lưu thông cao, dùng áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP) để duy trì thể tích
phổi, hoặc làm sạch đường hô hấp bằng hút đờm, tránh sử dụng nồng độ ôxy
trong khí thở cao.
1.2.4. MKQ trên bệnh nhân thở máy
1.2.4.1. Thời điểm MKQ.
Khi bệnh nhân có suy hô hấp đe dọa tính mạng cần được hô hấp hỗ trợ kịp
thời thì đặt NKQ là biện pháp được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả nhất
trong kiểm soát đường thở, nếu đặt NKQ không thể thực hiện được thì MKQ
cấp cần được tiến hành nhanh chóng để kiểm soát đường thở và thực hiện
bóp bóng hay thông khí nhân tạo qua canuyn MKQ nếu cần.
Với những bệnh nhân đã được đặt NKQ trước đó mà trong thời gian ngắn
chưa thể rút ống NKQ được hay bỏ máy thở được thì khoảng thời gian lý
tưởng là bao nhiêu ngày sau khi đặt NKQ. Điều quan trọng nhất để duy trì
ống NKQ là sự chịu đựng của bệnh nhân, nên mở khí quản cho những bệnh
nhân bán mê hay tỉnh thường hay lắc đầu, luôn cựa quậy tìm mọi cách chống
lại sự khó chịu và tổn thương do ống NKQ tì vào. Ống NKQ có thể lưu lại
trong khoảng vài tuần nếu như được theo dõi và chăm sóc tốt ở những bệnh
24
nhân hôn mê hoặc bệnh nhân tỉnh cộng tác với thầy thuốc [1].
Charles khuyến cáo [11]:
+ Ống NKQ có thể lưu tới 10 ngày.
+ Nên MKQ khi cần lưu ống trên 21 ngày.
+ Nếu không biết trước thời gian phải lưu ống NKQ, chúng ta phải theo dõi
đánh giá chỉ định MKQ hàng ngày, nếu có chỉ định phải tiến hành mở ngay.
Các tác giả khác cho rằng nên MKQ sau một tuần đặt NKQ, tiên lượng
bệnh nhân phải thở máy kéo dài, những bệnh nhân cai máy thở khó khăn,
bệnh nhân có bệnh lý thần kinh nặng có suy hô hấp…[30],[31],[32],[33].
1.2.4.2. Chỉ định MKQ.
- Bệnh nhân cần TKNT dài ngày (đặc biệt các bệnh nhân có tổn thương ở
thân não, tổn thương nặng ở não, chấn thương tủy sống cổ) [34],[35].
- Bệnh nhân hôn mê có chỉ số GCS ≤ 8 điểm [34],[36]. Ý thức trì trệ,
không cải thiện khi đã kiểm soát được hô hấp.
- Bệnh nhân không có khả năng ho khạc, ứ đọng đờm dãi.
- Trong cai thở máy [1],[37].
1.2.4.3. Lợi ích MKQ.
Ngoài những lợi ích của MKQ nói chung, MKQ trên bệnh nhân TKNT
còn có các lợi ích sau:
- Giảm tỷ lệ viêm phổi: MKQ sớm, MKQ muộn hay duy trì canuyn
MKQ nhằm mục đích cai thở máy thành công, tránh biến chứng viêm phổi
bệnh viện cho bệnh nhân. Cai thở máy muộn được coi là nguyên nhân dẫn tới
viêm phổi bệnh viện [22],[38].
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên Thế giới đã kết luận rằng những
bệnh nhân có MKQ và MKQ sớm có nguy cơ viêm phổi bệnh viện thấp hơn
gấp 0,88 lần so với nhóm không MKQ và MKQ trì hoãn [39], [37].
Một nghiên cứu khác của Rumbark tiến hành trên 120 bệnh nhân hồi sức
25
nội khoa cho thấy viêm phổi ở nhóm bệnh nhân MKQ sớm là 5%, thấp hơn
nhóm MKQ trì hoãn 25% [3].
- Giảm thời gian thở máy [3].
- Giảm số ngày dùng an thần [3].
- Giảm thời gian nằm viện [3].
- Dễ dàng vệ sinh đường thở.
- Giúp cai máy thở (đặc biệt trong cai máy thở khó) [39],[37]: MKQ làm
giảm sức cản đường thở hơn so với NKQ, chính hiệu qủa làm giảm sức cản
đường thở, giảm khoảng chết giải phẫu đảm bảo thể tích lưu thông, đã làm
giảm công thở nên có vai trò quan trọng trong cai thở máy.
- Giảm tỉ lệ tử vong [3].
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân bệnh lý sọ não sau phẫu thuật sọ
não có chỉ định MKQ - thở máy được điều trị tại khoa Gây mê hồi sức bệnh
viện Bạch Mai.