BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
CHỬ THỊ THU HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM RĂNG VÀ CUNG RĂNG
VĨNH VIỄN TRÊN TRẺ KHE HỞ MÔI
VÒM MIỆNG 10-15 TUỔI ĐÃ PHẪU
THUẬT ĐÓNG KHE HỞ PHẦN MỀM
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
CHỬ THỊ THU HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM RĂNG VÀ CUNG RĂNG VĨNH
VIỄN TRÊN TRẺ KHE HỞ MÔI VÒM
MIỆNG 10-15 TUỔI ĐÃ PHẪU THUẬT
ĐÓNG KHE HỞ PHẦN MỀM
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 60720601
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương
2. TS. Quách Thị Thúy Lan
HÀ NỘI – 2018
BẢN CAM KẾT
Tên tôi là: Chử Thị Thu Hương.
Học viên lớp: Bác sĩ nội trú khóa 42 - chuyên ngành Răng Hàm Mặt
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong đề cương luận văn này là của tôi,
Không có sự sao chép của người khác.
Hà Nội, ngày
tháng năm 2018
Học viên
Chử Thị Thu Hương
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KHMVM
: Khe hở môi – vòm miệng
KHM
: Khe hở môi
KHVM
: Khe hở vòm miệng
VM
: Vòm miệng
NST
: Nhiễm sắc thể
HNTH
: Hàm nhỏ thứ hai
HT
: Hàm trên
HD
: Hàm dưới
LS
: Lâm sàng
XQ
: X-Quang
XOR
: Xương ổ răng
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khe hở môi vòm miệng là một trong những loại dị tật bẩm sinh thường
gặp nhất vùng hàm mặt. Tỉ lệ khe hở môi vòm miệng khác nhau tùy từng
quốc gia, vùng lãnh thổ từ 1- 2,69/1000 trẻ [1] [2].
Ở Việt Nam theo tác giả Trần Văn Trường, tỉ lệ này vào khoảng 0,10,2%. Ước tính hằng năm, có khoảng 1500-3000 trẻ mới sinh mắc dị tật này,
trong đó khoảng 40% là KHVM [3].
Phần lớn khe hở môi vòm miệng xuất hiện là do sự kết hợp của các yếu
tố di truyền và môi trường.
Bệnh nhân khe hở môi vòm miệng phải đối mặt với rất nhiều vấn đề và việc
làm giảm bớt các tổn thương về thẩm mỹ và chức năng là một thách thức lớn.
Bệnh lý này gây rối loạn về hình thái giải phẫu và chức năng, đặc biệt
ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của răng và cung răng hàm trên.
Ngoài việc cung răng thường bị biến dạng, kích thước cung răng hàm trên
trong bệnh lý KHMVM hẹp hơn ở người bình thường, chủ yếu ở vùng răng
trước. Rối loạn mọc răng rất hay gặp đặc biệt ở trẻ có khe hở cung hàm. Các
răng ở cạnh khe hở cung hàm là răng cửa và răng nanh thường thiếu bẩm
sinh, mọc xoay lệch trục, răng hình dạng bất thường hay mọc ngầm. Biến
dạng cung hàm như hình bậc thang kéo theo lệch lạc răng dẫn đến khớp cắn
biến dạng. Đặc biệt sau phẫu thuật đóng khe hở thường gây lép cung hàm
phía trước, hẹp hàm trên dẫn đến khớp cắn ngược phía trước và cắn chéo phía
sau. Rối loạn mọc răng và biến dạng cung răng là tổn thương nặng và điều trị
rất khó khăn và tốn kém.
KHMVM không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến
phát triển về thể chất, ngôn ngữ. Trẻ không bú được do không tạo được áp lực
9
âm, ăn uống dễ bị sặc, rối loạn phát âm và rất hay gặp trẻ bị suy dinh dưỡng
do nhiều yếu tố khác nhau và mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên.
Ở nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm, kích thước cung răng
cũng như các bất thường răng vĩnh viễn trên bệnh nhân KHMVM. Tuy nhiên
ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đầy đủ. Đánh giá chi tiết những điều này
giúp cho bác sĩ Răng Hàm Mặt có cái nhìn tổng quát về các bất thường răng
và cung răng hay gặp trên bệnh nhân KHMVM để từ đó có kế hoạch điều trị
hợp lý. Dựa trên yêu cầu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc
điểm răng và cung răng vĩnh viễn trên trẻ khe hở môi vòm miệng 10-15
tuổi đã phẫu thuật đóng khe hở phần mềm” với hai mục tiêu sau đây:
1.
Xác định đặc điểm cung răng vĩnh viễn và khớp cắn ở trẻ khe hở môi
vòm miệng 10-15 tuổi đã phẫu thuật đóng khe hở phần mềm.
2.
Đánh giá những bất thường về răng ở trẻ khe hở môi vòm miệng 10-15
tuổi đã phẫu thuật đóng khe hở phần mềm.
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khe hở môi và vòm miệng
1.1.1. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và phân loại khe hở môi vòm miệng
1.1.1.1. Nguyên nhân
Theo Dimitrieva (1964) [4], thì có hai yếu tố có thể tác động đến bà mẹ
sinh con có KHMVM
a, Yếu tố ngoại lai: những yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình mang thai
- Yếu tố vật lý: phóng xạ, tia X, cơ học, nhiệt độ…
- Yếu tố hóa học: thuốc trừ sâu, dioxin, chì,…
- Yếu tố sinh học: vi khuẩn, virus…
- Yếu tố thần kinh: stress
b, Yếu tố nội tại:
- Di truyền
- Khiếm khuyết NST
- Ảnh hưởng của tuổi, nòi giống
Theo Rosenthal [5], yếu tố ngoại lai chiếm 70% và yếu tố nội tại chiếm 30%
Theo Gabka phân tích 2500 bệnh án KHMVM, thấy: [6]
- Không thấy nguyên nhân 23.2%
- Di truyền 15,1%
- Lo lắng, stress 10,9%
- Mẹ trên 40 tuổi 6,7%
- Nhiễm độc nhau thai 6,7%
- Hay chảy máu khi có thai 5,1%
- Mắc virus thời kỳ mang thai 3,4%
11
1.1.1.2. Cơ chế bệnh sinh
Có nhiều thuyết giải thích sự hình thành KHMVM trong quá trình mang
thai, trong số đó có thuyết “nụ mầm” là được công nhận và đáng tin cậy.
Thuyết “nụ mầm” giải thích quá trình hình thành môi và vòm miệng là
do các nụ mặt giáp dính với nhau. Dưới tác động của các yếu tố ngoại lai và
nội tại làm cho quá trình trung bì hóa không xảy ra giữa các nụ mặt nên chúng
không giáp dính lại với nhau.
Theo thuyết “nụ mầm”, ở tháng thứ 2 của thời kỳ bào thai, môi trên, mũi,
vòm miệng đã được hình thành và phát triển tương đối đầy đủ. Trong những
ngày đầu của giai đoạn này, xung quanh lỗ miệng của ống phôi nguyên thủy
(thuộc trung bì) xuất hiện 5 trung tâm phát triển là 5 nụ mặt gồm “nụ trán” ở
giữa, hai “nụ hàm trên”, “nụ hàm dưới” ở hai bên. Từ mỗi bên của nụ trán
phát triển ra 2 “nụ mũi giữa” và “nụ mũi bên”. Ba nụ mũi giữa, bên và hàm
trên phát triển dần, đến gần và hợp nhất với nhau để hình thành và phát triển
thành mũi, hàm trên và môi trên. Nụ hàm dưới hai bên hình thành hàm dưới
và cằm. Quá trình phát triển của các cơ quan này diễn ra một cách hoàn chỉnh
nếu không có tác nhân tác động vào.
- Các tác nhân đã nêu ở trên tác động và ngăn cản làm chậm hoặc không
cho các nụ mặt ở một vị trí nào đó phát triển không hoàn chỉnh, để lại các di
chứng là các khe hở ở môi trên và vòm miệng. Đó là các dị tật bẩm sinh
KHMVM
1.1.1.3. Phân loại
Khe hở môi và vòm miệng được phân loại theo Kernahan và Stark
(1958). Cách phân loại này được nhiều tác giả chấp nhận bởi nó phù hợp
với bào thai học, lấy lỗ răng cửa làm ranh giới giữa VM tiên phát và thứ phát
[7]. Theo đó, mỗi một dạng khe hở lại được chia thành 3 mức độ.
12
a. Khe hở tiên phát:
Bao gồm khe hở môi và khe hở cung hàm (trước lỗ răng cửa).
* Khe hở môi:
- Độ 1: Khuyết môi đỏ
- Độ 2: Khe hở làn môi đỏ tới 1/2 da môi – mũi
- Độ 3: Khe hở môi tới hốc mũi
* Khe hở cung hàm
- Độ 1: Có vết hằn ở vùng răng cửa bên
- Độ 2: Khe hở ở vùng ổ răng
- Độ 3: Khe hở tới lỗ răng cửa
b. Khe hở thứ phát (khe hở VM sau lỗ răng cửa)
* Khe hở vòm miệng mềm:
- Độ 1: Khe hở lưỡi gà
- Độ 2: khe hở luỡi gà tới 1/3 VM mềm
- Độ 3: Khe hở toàn bộ VM mềm.
* Khe hở vòm miệng cứng:
- Độ 1: Khe hở từ lưỡi gà tới 1/3 sau VM cứng
- Độ 2: Khe hở tới 2/3 sau VM cứng
- Độ 3: Khe hở tới lỗ răng cửa.
c. Khe hở phối hợp môi – vòm miệng tiên phát và thứ phát.
- Loại 1: không thông suốt: khe hở môi không toàn bộ và khe hở vòm
miệng không toàn bộ.
- Loại 2: Hở thông suốt từ trước ra sau.
d. Khe hở hiếm và khe hở trong hội chứng
Năm 1971 Kernahan đưa ra một sơ đồ phân loại và chia độ có tính biểu
tượng đơn giản và dễ nhìn hơn theo chữ Y như sau:
13
1 và 4: tương ứng với môi
2 và 5: tương ứng với xương ổ răng
3 và 6: tương ứng cung hàm trước lỗ
răng cửa
7 và 8: tương ứng VM cứng
9 : tương ứng VM mềm
Hình 1.1: Sơ đồ chữ Y [8]
1.1.2. Tình hình khe hở môi vòm miệng trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1. Trên thế giới
Theo tác giả Greory J Wiet, KHMVM có thể chẩn đoán sớm ngay từ
tuần thứ 17 của thai kỳ bằng phương pháp siêu âm.
Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới đều kết luận rằng tỉ lệ trẻ khe hở
môi vòm chiếm khoảng 1/700 trẻ mới sinh. Dữ liệu quốc tế từ năm 1993-1998
đưa ra tỷ lệ mắc khe hở môi vòm miệng ở trẻ mới sinh bị khe hở môi có hoặc
không có khe hở VM là 3,4 đến 22,9/10000 trẻ, tỷ lệ trẻ chỉ có khe hở VM là
1,3-25,3/10000 trẻ [9].
Tỷ lệ bệnh nhân cũng thay đổi khác nhau theo từng vùng địa lý. Tỷ lệ
cao hơn được thấy ở châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản) và Nam Mỹ (Bolivia,
Paraguay), trong khi Israel, Nam Phi và Nam Âu thấy tỷ lệ thấp hơn. Châu Á
và chây Mỹ được báo cáo tỷ lệ cao nhất là 1/500 trong khi của châu Âu xấp xỉ
1/1000 và châu Phi là 1/2500 [10] .
14
Khe hở vòm miệng tỷ lệ cao nhất được ghi nhận trên thế giới là 10,0 đến
14,0/10000 ở Phần Lan, tiếp theo đó là Scotland với tỷ lệ 8,0/10000.
Tỷ lệ cũng khác nhau giữa nam và nữ. KHM có hoặc không kèm
KHVM thì thường gặp ở nam còn KHVM riêng thì thường gặp ở nữ hơn ở
các nhóm người khác nhau, tỷ số giữa hai giới thay đổi theo mức độ nặng của
khe hở [11].
Ở người da trắng, tỷ lệ giới của trẻ KHM có hoặc không có KHVM là
2:1 (nam:nữ) [11] Ở Nhật Bản, tỷ lệ KHM và KHVM chênh lệch một cách rõ
ràng ở nữ trong khi khe hở môi đơn thuần thì không [12].
Ở người da trắng, sự tăng tỷ lệ nam mắc KHM kèm hoặc không kèm
KHVM có mối liên quan rõ ràng với mức độ trầm trọng của khe hở và ít rõ
ràng khi có nhiều hơn một anh chị em ruột bị ảnh hưởng [13],[14]. Ngược lại
tỷ lệ ưu thế của nam có KHM kèm hoặc không kèm KHVM thấp hơn khi trẻ
sơ sinh mắc bệnh hệ thống khác [9] và phát hiệnmột nghiên cứu lớn cho thấy
ưu thế ở trẻ nữ khi người bố từ 40 tuổi trở lên [15].
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu trong 10 năm (1976 – 1986) tại bệnh viện
Phụ sản và Viện RHM thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Kim Hương và
Trần Ngọc Quang Phi báo cáo trong 91.271 trẻ sinh ra thì trẻ bị KHMVM
chiếm 0,2%. Trong 1664 trường hợp KHMVM được phẫu thuật, nam chiếm
802 (48,2%), nữ chiếm 862 (51,8%). Có 53,88% là KHM kết hợp KHVM,
14,2% là KHVM đơn thuần, còn lại 31,92% là KHM [16].
Nhận xét về tình hình dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt ở một số tỉnh
biên giới phía bắc, Nguyễn Nguyệt Nhã (1996) ở Viện bảo vệ sức khoẻ trẻ em
thấy trong số 952 trẻ được phẫu thuật có 592 trẻ bị KHM, 272 cháu bị
KHMVM, chỉ có 57 trẻ bị KHVM [17].
15
Tại viện RHM Hà Nội, trong 1447 cháu có dị tật bẩm sinh được phẫu
thuật từ 1957 – 1974, Nguyễn Văn Thụ, Mai Đình Hưng đã đưa ra thống kê là
40,1% KHM phối hợp KHVM; KHM 43%; KHVM chiếm 14,3%, còn lại là
khe hở mặt hiếm [18].
Cũng tại viện RHM Hà Nội, theo Trần Văn Trường, từ năm 1975 – 1997
có 1449 cháu bị dị tật KHMVM được phẫu thuật và năm 1998 có 134 cháu
được phẫu thuật thì hơn một nửa là KHM kết hợp KHVM (51,49%); số còn
lại là KHM và KHVM đơn thuần mà trong đó KHM chiếm 56,71%, KHVM
là 43,29%.
Tại bệnh viện Việt Nam – Cuba trong 6 năm (1987- 1993) Nguyễn Huy
Phan và cộng sự đã phẫu thuật 216 ca, trong đó có 194 ca là KHM (89%), 22
ca là KHVM (11%) [19].
1.2. Đặc điểm cung răng và khớp cắn
1.2.1. Cung răng vĩnh viễn
1.2.1.1. Hình dạng của cung răng vĩnh viễn
Nhìn từ phía mặt nhai các răng được sắp xếp thành một cung (cung
răng). Về cấu trúc hình cung được xem là sự sắp xếp tạo nên tính ổn định và
vững chắc [20],[21].
Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho hai cung răng:
cung răng trên và cung răng dưới. Do răng cối lớn thứ ba thường có hoặc
không (không có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sử
dụng trên lâm sàng. Các nghiên cứu cho thấy cung răng có nhiều loại hình
dạng, kích thước có thể thay đổi theo chủng tộc và cá thể, cũng như bị ảnh
hưởng của các yếu tố về dinh dưỡng, chuyển hoá và tình trạng sức khoẻ toàn
thân và tại chỗ khác [22],[23],[24]. Một số tác giả cho rằng hình dạng cung
răng được định sẵn bởi di truyền [25],[26],[27].
16
Năm 1920, Nelson [28] đã nêu nên sự đồng dạng giữa hình dạng của
hình dạng khuôn mặt, răng và hình dạng của cung răng. Nếu răng có hình
dạng hình vuông sẽ kèm theo mặt hình vuông và cung răng cũng có dạng hình
vuông. Các tác giả đã phân biệt ba dạng cung răng là hình vuông, hình oval và
hình thuôn dài.
Nghiên cứu của Đặng Thị Vỹ thì tỷ lệ cung răng hình vuông nhiều nhất
và thấp nhất là cung răng hình thuôn dài [29].
1.2.1.2. Kích thước cung răng vĩnh viễn
Năm 1979, Angle đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các yếu
tố của hình dạng và kích thước cung răng [30]. Ông đã rút ra 4 kích thước chủ
yếu của cung răng là:
- Chiều dài trước(chiều dài vùng răng nanh): khoảng cách từ điểm
giữa hai răng cửa tới đường nối đỉnh của hai răng nanh.
- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): khoảng cách từ điểm giữa hai
răng cửa tới đường nối đỉnh của hai núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất.
- Chiều rộng trước: khoảng cách giữa hai đỉnh của hai răng nanh.
- Chiều rộng sau: khoảng cách của hai đỉnh của hai múi ngoài gần
răng hàm lớn thứ nhất.
Kích thước của cung răng có sự khác biệt theo giới tính và theo
chủng tộc, những chủng tộc càng gần nhau về nguồn gốc, khu vực địa lí sinh
sống, phong tục tập quán, thì kích thước cung răng càng ít có sự chênh lệch
và ngược lại.
Các tác giả cũng rút ra kết luận rằng: không có sự khác biệt về tỉ lệ
dạng cung răng ở nam cũng như ở nữ và cung răng ở nam lớn hơn ở nữ cả về
chiều rộng cũng như chiều dài.
Kích thước cung răng khác nhau rõ rệt giữa các dạng cung răng hình
vuông, hình ôvan và hình thuôn dài. Chiều rộng ở vùng răng nanh và răng
17
hàm ở cung răng dạng hình vuông là lớn nhất, rồi đến dạng cung răng hình
ôvan, hẹp nhất là cung răng dạng hình thuôn dài, nhưng ngược lại, chiều dài
của cung răng dạng hình thuôn dài là lớn nhất, rồi đến cung răng dạng hình
ôvan, ngắn nhất là dạng hình vuông.
Năm 1991, Huang S.T., Miura F., Soma K [31] đã nghiên cứu trên
mẫu hàm của người Trung Quốc đã rút ra rằng kích thước cung răng của nam
lớn hơn nữ, người Trung Quốc có kích thước cung răng giống người Nhật hơn
là người Nam Trung Mỹ.
Năm 1993, Raberin M., Laumon B., Martin J.L.[32] khoa chỉnh nha
của trường nha Lyon ở Pháp đã nghiên cứu phân tích trên 278 mẫu thạch cao
của người Pháp trưởng thành chưa can thiệp chỉnh nha, đã rút ra kết luận
rằng không có sự khác biệt về tỉ lệ cung răng ở nam cũng như ở nữ và cung
răng của nam lớn hơn cung răng của nữ cả về chiều rộng và chiều dài.
Trong nghiên cứu của Tancan Uysal (2005) đo trên mẫu của 150 bệnh
nhân khớp cắn bình thường thì chiều rộng trước là 34,4 ± 2,1mm và chiều
rộng sau là 50,7 ± 3,7mm, chiều dài trước là 38,6 ± 2,4mm, chiều dài sau là
58,1 ±5,3 mm [33].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương (2012) [34] trên
300 sinh viên đo được kích thước trung bình cung răng hàm trên như sau:
chiều rộng trước là 35,3 ± 2,5mm, chiều rộng sau là 52,7 ± 4,4mm, chiều dài
trước là 8,4 ± 1,7mm và chiều dài sau là 28,2 ± 2,4mm.
1.2.2. Khớp cắn
Từ trước đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về khớp cắn. Hiểu
một cách đơn giản, khớp cắn chỉ sự tương quan răng của hàm trên và răng của
hàm dưới khi tiếp xúc chức năng trong quá trình hoạt động của hàm dưới.
Răng của hàm trên và dưới tiếp xúc với nhau sao cho đảm bảo chức năng tối
18
ưu, giảm tối đa chấn thương lên tổ chức nâng đỡ và cho phép phân bố toàn bộ
lực đều lên toàn bộ hàm răng.
Đã hàng trăm năm trôi qua kể từ năm 1899, khi Edward Angle mô
tả tương quan khớp cắn bình thường và đưa ra cách phân loại sai khớp cắn.
Sau đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để mô ta khớp cắn lí tưởng, khớp
cắn chấp nhận được và khớp cắn có hại. Để giúp chẩn đoán sai khớp cắn và
lên kế hoạch điều trị cầnđánh giá tình trạng chung của những cấu trúc giải
phẫu đặc trưng và những khía cạnh chức năng của khớp cắn, đối chiếu với
quan điểm khớp cắn tối ưu.
1.2.2.1.Quan niệm về khớp cắn bình thường
a. Tương quan răng trong một cung hàm
- Chiều trước sau
Tất cả các răng đều tiếp xúc với nhau ở cả mặt gần và mặt xa ngoại
trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc ở phía gần [35].
Độ nghiêng trong ngoài của răng (nhìn từ phía trước)
+ Hàm trên: Các răng sau hơi nghiêng về phía má.
+ Hàm dưới: Các răng sau hơi nghiêng về phía lưỡi.
Đường cong Wilson:
Là đường cong lõm hướng lên trên, đi qua đỉnh núm ngoài và trong
của các răng sau hàm dưới. Đường cong Wilson kết hợp với độ cắn sâu ở
những răng sau cho phép những núm ngoài răng dưới trượt hài hòa trên sườn
trong của núm ngoài răng trên khi đưa hàm sang bên.
Độ nghiêng gần xa của răng
+ Hàm trên: Các răng trước nghiêng gần, các răng sau nghiêng xa.
+ Hàm dưới: Các răng trước và sau đều nghiêng gần. Các răng cối thứ
hai và thứ ba nghiêng về phía gần nhiều hơn các răng cối nhỏ.
19
Đường cong Spee: Theo nghiên cứu của Hoàng Tử Hùng và Nguyễn
Thị Kim Anh [35], đường cong Spee ở cung răng vĩnh viễn người trẻ là một
đường cong lõm hướng lên trên, đi qua đỉnh răng nanh và đỉnh núm ngoài của
các răng cối nhỏ và lớn hàm dưới, với nơi thấp nhất nằm ở đỉnh múi gần
ngoài của răng cối lớn thứ nhất. Độ sâu trung bình của đường cong Spee ở
người Việt Nam được ghi nhận ở nam là 2,019 mm, ở nữ là 1,792mm ở cả nam
và nữ là 1,912mm. Đường cong Spee với độ nghiêng theo chiều trước sau của
răng nanh và những răng cối là một yếu tố quan trọng để ổn định hai hàm.
b. Tương quan răng hai hàm
Chiều trước sau:
Tương quan răng nanh
+ Loại I: Đỉnh của răng nanh hàm trên trùng với đường giữa răng
nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới.
+ Loại II: Đỉnh của răng nanh hàm trên ở phía trước đường giữa
răng nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới.
+ Loại III: Đỉnh của răng nanh hàm trên ở phía sau đường giữa
răng nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới.
Tương quan răng 6:
+ Loại I: Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên
khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
+ Loại II: Đỉnh núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên nằm
về phía gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
+ Loại III: Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên
nằm về phía xa so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
Chiều đứng:
Độ cắn trùm: là khoảng cách giữa rìa cắn răng cửa trên và răng cửa
dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp. Trung bình độ cắn trùm bằng
20
1/3 chiều cao thân răng cửa dưới. Độ cắn trùm thay đổi tùy theo dân tộc. Độ
cắn trùm trung bình ở người Việt Nam là 2,89 mm. (Đống Khắc Thẩm và
Hoàng Tử Hùng – 2000) [36].
Chiều ngang:
Độ cắn chìa: là khoảng cách giữa rìa cắn răng cửa trên và dưới
theo chiều trước sau. Độ cắn chìa thay đổi theo tuổi, giới, dân tộc. Độ cắn
chìa trung bình ở người Việt Nam: 2,79 mm. (Đống Khắc Thẩm và Hoàng Tử
Hùng 2000) [36].
1.2.2.2. Phân loại lêch lạc khớp cắn theo Angle
Phân loại sai khớp cắn của Edward H. Angle là cách phân loại có
tính hữu dụng đầu tiên và ngày nay vẫn được ứng dụng rất nhiều. Angle coi
răng hàm lớn thứ nhất hàm trên là một mốc giải phẫu cố định và là chìa khóa
của khớp cắn.
Theo Angle, khớp cắn bình thường là khớp cắn có múi ngoài gần
của răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của
răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới , và các răng trên cung hàm sắp xếp
theo một đường cắn khớp đều đặn [20]. Angle chia sai khớp cắn thành 3 loại:
- Khớp cắn sai loại I
Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh
ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, đường cắn khớp không đúng,
có lệch lạc ở một số vùng hoặc một số răng(do các răng khấp khểnh, xoay...).
Hình 1.2: Sai khớp cắn loại I [20]
- Khớp cắn sai loại II
21
Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở về phía
gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Khớp cắn sai
loại II được chia thành hai tiểu loại:
+ Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V với các răng cửa
trên nghiêng về phía môi (vẩu), độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm vào
mặt trong các răng cửa trên.
+ Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong nhiều,
trong khi các răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngoài khỏi răng cửa
giữa, độ cắn trùm tăng, cung răng hàm trên ở vùng răng nanh thường rộng
hơn bình thường.
Hình 1.3: Sai khớp cắn loại II [20]
- Khớp cắn sai loại III
Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở về phía xa
so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Các răng cửa dưới
có thể ở phía ngoài các răng cửa trên (cắn chéo răng cửa).
Hình 1.4: Sai khớp cắn loại III [20]
22
Tóm lại, phân loại khớp cắn của Angle gồm có 4 hạng: khớp cắn
bình thường, sai khớp cắn hạng I, II và III. Khớp cắn bình thường và khớp
cắn sai loại I có tương quan răng hàm lớn hàm trên, hàm dưới giống nhau
nhưng khác nhau ở sự sắp xếp của các răng so với đường cắn khớp. Đường
cắn khớp này có thể đúng hoặc không trong khớp cắn sai loại II và loại III.
Ưu, nhược điểm của phân loại khớp cắn theo Angle:
* Ưu điểm: Phân loại sai khớp cắn của Angle là một bước tiến rất quan
trọng, nó không chỉ phân loại một cách có trật tự các loại khớp cắn sai mà còn
định nghĩa đơn giản và rõ ràng về khớp cắn bình thường của hàm răng thật,
bằng cách này đã có thể phân biệt được khớp cắn bình thường và khớp cắn sai.
Ngày nay, cách phân loại này được ứng dụng nhiều trong Răng Hàm Mặt
nói chung và chỉnh nha nói riêng vì nó tương đối đơn giản, dễ nhớ và chẩn
đoán nhanh.
* Nhược điểm: Ngay từ giai đoạn đầu, người ta đã nhận thấy cách phân
loại của Angle không hoàn thiện vì nó không bao gồm hết các thông tin
quan trọng của bệnh nhân.
- Không nhận ra sự thiếu ổn định của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất
hàm trên: răng hàm sữa thứ hai bị nhổ sớm sẽ làm răng hàm lớn thứ nhất
di gần...
- Angle căn cứ vào răng hàm lớn thứ nhất để phân loại. Như vậy,
không thể phân loại được trong những trường hợp thiếu răng hàm lớn thứ
nhất hoặc trên bộ răng sữa.
- Sai khớp cắn chỉ được đánh giá theo chiều trước sau, không đánh
giá được theo chiều đứng và chiều ngang.
- Các trường hợp sai lạc vị trí của từng răng không được tính đến.
- Không chú ý đến yếu tố xương hàm và nét mặt nhìn nghiêng.
23
1.2.3. Các phương pháp đo đạc và phân tích hình thái cung răng
Công việc quan sát đánh giá răng cung răng giúp bác sĩ phân tích được
những kích thước cần thiết và những bất thường cung răng. Các nghiên cứu
cần kết hợp giữa quan sát và việc đo đạc, phân tích trên cơ sở khoa học: bao
gồm phân tích trên phim, mẫu hàm hoặc trực tiếp trên miệng. Việc quan sát
bằng mắt, phân tích trực tiếp trên miệng cho ta biết chính xác và trực quan
hơn kích thước thật của răng, tình trạng khớp cắn tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn
chế: khó xác định điểm mốc trên miệng, khó đưa dụng cụ chuyên dụng vào
miệng. Việc đo trên phim và ảnh chụp mặc dù nhanh chóng, hiện đại nhưng
có nhiều sai số do phụ thuộc vào tỷ lệ giữa phim và kích thước thật. Do đó
mẫu hàm thạch cao được xem là công cụ quan trọng trong điều trị chỉnh nha
cũng như nghiên cứu.
1.2.3.1. Đo trên mẫu hàm số hóa
Công nghệ kỹ thuật số ngày càng phát triển cho phép bác sĩ có thể làm
việc trên mẫu hàm số hóa thay thế cho mẫu hàm thông thường. Ngày nay có
nhiều phần mềm tiên tiến nhưng đều dựa trên 2 loại số hóa chính: số hóa gián
tiếp và số hóa trực tiếp.
Số hóa gián tiếp: máy sẽ ghi nhận hình ảnh và phân tích thông qua mẫu
hàm nghiên cứu bằng tay (sau khi lấy dấu, đổ mẫu và gỡ mẫu).
Số hóa trực tiếp: có thể thực hiện trực tiếp ngay trong phòng khám, máy
tính sẽ cho phép bác sĩ có được hình ảnh cung răng 2D hoặc 3D thông qua
việc khám trực tiếp trong miệng.
Một số phần mềm có thể kể đến là OrthoCAD, E Model… mà phần mềm
được sử dụng nhiều nhất và toàn diện nhất là OrthOCAD được ra đời vào
khoảng năm 2000. Phần mềm có thể thu và trình bày mẫu hàm nghiên cứu
trên máy tính dưới dạng ảnh không gian ba chiều [37].
24
Hình 1.5: Hình ảnh mẫu hàm trong phần mềm OrthoCAD [37]
Phần mềm này có nhiều thuận lợi: cho phép chuyển đổi toàn bộ dữ liệu,
tài liệu chỉnh nha dưới dạng kỹ thuật số, việc lưu trữ không giới hạn. Ngoài ra
nó còn hạn chế sai sót do xử lý thạch cao mà tiềm ẩn nhiều nguy cơ bọng, vỡ.
Tuy nhiên, hình ảnh OrthoCAD mang đến là hình ảnh ba chiều nhưng vẫn chỉ
nhìn được hai chiều trên màn hình, do đó việc xác định điểm, trục và các mặt
phẳng đo sẽ gặp khó khăn.
1.2.3.2. Đo bằng thước trượt trên mẫu hàm thạch cao
Thước trượt thông thường có dộ chính xác lên đến 1/10 mm, được sử
dụng nhiều trong các nghiên cứu kích thước răng và cung răng. Nhiều nghiên
cứu cho rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc đo đạc các
kích thước theo chiều gần xa của các răng ở cả hai hàm bằng phương pháp vi
tính so với phương pháp cổ điển (đo trực tiếp mẫu hàm thạch cao bằng thức
trượt thông thường) [37],[38] Do đó, đây là phương pháp thông dụng, chính
xác, tin cậy, có thể lặp lại.
25
Hình 1.6: Thước trượt thông thường
Thước trượt điện tử có tính năng tương tự với thước trượt thông thường.
Ưu điểm của thước trượt điện tử so với thước trượt thông thường là độ chính
xác lên đến 1/100 mm, màn hình hiển thị số, cho phép người nghiên cứu có
thể dễ dàng xác định cũng như cho kết quả chính xác hơn.
Nhiều tác giả nghiên cứu so sánh giữa phân tích trên mẫu hàm số hóa và
thước trượt điện tử đo trên mẫu hàm thạch cao thông thường thì cả hai đều
cho kết quả chính xác và lặp lại được, tuy nhiên thước trượt điện tử lại đem
lại kết quả chính xác hơn.
Hình 1.7: Thước trượt điện tử
Nhìn chung ở Việt Nam, mẫu hàm số hóa chưa thực sự thông dụng và áp
dụng cho cộng đồng còn hạn chế. Do đó việc sử dụng thước trượt điện tử trên
mẫu thạch cao vẫn là phương pháp hiệu quả thích hợp cho việc đánh giá kích
thước cung răng với độ chính xác cao.
1.3. Các nghiên cứu về răng và cung răng ở trẻ KHMVM trước đây
1.3.1. Đặc điểm răng vĩnh viễn ở trẻ khe hở môi vòm miệng trong các
nghiên cứu trước đây
Bệnh lý khe hở môi vòm miệng gây rối loạn về hình thái giải phẫu và
chức năng, đặc biệt ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của răng và
cung răng hàm trên.