Tải bản đầy đủ (.doc) (87 trang)

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (403.8 KB, 87 trang )

1

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ
Ở HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY


2

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Trang
7



2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

8

3. Mục đích nghiên cứu

10

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

10

5. Giả thuyết khoa học



10

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

10

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

11

8. Phương pháp nghiên cứu

11

9. Cấu trúc luận văn

11

10. Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

11

NỘI DUNG

13

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH

13






ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận

13

1.1.1. Khái niệm bản chất và những đặc trưng chủ yếu của lý luận

13

chính trị
1.1.2. Khái niệm cán bộ, cán bộ chủ chốt và đội ngũ cán bộ chủ chốt

27

cấp cơ sở
1.1.3. Vai trò của lý luận chính trị trong hoạt động lãnh đạo, quản lý

33

của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
1.2. Cơ sở thực tiễn

39


1.2.1. Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của

39

huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
1.2.2. Đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày

43

Bắc, tỉnh Bến Tre


3

1.2.3. Những nội dung cơ bản của việc nâng cao trình độ lý luận


47

chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện ở Mỏ Cày
Bắc, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
Tiểu kết chương 1

50

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH

52


ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

52

chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre hiện nay
2.1.1. Những kết quả đạt được trong việc nâng cao trình độ lý luận

52

chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày
Bắc, Bến Tre
2.1.2. Một số hạn chế trong việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho

59

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre
2.1.3. Những nguyên nhân của hạn chế

64

2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị

66

của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc,
tỉnh Bến Tre trong thời gian tới
2.2.1. Phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội làm cơ sở cho việc nâng cao


66

trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre
2.2.2. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và đoàn thể xã

68

hội về việc thường xuyên trau dồi, đổi mới công tác bồi dưỡng lý

luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở



2.2. 3. Đổi mới hoàn thiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở
2.2.4. Rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận – giải
pháp từ phía đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của huyện Mỏ Cày

74
75


4
Bắc.
2.2.5 Cán bộ chủ chốt cần nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê

78


bình trong Đảng
Tiểu kết chương 2

80

KẾT LUẬN

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

85

KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1

CBCC

:

Cán bộ chủ chốt

2

NQTW

:

Nghị quyết Trung ương



5

3

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

4

KT-XH

:

Kinh tế-xã hội

5

MTTQ

:

Mặt trận tổ quốc

6

XHCN


:

Xã hội chủ nghĩa

7

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

8

LL

:

Lý luận

9

LLCT

:

Lý luận chính trị

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việc học tập lý luận chính trị luôn được Hồ Chí Minh lưu tâm. Người
nói: “Không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa, thấy rộng,


6
trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là mù chính trị thậm chí hủ
hóa, xa rời cách mạng và ít nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn cho nên
gặp thắng lợi thì lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dao động, bi quan, lập trường
cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động
sáng tạo. Do đó gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo hạn
chế”. Người luôn nhắc nhở Đảng ta: “Không có lý luận cách mạng thì không
có phong trào cách mạng và chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn
thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”. Để làm được điều đó
Đảng ta cần đội ngũ cán bộ chủ chốt có đầy nhiệt huyết và có kiến thức lý luận
chính trị, có tư duy lý luận chính trị tốt để đáp ứng được những yêu cầu trong
xây dựng đất nước hiện nay.
Phát triển KT-XH và quốc phòng - an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa
phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung cho xã hội đòi hỏi người cán bộ
chủ chốt nhất là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở không ngừng nâng cao năng lực và
trình độ lý luận chinh trị. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở cần nắm vững và
nắm chắc lý luận chinh trị thì mới vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ
trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước vào tình
hình thực tế ở địa phương. Nâng cao trình độ lý luận chinh trị không chỉ giúp
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có thể tổng kết một cách có hiệu quả tình
hình thực tiễn ở địa phương, mà còn rút ra những bài học kinh nghiệm, những
kết luận quý báu góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung vào lối làm việc. Từ những
nhận định trên, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở cần phải trang bị cho mình có kiến
thức toàn diện, đặc biệt là trình độ LLCT, để thực hiện tốt công việc được cấp
trên giao.

Ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, H Đ H đất nước đội ngũ cán
bộ chủ chốt các cấp ở nước ta nói chung và trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc
nói riêng đa số đã cán bộ được sự quan tâm của cấp ủy đã được đưa đi


7
đào tạo LLCT, tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế, yếu kém về: phẩm
chất đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn và lý luận chinh trị, năng lực
chỉ đạo, năng lực tổ chức quản lý,… Một số cán bộ được quy hoạch hoặc đề
bạt giữ chức vụ chủ chốt nhưng chưa qua đào tạo cơ bản về LLCT. Do đó, khi
tiếp cận công việc và giải quyết công việc còn chậm, theo lối mòn, tùy tiện,
…Vì vậy, việc đưa các giải pháp nhằm nâng cao trình độ lý luận chinh trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có ý nghĩa hết sức quan trọng, để phát triển
kinh tế, xã hội địa phương. Vì thế, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao trình độ
lý luận chinh trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc
tỉnh Bến Tre hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nâng cao trình độ lý luận chinh trị cho cán, đảng viên và cho chủ
chốt cấp cơ sở đã đề cập nhiều trong các văn bản của Trung ương. Trong thời
gian qua, cũng có các công trình nghiên cứu đã đề cập ở nhiều góc độ, hình
thức thể hiện khác nhau với nhiều tài liệu, văn kiện, sách báo, …. liên quan
tới đề tài. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Đỗ Nguyên Phương trong bài viết “Mấy vấn đề trong công tác lý
luận”, Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa, số 7/1992, đã giải quyết nhiệm vụ
mà Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị (khóa VII) đã đặt ra đối với công tác tư
tưởng của Đảng do thực tiễn công cuộc đổi mới tư tưởng của cán bộ, đảng viên
và cả xã hội đang đặt ra yêu cầu phải có sự phát triển vượt bậc của công tác lý
luận. Từ đó, tác giả đã đề cập tới hàng loạt vấn đề trọng điểm, từ quan điểm đến
biện pháp tổ chức cụ thể nhằm đưa công tác tư tưởng của Đảng phát triển lên
một bước cao hơn.

- Bài giảng “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị” của
Thạc sĩ Trương Văn Bắc, Trường Sĩ quan Chính trị-Bộ Quốc phòng nhấn mạnh
quan điểm: “Giáo dục lý luận chính trị phải gắn lý luận với thực tiễn, học đi


8
đôi với hành; bảo đảm thống nhất giữa tính đảng, tính khoa học; Kết hợp giữa
nhà trường với gia đình và xã hội”.
Nguyễn Thế Phấn có bài“Một số vấn đề về mối quan hệ giữa lý luận và
chính trị”, Tạp chí Cộng sản, số 8/1992. Trong đó, tác giả đã luận giải khái
niệm lý luận, khái niệm chính trị, đồng thời chỉ ra được điều đáng lo ngại hiện
nay là “lý luận còn thấp so với yêu cầu của chính trị”. Mà nguyên nhân chính
là tình trạng nghiên cứu lý luận còn xa rời thực tiễn.
- Một số nhà nghiên cứu cũng tham gia đàm luận về mảng vấn đề tư duy
lý luận của các cán bộ quản lý gồm: tác giả Hồ Bá Thâm với“Phát triển năng
lực tư duy của người lãnh đạo quản lý hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số 23/2002;
Nguyễn Thái Sơn với “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ
chốt” Nxb Lý luận chính trị 2001; Trần Thành với công trình “Tư duy lý luận
đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn”, Nxb Lý luận chính trị, 2001.
- Ngoài ra, còn có không ít tác giả luận văn đã tham gia nghiên cứu
mảng đề tài này. Đó là luận văn thạc sĩ triết học: của Đỗ Cao Quang “Nâng
cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện
nay”; của Vũ Đình Chuyên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998;
“Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp
huyện ở nước ta hiện nay”; của Nông Văn Tiềm, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, 2001 “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” và của
Nguyễn Quốc Dũng “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ - công
chức cấp xã tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre” (Đại học Kinh tế 2015).
Đã có nhiều công trình “nghiên cứu đề cập tới vấn đề lý luận và lý luận

chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các cấp, nêu lên những phương hướng
và giải pháp để nâng cao trình độ lý luận chinh trị cho cán bộ lãnh đạo, song
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết và đầy đủ có hệ thống về thực


9
trạng, giải pháp để góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre .



3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận chính trị và thực tiễn luận văn phân tích
thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng
cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ
Cày Bắc hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện
Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện ở Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
trong giai đoạn hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở đánh giá khách quan thực trạng về trình độ lý luận chính trị
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, tác
giả đưa ra các giải pháp cơ bản, thiết thực. Nếu thực hiện có hiệu quả các giải
pháp này, thì sẽ góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp huyện ở Mỏ Cày Bắc trong giai đoạn hiện nay.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận chính trị và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao trình
độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc,
tỉnh Bến Tre.
- Phân tích thực trạng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.


10
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre trong
thời gian tới.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu “vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre từ Đại hội đại
biểu lần thứ X năm 2010 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mỏ Cày Bắc đến
nay.”
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
mác-xít và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp logic-lịch sử,
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra khảo sát,. . .
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết.
10. Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1. Những luận điểm cơ bản
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học, quan điểm và quan
niệm về nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ
Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu, thiết thực, khả thi

nhằm góp phần vào nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre giai đoạn hiện nay.
10.2. Đóng góp mới của đề tài luận văn
- Về lý luận:
Nghiên cứu dưới góc độ lý luận - chính trị góp phần nâng cao trình độ lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh


11
Bến Tre.
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt
động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trên địa bàn huyện Mỏ Cày
Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Về thực tiễn:
Đánh giá thực trạng nâng cao trình độ LLCT của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre hiện nay. Từ đó đề
xuất những phương hướng cơ bản và những giải pháp quan trọng nhằm
góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở
trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nhằm đáp ứng yêu cầu
CNH-HĐH đất nước.
Kết quả nghiên cứu luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để
giảng dạy và học tập lý luận Mác - Lênin trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh
Bến Tre.


12
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ

Ở HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm, bản chất và những đặc trưng chủ yếu của lý luận
chính trị
1.1.1.1. Khái niệm lý luận và lý luận chính trị
Định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt: “ lý luận là hệ thống những tư
tưởng được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực
tiễn. Lý luận là những kiến thức được khái quát và hệ thống hoá trong một lĩnh
vực nào đó” [50; 544, 5 4 5 ].
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi: “Lý luận là tổng kết những kinh nghiệm của
loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong
quá trình lịch sử” [34; 497].
Theo Từ điển Triết học: “lý luận là hệ thống những tri thức đã được
khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ
bản của hiện thực”[49; 341]
Về khái niệm “chính trị”: Trong tiếng Hylạp chính trị là “politics” có
nghĩa là: “Những công việc liên quan đến thành bang, những công việc quốc
gia. Trong đó việc cốt lõi nhất, quan trọng nhất, thực chất nhất là tổ chức ra cơ
quan cai trị (chính phủ) và sau này, từ thế kỷ XVI trở đi gọi là nhà nước”.
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chính trị là một hiện tượng
lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà
nước. Chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Chính trị
là lĩnh vực hoạt động phức tạp, luôn thu hút các nhà tư tưởng đi sâu nghiên


13
cứu, khám phá, cố gắng làm sáng tỏ bản chất đầy bí ẩn của chính trị. Chính trị
luôn gắn với vấn đề lợi ích, quan hệ lợi ích, đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi
ích giai cấp. Căn bản của chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước, sự tham
gia vào công việc Nhà nước, định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội

dung, nhiệm vụ của Nhà nước” [16; 63].
Chính trị hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như
các quốc gia và các dân tộc với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền
lực Nhà nước; là quá trình tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà
nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái
chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối
và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích.
Qua khái niệm lý luận và khái niệm chính trị nêu trên, ta có thể nói: “lý
luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
một chính đảng, một giai cấp nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước”.
Trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được
trong hệ thống những kiến thức LL về lĩnh vực chính trị, lĩnh vực giành và giữ
chính quyền, bao gồm các kiến thức về quyền lực chính trị, đảng phái chính trị,
đấu tranh chính trị,… Hệ thống kiến thức này trang bị và củng cố lập trường
giai cấp, lập trường quan điểm của Đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nó giúp cho mỗi cán bộ, công chức cấp cơ sở có quan điểm và lập trường đúng
đắn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là nâng


cao về trình độ, nhận thức và tư duy LL về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; rèn luyện cho người cán bộ chủ chốt có ý chí và khả năng đấu
tranh với những lệch lạc, sai trái, đồng thời, có khả năng cảnh giác được các thủ


đoạn và âm mưu “diễn biến hoà bình”, của các thế lực thù địch; phòng, chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.





14
1.1.1.2. Bản chất và những đặc trưng chủ yếu của lý luận chính trị
Lý luận chính trị ở nước ta hiện nay là hệ thống các nguyên lý của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của
dân tộc và nhân loại, phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, là công cụ quan trọng cho
việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác –
Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống LL không thể tách rời, khẳng
định bản chất cách mạng Việt Nam, nhất là trong quá trình đổi mới.
Bản chất của lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước, tiếp thu lý luận kinh nghiệm kiến thức khoa học hiện đại.
Thực tiễn, trong quá trình nhận thức lý luận luôn diễn ra sự đấu tranh dám bỏ
cái cũ, lạc hậu, sai lầm, tư tưởng giáo điều, rập khuôn. Do đó, cần phải có cái
nhìn khách quan thực tế.
Chính trị là một trong những yếu tố của hình thái ý thức xã hội. Bản chất
chính trị là mối quan hệ tác động biện chứng giữa ý thức xã hội và hoạt động
tinh thần xã hội với tồn tại xã hội và hoạt động vật chất xã hội. Vai trò chính trị
là sự phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định. Trong xã hội có giai
cấp, lợi ích của mỗi người do lợi ích căn bản của giai cấp, trong đó bản thân
cũng tham gia là một thành viên quy định. “Hoạt động của mỗi con người luôn
được quy định vào hoạt động của giai cấp”[14;531-544]. Chính trị, làm cơ sở
nền tảng tạo động lực và mục đích của quá trình xây dựng nâng cao trình độ
LLCT cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre. Chính
trị biểu hiện tập trung ở hệ thống lý luận, quan điểm, lập trường trên cơ sở chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng ta
ở giai đoạn hiện nay, thể hiện sự phát triển năng động theo yêu cầu đặc điểm



15
của huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre, nhằm nhận thức giai cấp, dân tộc để hình
thành năng lực bản lĩnh làm chủ chính trị trên cương vị, chức trách đội ngũ
CBCC cấp cơ sở. Vì vậy cần phải hiểu rõ bản chất LLCT trong mối quan hệ
biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, ý thức xã hội có tính độc lập
tương đối tác động mạnh mẽ đến tồn tại xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
Bởi vì, tồn tại xã hội sinh ra ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại
xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội; tồn tại xã hội có trước, ý thức xã hội có sau;
tồn tại xã hội quyết định nội dung phản ánh của ý thức xã hội. Vì vậy, tồn tại xã
hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế đó; mỗi khi tồn tại xã hội biến đổi thì ý
thức xã hội cũng biến đổi, nên những tư tưởng là LL xã hội, những quan điểm
về chính trị pháp quyền…, cũng sẽ phải thay đổi theo. Theo Ph.Ăngghen:
“Thậm chí những điều kiện của vật chất của tồn tại là primum agens điều đó
không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại có tác dụng
ngược lại, nhưng là tác động cấp hai lên những điều kiện vật chất ấy” [27; 603]
.
Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối vì nó là cái phản ánh nên thường
không bắt kịp và trở nên lạc hậu so với sự vận động và phát triển của tồn tại xã
hội. “Về bản chất phản ánh của ý thức xã hội là phản ánh tự giác, tích cực và
sáng tạo. Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội phải thông
qua hoạt động thực tiễn, hoạt động vật chất của con người. Theo C.Mác tư
tưởng, bản thân nó không làm biến đổi bất cứ điều gì, nhưng một khi lý luận
cách mạng đã đi vào quần chúng thì nó sẽ trở thành lực lượng vật chất to lớn
thúc đẩy sự phát triển của lịch sử. Trong “góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Hêghen, C.Mác đã chỉ ra rằng: Vũ khí của sự phê phán cố nhiên
không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể
đánh đổ bằng lực lượng vật chất”. Hoặc theo V.I.Lênin: “Không có lý luận



16
cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” [13; 30] .
Ý thức xã hội cũng có tác động trở lại tồn tại xã hội theo hai chiều hướng:
nếu ý thức xã hội phù hợp, tiến bộ, khoa học, cách mạng nó sẽ tạo điều kiện



thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển. Ngược lại, nếu ý thức xã hội lạc hậu, thiếu
khoa học, không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Nâng cao


trình độ LLCT cho đội ngũ CBCC về bản chất: nâng cao trình độ, năng lực,
nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thể hiện bản
lĩnh phản ánh trình độ làm chủ, khẳng định vai trò chủ thể của con người trong
mối quan hệ xã hội và với chính bản thân mình luôn phát triển không ngừng để
đạt mục đích và hoàn thiện bản thân cũng như khẳng định vị trí, vai trò của
mình với tư cách là một chủ thể của xã hội; nâng cao năng lực rèn luyện, tu
dưỡng trong thực tiễn cả về phẩm chất đạo đức và nhân cách, kỹ năng công tác
và làm việc;” nâng cao khả năng phòng, chống và đấu tranh với những biểu hiện
lệch lạc, sai trái về ý chí và tư tưởng; đề phòng những âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hoà bình” của các thế lực thù địch; tích cực phòng, chống “tự diễn


biến”,“tự chuyển hóa”... Từ đó, đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở huyện Mỏ Cày Bắc
tỉnh Bến Tre có bản lĩnh độc lập, quyết đoán từ nhận thức đến hành động, kiên
định với mục đích, có nghị lực vượt qua thử thách.
Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: “Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [6; 83]. Sau đó Đại hội lần
thứ X một lần nữa khẳng định: “Trước những khó khăn, thử thách lớn ở trong

nước, những biến động bất lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Đảng ta giữ vững bản chất cách
mạng của giai cấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định đường lối đổi mới; tiếp tục


17
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” [7; 260].
Xuất phát từ những quan điểm đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh việc học tập,
nghiên cứu, rèn luyện và vận dụng một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tháo gỡ vấn đề bức xúc của
đất nước của thời đại đặt ra. Tại Đại hội IX, Đảng ta khẳng định: “Toàn Đảng
nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [6; 139].
Sau đó đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng phải nắm vững, vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh”
[7;282]. Đại hội Đảng lần thứ XII nêu rõ: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt
Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường
lối đổi mới” [8; 63]. “Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở
để góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, là niềm tin, tình cảm cách mạng, sức
chiến đấu của tổ chức cán bộ và đảng viên. Một khi nắm chắc LL Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh thì cán bộ, đảng viên quyết đoán, nhạy bén và chủ
động hơn trước mọi tình huống khó khăn. Nói cách khác, trang bị kiến thức của
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố cực kỳ quan trọng,
nó quyết định trong công tác và xây dựng khả năng nhận thức chính trị cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên.”
Như vậy, việc nắm vững LL của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, Đảng ta nghiên cứu, khảo nghiệm và xây dựng nên bước đầu đã hình
thành được trên những nét cơ bản một hệ thống quan điểm LL về chủ nghĩa xã

hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam làm cơ sở khoa học cho đường lối
của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, Đảng ta luôn đưa ra những quan điểm, chủ
trương, đường lối phát triển đất nước một cách đúng đắn, những chính sách hợp
lòng dân, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về KT-XH và đang


18
từng bước đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với quan niệm như trên,
lý luận chính trị có ba đặc trưng chủ yếu sau:
- Một là, có tính trừu tượng hoá và khái quát hoá cao: Tư duy đồng thời
vừa mang tính trừu tượng lại vừa mang tính khái quát. Đó là khả năng rút ra
khỏi sự vật hiện tượng các thuộc tính cụ thể, cá biệt, giữ lại những thuộc tính
bản chất nhất của các sự vật, hiện tượng. Trên cơ sở đó, khái quát các sự vật
hiện tượng riêng lẻ khác nhau nhưng có chung thuộc tính bản chất thành một
loại, một nhóm, một phạm trù. Nhờ đặc điểm này, tư duy không chỉ giải quyết
vấn đề hiện tại mà có thể giải quyết cả nhiệm vụ trong tương lai.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư duy là: sản phẩm
của một cơ quan vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người và được hình
thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của nhân loại. Hiện thực khách quan
là đối tượng của tư duy và quyết định hoạt động tư duy. Con người tác động đến
thế giới hiện thực như thế nào thì sẽ có những hình thức nhận thức như thế đó.
Giữa tư duy và sự phát triển của hoạt động thực tiễn con người có sự gắn bó
chặt chẽ và liên hệ biện chứng với nhau.
Lênin đã nhận xét, ngay cả “sự khái quát đơn giản nhất, sự hình thành
đầu tiên và đơn giản nhất của những khái niệm (những phán đoán suy lý) cũng
đã là con người nhận thức ngày càng sâu sắc về các mối liên hệ khách quan, về
các tính quy luật của thế giới” [18;188] . Nhờ có “trừu tượng hoá và khái quát
hoá”, tư duy đã có thể đưa lại cho ta những tri thức (gián tiếp) về các mối liên
hệ và quan hệ bản chất, về các quy luật trong sự phát triển của sự vật và hiện

tượng, trong các quá trình đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong
khoảng không gian bao la của vũ trụ, trong thế giới vi mô mà con người không
thể hoặc không có điều kiện tri giác trực tiếp. Tính chất khái quát và gián tiếp
của tư duy biểu hiện ở chỗ, nó đi từ “một hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn
nhau này đến một hình thức khác, sâu sắc hơn, chung hơn” [18; 240].


19
Trong Từ điển triết học (M.M.Rôđentan chủ biên) có viết: “Tư duy sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não,
quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán
đoán, lý luận, v.v.. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội
của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện
những mối liên hệ hợp quy luật thực tại” [49; 634] .
Nói về tầm quan trọng của tư duy trừu tượng trong việc phát hiện chân
lý, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể
cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là
tổng số những chân lý tương đối. Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại
đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những
giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra,
khi thì thu hẹp lại, tuỳ theo sự tăng tiến của tri thức” [19;158]. Nhờ có tư duy
trừu tượng mà nhận thức của nhân loại đi từ sự hiểu biết có tính chất hiện tượng
đến sự hiểu biết về bản chất, từ ngẫu nhiên bề ngoài đến quan hệ có tính tất
nhiên, tính quy luật. Tư duy trừu tượng là quá trình phản ánh thế giới một cách
gián tiếp, khái quát nhờ ngôn ngữ. Ở đây, các từ, cụm từ hay ngôn ngữ nói
chung, trong khi lý thuyết đã có tính chất khái quát và bao hàm cái chung. Do
vậy, ngôn ngữ càng phát triển, vốn từ vựng càng phong phú thì tư duy gắn liền
với nó càng linh hoạt, mềm dẻo, thì phản ánh càng chính xác và đầy đủ các mối
liên hệ đa dạng, phức tạp của thế giới. Trong chủ nghĩa biện chứng của tự
nhiên, Ph.Ăngghen viết: “Tư duy lý luận của mỗi thời đại, cũng có nghĩa là
của thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác

nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau”
[28; tr. 487].
Tư duy chính xác, phản ánh trạng thái xác định của sự vật, hiện tượng
trong “tính đồng nhất trừu tượng” của chúng trong trạng thái tĩnh, ổn định,


20
nhưng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan luôn nằm trong quá
trình vận động, phát triển và biến đổi, cho nên không thể có sự đồng nhất tuyệt
đối. Mặc dù tư duy chính xác phản ánh sự vật trong tính “đồng nhất trừu
tượng” Ph.Ăngghen viết: “Tính đồng nhất trừu tượng” (a=a; và cả dưới hình
thức phủ định: a không thể đồng thời vừa là a vừa không phải là a), cũng không
thể dùng được trong giới hữu cơ. Nhận thức LLCT trong mỗi thời điểm là đồng
nhất với nó nhưng lại khác biệt với bản thân nó, do sự đồng hoá và tính hiện
thực thực tiễn, tạo sự đấu tranh bỏ cái cũ, lạc hậu.., do quá trình diễn biến của
xu thế thời đại.
Tư duy chính xác và tư duy biện chứng có mối quan hệ gắn bó, liên hệ
hữu cơ với nhau. Chúng có vai trò, vị trí xác định trong nhận thức nhằm phản
ánh đúng đắn, đầy đủ, toàn diện thế giới khách quan. Tư duy chính xác là điều
kiện để có tư duy biện chứng. Ngược lại, nếu không có tư duy biện chứng, nhận
thức của nhân loại không thể phản ánh đầy đủ, toàn diện về thế giới khách


quan. Tư duy chính xác là một bộ phận không thể thiếu được trong mọi quá
trình tư duy khoa học.
Tư duy lý luận là cấp độ nhận thức cao của con người, có vai trò rất quan
trọng trong chỉ đạo hoạt động của con người. Với khả năng thâm nhập vô hạn
vào bản chất và các quy luật của thế giới, tư duy LL chỉ đạo có hiệu quả nhất
đối với thực tiễn của con người trong hiện tại và cả tương lai. Về thời gian tư
duy LL có thể tạo ra những mô hình LL phù hợp với hiện thực khách quan chỉ

đạo thực tiễn ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên do có trình độ cao nên trong
trường hợp bị tuyệt đối hóa, tư duy LL thường sa vào chủ nghĩa giáo điều, cứng
nhắc. Ở trường hợp nào đó, để khắc phục chủ nghĩa giáo điều, tư duy lý luận lại
phải thường xuyên liên hệ với kinh nghiệm và thực tiễn xã hội lịch sử của con
người.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết tương đối hoàn chỉnh, một hệ


21
thống lý luận vô cùng chặt chẽ được cấu thành từ ba bộ phận: CNXH khoa học,
triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị Mác-Lênin “Chủ nghĩa Mác-Lênin là
một hệ thống các quan điểm lý luận và phương pháp khoa học được kết tinh và
là đỉnh cao thành tựu trí tuệ của loài người, của tinh hoa văn hoá mà nhân loại
đã sáng tạo ra” [16; tr. 247].
- Hai là, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn: lý luận không gắn liền với thực tiễn
thì LL không có cơ sở, không có động lực, không có mục đích và không kiểm
định được đúng sai; Thực tiễn tách rời LL thì thực tiễn mất định hướng.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là: “một hệ thống những quan điểm giữa
lý luận và phương pháp khoa học được kết tinh, đó là đỉnh cao thành tựu trí tuệ
của nhân loại. Mác-Ăngghen và Lênin đã tiếp thu có chọn lọc các thành tựu
khoa học và những giá trị tư tưởng, văn hoá, những tiền đề của kinh tế, chính
trị, xã hội mà con người đã gặt hái được; bằng thiên tài của tri thức cùng với
sự lao động cực lực, nghiêm túc, để vượt lên mọi khó khăn, trở ngại, những
cám dỗ của vật chất, vòng cương toả hà khắc của chế độ chính trị lúc bấy giờ,
các ông đã để lại cho nhân loại chúng ta một di sản cực kỳ quý báu, một cơ sở
lý luận khoa học để giải phóng con người, xã hội; đem lại cuộc sống ấm no, tự
do và hạnh phúc cho nhân loại”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết duy nhất đã đề ra mục tiêu, chỉ
rõ con đường để giải phóng giai cấp công nhân, “người lao động và các dân tộc

bị áp bức, bóc lột trên thế giới. Ngoài ra, học thuyết đó đã nêu ra giai cấp công
nhân và người lao động là lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc và phát triển xã hội, nó đem lại cho họ niềm tin vào khả năng và sức mạnh


của chính mình.”
Học thuyết chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. “Đó là
quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về sự


22
chuyển biến từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác
không phải diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua cuộc đấu tranh giai
cấp gay go quyết liệt”. Từ đó, “Mác-Ăngghen và Lênin đã trực tiếp nghiên cứu
sự vận động của phương thức sản xuất của tư bản chủ nghĩa và đã tìm ra quy
luật về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như tìm ra thắng lợi của CNXH
như là một tất yếu thông qua các cuộc cách mạng xã hội.”
Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin còn được thể
hiện ở chỗ: “đây là một học thuyết mở, không cứng nhắc, mà nó đòi hỏi cần
được thay đổi, tự đổi mới và tự phát triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân
loại chúng ta. Mác-Ăngghen và Lênin đã không ít lần khẳng định học thuyết
của ba ông là kim chỉ nam cho hành động. Học thuyết đó gắn liền với sự phát
triển của phong trào cách mạng, với thực tiễn và với sự biến đổi của lịch sử.”
Xét cho cùng: “Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin xét trong tinh thần biện
chứng của nó có giá trị bền vững, với bản chất cách mạng, khoa học và nhân
đạo, chủ nghĩa Mác-Lênin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam”.
Như chúng ta đã biết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là

kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền
với CNXH, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của
nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây
dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không


23
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách
mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên
vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [43;
19].
Học thuyết Mác-Lênin vì là khoa học và cách mạng triệt để nên nó giải
quyết tất cả sự trăn trở, những yêu cầu tiến bộ của nhân loại cần lao, dù phương
Đông hay phương Tây, như chính bản thân nó tỏa sáng. Nó được nhận rộng rãi
và trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của giai
cấp công nhân toàn thế giới, của các đảng tiên phong, chân chính của giai cấp
đó, không kể ở Việt Nam hay bất cứ quốc gia, dân tộc nào hay ở châu lục nào.
- Ba là, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học
Tính đảng thực chất là sự đánh giá các hiện tượng của đời sống xã hội trên
lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng phải tiếp tục
vận dụng nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh vào củng cố chính trị, tư tưởng, tổ chức một cách xác
thực. Để quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đảng áp dụng lập trường, quan
điểm và phương pháp Mác-Lênin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách
mạng Việt Nam …” vào xây dựng Đảng và đổi mới đất nước hiện nay. Vấn đề

có tính chất bao trùm, nguyên tắc cơ bản nhất để tiếp tục vận dụng có hiệu
quả. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tinh thần ấy để có thái độ, động
cơ, ý chí trong bảo vệ giá trị tư tưởng, tuân thủ các nguyên tắc, trong đó
nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ bản nhất và đưa vào thực tiễn xây dựng
Đảng ở cương vị, chức trách của mình.
Tiếp tục vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào xây dựng Đảng và đổi
mới đất nước hiện nay thì Đảng phải tự chỉnh đốn làm trong sạch đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Thường xuyên chỉnh đốn là nguyên tắc, là bài học kinh nghiệm


24
quý báu từ trong lịch sử xây dựng Đảng ta. Ngày nay,vận dụng chủ nghĩa Mác –
Lênin vào xây dựng Đảng không thể không tiếp tục và nâng cao chất lượng
chỉnh đốn Đảng một cách thường xuyên và có tính tổng hợp trên mọi phương
diện. Công tác phê bình và tự phê bình trong nội bộ Đảng là nguyên tắc sinh
hoạt Đảng và là sức mạnh, động lực to lớn làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng
vên. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng do nhiều người cách mạng họp lại, cho nên dù
với sự rèn luyện theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng có nhiều ưu điểm, nhưng
cũng không tránh khỏi khuyết điểm. Khi có khuyết điểm, Đảng hoan nghênh
phê bình, thật thà phê bình và kiên quyết sửa chữa” [34; 247] .
Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào xây dựng Đảng và đổi mới đất
nước hiện nay cần kết hợp giữa lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với
NQTW 4 và NQTW 6 (khóa XII) vào khắc phục những biểu hiện suy thoái, mà
tập trung nhất là làm cho đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng vên được phát
triển. Khắc phục những biểu hiện suy thoái trong đạo đức đều phải dùng sức
mạnh tổng hợp, cả hành chính (pháp luật, kỷ luật Đảng), cả thức tỉnh lương tâm
mỗi cán bộ, đảng viên; từ trên xuống; cả hệ thống chính trị… cùng hướng tới và
tham gia tích cực. Toàn bộ các biện pháp trên còn phải được duy trì thường
xuyên trong thực tiễn làm cho cán bộ, đảng viên có thói quen, thành lối sống, lẽ
sống thì mới đi vào chiều sâu.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước đảng ta phải dựa trên cơ sở
của lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ động khắc phục xu hướng quá thiên lệch về khoa học và công nghệ hiện
đại, làm mờ nhạt nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Phải tạo dựng sự thống nhất giữa nền tảng tư tưởng MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại trong
tính chỉnh thể để có sức mạnh tổng hợp và làm cho Đảng thật sự là đạo đức, là
văn minh. Con đường tiến lên CNXH ở nước ta còn nhiều khó khăn, phức tạp.


25
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào xây dựng Đảng và đổi mới đất nước là
thường xuyên có những cái mới và với yêu cầu ngày càng cao. Thực hiện Nghị
quyết Trung ương 6 (khóa XII) của Đảng cần xác định một số nội dung cơ bản
về: Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào xây dựng Đảng và sự nghiệp đổi mới ở
nước ta hiện nay. Vấn đề này có tính nguyên tắc, đồng thời cũng là những nội
dung, biện pháp xác thực cụ thể. Tuân thủ những vấn đề trên sẽ tạo ra sức mạnh
nội lực, động lực to lớn đưa sự nghiệp xây dựng Đảng và sự nghiệp đổi mới đến
thắng lợi.
Tính khoa học: trong chủ nghĩa Mác- Lênin về chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng gắn liền với nhau. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép


biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật triệt để hơn và phép biện chứng trở thành
lý luận khoa học.



Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội: là một thành tựu lớn của triết học
mác-xít. Học thuyết về hình thái KT-XH đã chỉ rõ sự chuyển đổi từ một hình
thái KT-XH này chuyển sang một hình thái KT-XH khác trải qua quá trình chiến

đấu giai cấp quyết liệt, gay go, mà diễn ra không phải một cách tự động. Bản
thân các quy luật, nguyên lý trong chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ có ý nghĩa
thế giới quan, mà còn có ý nghĩa phương pháp luận. Theo Học thuyết về sứ
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản thì giai cấp công nhân là người lãnh đạo các
cuộc đấu tranh chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng chế độ XHCN,
giải phóng giai cấp mình và giải phóng xã hội.


Sự thống nhất giữa phương pháp luận Mác-xít trong chủ nghĩa
Mác-Lênin và thế giới quan khoa học. Bản thân các nguyên lý và quy luật đó
vừa có ý nghĩa phương pháp luận, vừa có ý nghĩa thế giới quan. “Thế giới
quan duy vật biện chứng giúp con người chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của
thế giới là vật chất. Thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy luôn vận động, biến đổi
theo các quy luật khách quan. Từ đó ta có thể thấy, toàn bộ học thuyết Mác-


×