ẢNH HƯỞNG CỦA CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO ĐẾN ĐỜI
SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN BẾN TRE HIỆN NAY
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài............................................3
3. Mục đích nghiên cứu.............................................................................5
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu......................................................5
4.1. Khách thể.................................................................................5
4.2. Đối tượng nghiên cứu..............................................................5
5. Giả thiết khoa học.................................................................................5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................6
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu................................................................6
8. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................6
9. Cấu trúc luận văn..................................................................................6
10. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả..........6
10.1. Những luận điểm cơ bản........................................................6
10.2. Đóng góp mới của tác giả......................................................7
NỘI DUNG.........................................................................................................8
Chương 1. CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO – MỘT HỆ PHÁI CỦA ĐẠO
CAO ĐÀI............................................................................................................8
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.............................8
1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế – xã hội...................................................8
1.1.2. Tiền đề văn hóa – tư tưởng..................................................11
1.1.3. Quá trình phát triển đạo Cao Đài........................................16
1.2. Sự ra đời và những đặc điểm cơ bản của đạo Cao Đài Ban Chỉnh
đạo ở Bến Tre..........................................................................................23
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển Cao đài Ban Chỉnh đạo
ở Bến Tre.......................................................................................23
1.2.2. Giáo lý, Giáo luật của Cao Đài Ban chỉnh đạo...................28
1.2.3. Hệ thống tổ chức của Cao đài Ban chỉnh đạo.....................36
1.2.4. Đường hướng hành đạo và cơ chỉnh đạo của Cao Đài Ban
chỉnh đạo.......................................................................................41
Tiểu kết chương 1............................................................................................47
Chương 2. ẢNH HƯỞNG CỦA CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO ĐẾN
ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN BẾN TRE HIỆN NAY- THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP................................................................................49
2.1. Thực trạng ảnh hưởng của Cao Đài Ban chỉnh đạo đến đời
sống tinh thần người dân Bến Tre hiện nay........................................49
2.1.1. Ảnh hưởng của Cao Đài Ban chỉnh đạo đến đời sống
tâm linh của người dân Bến Tre hiện nay....................................49
2.1.2. Ảnh hưởng của Cao Đài Ban chỉnh đạo đến đời sống
đạo đức của người dân Bến Tre hiện nay......................................59
2.1.3. Ảnh hưởng của Cao Đại Ban chỉnh đạo đến đời sống văn
hóa của người dân Bến Tre hiện nay.............................................63
2.2. Giải pháp nhằm pháp huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế tiêu
cực của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân
Bến Tre hiện nay....................................................................................68
2.2.1. Nâng cao nhận thức người dân Bến Tre về đường lối của
Đảng, chính sách của nhà nước về tôn giáo..................................72
2.2.2. Đưa hoạt động của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đúng với Tôn
chỉ, Giáo lý, Giáo luật...................................................................75
2.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động hệ
phái Cao Đài Ban Chỉnh đạo ở tỉnh Bến Tre................................76
Tiểu kết chương 2............................................................................................82
KẾT LUẬN......................................................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................87
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“ Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” [10, Tr. 3]. Vì thế tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đến
đời sống tinh thần của bộ phận nhân dân, và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn
tại, phát triển hoặc suy vong của chế độ chính trị nhất định. Vì vậy, bất kỳ
Nhà nước nào cũng có sự quan tâm đặc biệt đến tín ngưỡng, tôn giáo và nhất
là tôn giáo và các hoạt động tôn giáo, vì lợi ích cụ thể của mỗi quốc gia dân
tộc. Tuy nhiên, ở mỗi chế độ chính trị khác nhau tôn giáo được hiểu và áp
dụng bằng những hình thức khác nhau. Nhà nước của giai cấp bóc lột, tôn
giáo được dùng như là thuốc phiện để cai trị, ru ngủ quần chúng tín đồ, hoặc
đàn áp sự đấu tranh của họ, nhằm mục đích cuối cùng phục vụ lợi ích giai
cấp thống trị. Nhà nước Xã hội chủ nghĩa có cách nhìn nhận khách quan và
tích cực hơn, nó được loại bỏ yếu tố chính trị, phản động, tìm ra điểm tương
đồng giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội, đưa tôn giáo hòa quyện vào sự phát
triển của đời sống tinh thần của dân tộc.
Việt Nam là một nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt các tôn
giáo ở Việt Nam đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống tinh thần người
dân và có ý nghĩa nhất định trong việc giáo dục ý thức, đạo đức, lối sống của
một bộ nhân nhân dân. Trong lịch sử dân tộc, các tôn giáo, trong đó có đạo
Cao Đài đã từng bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, kích động làm
những điều đi ngược lại truyền thống dân tộc.
Đạo Cao Đài là tôn giáo nội sinh lớn ở Việt Nam, có khoảng 2,7 triệu
tín đồ, hơn 1 ngàn chức sắc hoạt động chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía
Nam. Sau khi ra đời năm 1926, đạo Cao Đài bị chia rẽ thành nhiều hệ phái
khác nhau. Trong đó có 11 hệ phái Cao Đài có đông chức sắc, tín đồ xây
dựng được hệ thống tổ chức Giáo hội từ Trung ương đến cơ sở và đã được
1
Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. Cao Đài Ban Chỉnh đạo là Hội
thánh Cao Đài lớn thứ 2 sau Cao Đài Tây Ninh có số lượng gần 1 triệu tín
đồ, phạm vi hoạt động ở 26 tỉnh, thành phố chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ, có
Tòa thánh ở Bến Tre. Có thể nói, các hệ phái Cao Đài nói chung và Cao Đài
Ban Chỉnh đạo nói riêng ra đời vừa mang tính chất tôn giáo, vừa mang màu
sắc tâm linh và có yếu tố chính trị. Vì vậy, nó là một tôn giáo không thuần
nhất và có nhiều biến đổi phức tạp. Tuy nhiên, bản thân các hệ phái Cao Đài
giữ vai trò thiết yếu trong đời sống tinh thần mà các tổ chức xã hội khác
không thay thế được.
Trong xu thế đổi mới của đất nước, việc nghiên cứu đánh giá đúng
thực trạng hoạt động và những đóng góp tích cực và tiêu cực các hệ phái
Cao Đài, trong đó có Cao Đài Ban Chỉnh đạo để xây dựng những chủ
trương, chính sách phù hợp, tránh cái nhìn tiêu cực đồng nhất tôn giáo là mê
tín dị đoan, hay luôn nhìn về quá khứ của tôn giáo, để lại trong mỗi chúng ta
nhận thức và đánh giá khác nhau.
Riêng về Cao Đài Ban Chỉnh đạo cho đến nay cũng có một số công
trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng hầu như các công trình
nghiên cứu còn mang tính riêng lẻ, chưa toàn diện, sâu sắc về giáo lý, giáo
luật, lịch sử hình thành, đường hướng hành đạo, cũng như ảnh hưởng của nó
đến đời sống tinh thần người dân. Sau hơn 40 năm thống nhất đất nước, mọi
mặt đời sống xã hội ngày càng thay đổi, bản thân đạo Cao Đài Ban Chỉnh
đạo cũng có nhiều biến đổi theo và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh
thần của cư dân ở Bến Tre hiện nay. Vì vậy nghiên cứu đạo Cao Đài Ban
Chỉnh đạo dưới góc độ triết học để làm rõ diện mạo và tầm ảnh hưởng của
nó đến đời sống tinh thần của người dân Bến Tre là cần thiết.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ảnh hưởng
của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre
hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, ở nước ta đã có những công trình nghiên cứu về
Cao Đài Ban Chỉnh đạo dưới góc độ về tôn giáo, văn hóa, lịch sử, chính trị...
để giải thích hiện tượng tôn giáo Cao Đài Ban Chỉnh đạo trong tổng thể của
đạo Cao Đài.
Thứ nhất, nghiên cứu sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài có công
trình nghiên cứu như:
- Phan Văn Hoàng (2001), Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ, Nxb
trẻ, TP.Hồ Chí Minh, đã giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của cụ Cao Triều
Phát, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài Minh Chơn đạo, Chủ tịch Cao Đài Cứu
quốc 12 phái thống nhất. Theo tác giả, cụ Cao Triều Phát là hình ảnh của
một lãnh tụ phong trào Cao Đài yêu nước, đã kết hợp một cách xuất sắc giữa
đạo với đời, giữa đạo với dân tộc và cách mạng. Đồng thời tác giả đã công
bố những tư liệu quý về những hoạt động yêu nước của chức sắc, tín đồ đạo
Cao Đài trong kháng chiến chống Pháp qua tổ chức Cao Đài cứu quốc (1947
- 1954).
- Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu
Sơn Kỳ Hương - Cao Đài - Hòa Hảo), Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Tác giả đã
khảo sát và lý giải về đạo Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hòa
Hảo từ góc độ tâm lý. Trong đó, miêu tả tóm tắt về các hệ phái, về người
sáng lập đạo Cao Đài và một số ảnh hưởng về đời sống tinh thần của từng hệ
phái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn
giáo, Hà Nội. Tác giả khẳng định: đạo Cao Đài ra đời cũng dựa trên những
tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng của đời sống xã hội ở Nam
Bộ. Đồng thời khẳng định giá trị và những ảnh hưởng của đạo Cao Đài trong
đời sống xã hội ở Nam Bộ.
3
- Luận án tiến sĩ: “Quá trình ra đời và phát triển của Đạo Cao đài từ
năm 1926 đến năm 1975”, của tác giả Nguyễn Thanh Xuân (2004) đã
nghiên cứu về lịch sử đạo Cao Đài từ khi thành lập cho đến ngày thống nhất
đất nước và ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống chính trị của đất
nước. Tác giả đã phân tích về dân cư, địa lý, văn hóa tín ngưỡng của vùng
đất Nam Bộ và những nguyên nhân về chính trị, kinh tế, xã hội là yếu tố
quan trọng để hình thành đạo Cao Đài ở Nam Bộ. Đồng thời tác giả phân
tích những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc hình thành các hệ phái Cao
Đài.
Thứ hai, nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần tín đồ đạo Cao Đài có
các công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ: “ Đạo Cao Đài hiện nay và
ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt
vùng Đông Nam Bộ” của Huỳnh Thị Phương Trang (2008); Luận án tiến sĩ
“Đời sống tôn giáo của tín đồ Đạo Cao đài trong bối cảnh văn hóa Nam
Bộ” của Huỳnh Ngọc Thu (2009).
Ngoài các công trình trên, nghiên cứu về hệ phái Cao Đài Ban Chỉnh đạo
còn có các bài viết của các tác giả: Trầm Hương với tiểu thuyết Đêm trắng của
Đức Giáo tông; Lê Anh Dũng (1996), Lịch sử đạo Cao đài thời kỳ tiềm ẩn
(1920-1926), Nxb Thuận Hóa, Huế; Huệ Khải (2008), Đất Nam Kỳ tiền đề
pháp lý mở đạo Cao đài; Đất Nam Kỳ tiền đề văn hóa mở đạo Cao đài; Ngô
Văn Chiêu người môn đệ Cao đài đầu tiên, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Ngô Hữu
Thảo (2001), Chủ nhiệm đề tài nhánh, Xu hướng phát triển của đạo Cao đài
và những vấn đề đặt ra từ phương diện lãnh đạo, quản lý, thuộc Trung tâm
khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh là cơ quan chủ trì.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Đạo Cao Đài nói chung và
về hệ phái Cao Đài Ban Chỉnh đạo nói riêng có khá nhiều. Mỗi công trình
nghiên cứu đề cập một hoặc một số vấn đề có liên quan đến hệ phái Cao Đài
4
Ban Chỉnh đạo. Đó đều là những công trình có giá trị đã cung cấp nguồn tư
liệu quí để tác giả thực hiện đề tài được đầy đủ và có hệ thống hơn. Tuy
nhiên đến nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về ảnh hưởng của Cao
Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre. Cho nên việc
đánh giá đúng ảnh hưởng của nó sẽ góp phần tích cực trong việc định hướng
và đề ra chủ trương, chính sách thích hợp trong việc phát huy vai trò Cao
Đài Ban Chỉnh đạo.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về đạo Cao Đài Ban
Chỉnh đạo, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần
người dân Bến Tre, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
những ảnh hưởng tốt đẹp và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Cao Đài Ban
Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khác Thể
Cao Đài Ban Chỉnh đạo.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người
dân Bến Tre hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Cao Đài Ban Chỉnh đạo không chỉ là một tôn giáo mà còn là thực thể
văn hóa trong văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần
của cư dân tỉnh Bến Tre hiện nay, việc thực hiện tốt các biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả tác động tích cực của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đối với đời
sống tinh thần của người dân Bến Tre hiện nay sẽ góp phần thực hiện
phương châm “nước vinh đạo sáng của đạo Cao Đài”.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
Để đạt được mục đích trên luận văn hướng vào giải quyết các nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Làm rõ sự hình thành và đặc điểm đạo Cao Đài Ban Chỉnh đạo.
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời
sống tinh thần người dân Bến Tre. Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh
thần người dân Bến Tre hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến
đời sống tinh thần người dân Bến Tre là tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh đạo trong
giai đoạn từ năm 2012 đến nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để luận giải những vấn đề đặt ra trong
nội dung đề tài, gắn lý luận với thực tiễn chính trị- xã hội. Luận văn cũng sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích - tổng hợp, so
sánh, thống kê… nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết.
10. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1. Những luận điểm cơ bản
“Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” [10, Tr.3] vì vậy phát huy thế mạnh của tôn giáo trong đời sống tinh
thần của người dân là việc làm cần thiết, góp phần vào việc bảo tồn bản sắc
văn hóa dân tộc trong tiến trình hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay.
6
Đánh giá đúng vai trò của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đạo đối với đời
sống tinh thần người dân Bến Tre trong giai đoạn hiện nay sẽ góp phần hạn
chế tiêu cực trong tôn giáo, tránh việc tôn giáo bị phần tử xấu lợi dụng, kích
động xuyên tạc chống phá Đảng và nhà nước ta, đồng thời đưa ra những giải
pháp hiệu quả để công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày một tốt hơn và
đi vào thực tiễn.
10.2. Đóng góp mới của tác giả
Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ hơn cơ sở hình thành và một số đặc
điểm đạo Cao Đài Ban Chỉnh đạo.
Về mặt thực tiễn: Đánh giá sự ảnh hưởng của Cao Đài Ban Chỉnh đạo
đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre trong giai đoạn hiện nay,từ đó đề
xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa vai trò tích cực của Tôn
giáo trong đời sống tinh thần của người dân Bến Tre hiện nay.
7
NỘI DUNG
Chương 1
CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO- MỘT HỆ PHÁI CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Cao Đài
1.1.1. Hoàn cảnh Kinh tế - xã hội
Những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác
thuộc địa ở Đông Dương với nhiều thủ đoạn vơ vét, bóc lột về kinh tế, áp
bức về chính trị, nô dịch về văn hoá. Chúng ra sức bảo tồn cơ sở kinh tế
nông nghiệp lạc hậu ở nông thôn để phục vụ cho mục đích chính của chúng
là bán hàng hoá, khai thác nguyên liệu, đánh thuế, bắt phu… vơ vét tài
nguyên và bóc lột sức lao động của nhân dân ta. Trong điều kiện như vậy,
nền kinh tế của Việt Nam đã dần dần trở thành một nền kinh tế thuộc địa nửa
phong kiến. Sự chuyển biến trong cơ sở kinh tế đã dẫn tới những chuyển
biến sâu sắc trong xã hội Việt Nam, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX trở đi. Điều
đó đã đẩy người dân Việt Nam nói chung, nông dân ở Nam Bộ nói riêng lâm
vào cuộc sống lầm than khổ cực, không những nghèo nàn về kinh tế mà còn
thấp kém về mặt văn hoá. Các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân
dân ta nói chung và của nông dân Nam Bộ nói riêng diễn ra rất sôi nổi, quyết
liệt nhưng tất cả đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu vì còn
thiếu đường lối và lực lượng lãnh đạo.
Ở Nam Bộ, thực dân phong kiến ra sức vơ vét, bóc lột. Chúng chiếm
ruộng đất của nông dân để làm đồn điền trồng cao su, khoảng 2/3 diện tích
đất Nam Bộ bị chúng chiếm đoạt (hơn 500.000 ha). Nạn binh lửa, việc bắt
phu, bắt lính của thực dân Pháp gây ra tình trạng chết chóc, xiêu tán rất phổ
biến trong nhân dân lao động. Nạn chiếm hữu ruộng đất đã trầm trọng trong
thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn, đến thời kỳ thực dân xâm lược lại càng trở
nên trầm trọng. Cùng với nghề nông, các nghề thủ công và nghề phụ ở nông
thôn, do chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Pháp cũng lâm vào
8
tình trạng bi đát. Người nông dân lẫn người thợ thủ công bị cướp đoạt ruộng
đất, bị thất nghiệp, bị sưu cao, thuế nặng, đều trở nên bần cùng hoá và phá
sản. Trước mắt họ chỉ có mấy con đường: ở lại nông thôn làm tá điền, ra
thành phố và các vùng kỹ nghệ, vùng mỏ làm thuê hoặc vào làm phu trong
các đồn điền,… Kết quả là ở nông thôn đã xảy ra một quá trình phân hoá
giai cấp mạnh mẽ. Trong quá trình phân hoá giai cấp ấy, tầng lớp bần nông
và cố nông có rất ít hoặc không có ruộng đất, phải đi làm thuê khiến cho
cuộc sống của nhân dân Nam Bộ vô cùng cực khổ, lầm than. Trong điều kiện
đó những luồng tư tưởng phương Tây xâm nhập vào Việt Nam qua nhiều hình
thức. Đặc biệt trước hiện tượng giàu lên của Nhật Bản khi đi theo con đường
tư bản chủ nghĩa sau cuộc cách mạng “ Minh Trị Duy Tân” (1868-1912) đã
tác động mạnh đến tư tưởng các sĩ phu yêu nước. Họ nghĩ rằng muốn đất
nước phát triển phải duy tân, Duy Tân trở thành trào lưu tư tưởng trong xã hội
Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Phong trào Duy Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX do Phan Bội Châu
(1867-1940) và Phan Chu Trinh (1872-1926) khởi xướng. Phan Bội Châu cho
rằng, bằng phương pháp bạo động vũ trang để khôi phục đất nước, lập một
chính phủ độc lập theo mô hình quân chủ lập hiến kiểu Nhật Bản. Ông đã
cùng các đồng chí của mình lập tổ chức Duy Tân hội và tiến hành tuyển chọn
những nhân sĩ trí thức ưu tú đưa sang Nhật học tập về khoa học quân sự để
chuẩn bị cho cuộc bạo động sau này. Khác với Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh chủ trương chống đế quốc phải gắn liền với chủ trương đấu tranh đòi
dân chủ, dân quyền nhằm xây dựng đất nước theo chế độ dân chủ tư sản. Phan
Chu Trinh và các đồng chí của ông phát động phong trào Duy Tân diễn ra sôi
nổi ở Trung kỳ. Ở Nam bộ phong trào Duy Tân không diễn ra sôi nổi như ở
miền Bắc và miền Trung nhưng nó có tác động rất lớn cổ vũ tinh thần người
dân Nam bộ. Ảnh hưởng từ phong trào Duy Tân, một số sĩ phu, trí thức yêu
nước vận động, khởi xướng phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng
9
tư sản do tầng lớp tư sản, tiểu tư sản tiến hành. Cùng với việc khởi xướng
phong trào này và việc Pháp triển khai dồn dập chính sách khai thác thuộc địa
ở Nam Bộ đã làm cho xã hội Nam Bộ phân hóa ngày càng sâu sắc. Tầng lớp
tư sản và tiểu tư sản trở nên đông đảo mà xuất thân của tầng lớp này chủ yếu
là sỹ phu tư sản hóa, địa chủ phong kiến hoặc công chức trong chính quyền
thuộc địa…
Có thể nói, sự xuất hiện giai cấp tư sản, tiểu tư sản ở Nam Bộ là kết quả
của chính sách bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp và luôn bị thực dân Pháp
chèn ép không cho phát triển trừ một số ít tư sản mại bản ôm chân Pháp. Vì
vậy họ có tinh thần yêu nước, một bộ phận trong số đó đã đứng lên đấu tranh
chống lại thực dân Pháp. Như phong trào chấn hưng hàng nội hóa, bài trừ
hàng ngoại hóa vào năm 1919. Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của tư sản Nam
Bộ chống lại thế lực tư bản nước ngoài, cuộc đấu tranh này tiếp thêm sức
mạnh cho các cuộc đấu tranh khác chống lại thế lực chèn ép của tư bản Pháp
như phong trào chống độc quyền xuất khẩu gạo, chống độc quyền cảng Sài
Gòn,…
Ngoài các hoạt động đấu tranh bằng kinh tế, giai cấp tư sản, tiểu tư sản
ở Nam Bộ còn liên minh với các tầng lớp xã hội khác thành lập các đảng phái
chính trị bắt đầu hình thức đấu tranh chính trị. Như việc Bùi Quang Chiêu
cùng với Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Phan Long,… lập đảng Lập Hiến vào
năm 1923; Nguyễn An Ninh cùng với Phan Văn Trường lập đảng Thanh niên
Cao vọng vào năm 1926,…
Khi đã thành lập xong các đảng phái chính trị, các tầng lớp nhân dân
Nam Bộ tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị chống Pháp, những cuộc đấu
tranh này mang tính chất phong trào tạo sức mạnh dư luận như việc đấu tranh
đòi Pháp ban hành một số cải cách về quyền tự do dân chủ và ban bố một số
quyền lợi kinh tế. Đặc biệt là việc phát huy vai trò của báo chí để đã kích
Pháp, tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong quần chúng nhân dân như tờ
10
Chuông Rè do Nguyễn An Ninh làm chủ bút phát hành năm 1923, tờ An Nam
Trẻ do Lâm Hiệp Châu làm chủ bút phát hành năm 1926, tờ Đông Pháp Thời
báo do Nguyễn Kim Bính làm chủ nhiệm phát hành năm 1926,…
Vậy từ là khi Pháp xâm lược đến khi có đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhân dân Nam Bộ đã đứng lên chống
lại thực thực Pháp, chống lại sự áp bức bất công, giành lại tự do và độc lập.
Tuy nhiên do hạn chế về mặt lực lượng cũng như hình thức đấu tranh nên
những cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ đều thất bại. Tuy nhiên trước
những thất bại đó nhân dân Nam Bộ không hề nao núng, mà ngày càng quyết
tâm thể hiện ý chí buất khuất kiên cường như lời tuyên bố của Nguyễn Trung
Trực: “ Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh
Tây”.
Có thể thấy rõ rằng ,việc bị áp bức bóc lột, bị đói khổ, bần cùng hóa,
lại bị bế tắc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, không chỉ phải đấu
tranh giáp mặt với kẻ thù bằng vũ lực mà còn có hình thức đấu tranh bằng tôn
giáo. Hình thức đấu tranh bằng tôn giáo ở đây chủ yếu là tập hợp lực lượng có
thể hình thành một tôn giáo mới, hay dựa vào những tôn giáo có tư tưởng
nhập thế như Phật giáo. Hình thức dựa vào tôn giáo để đấu tranh, tập hợp lực
lượng đã có từ trước khi nhân dân Nam Bộ dùng hình thức này chống lại triều
đình nhà Nguyễn. Sau này khi thực dân Pháp xâm lược các sĩ phu yêu nước
đã mượn danh các môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Ngũ Chi
Minh Đạo để chống Pháp. Điều này làm rõ hơn vì sau các cuộc đấu tranh của
nhân dân Nam Bộ trước đây thường mang màu sắc tôn giáo. Đạo Cao đài ra
đời cũng mang tinh thần yêu nước trong giáo lý và đường hướng hành đạo.
1.1.2. Tiền đề văn hóa - tư tưởng
Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá và phát triển khoảng hơn 300
năm nay với diện tích 67.870km2 [59, tr. 13], là vùng đất ở cuối cùng đất
nước về phía Nam, nằm trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu
11
Long. Nam Bộ còn là vùng đất ở cửa sông, giáp với biển Đông. Khí hậu ở
Nam Bộ có hai mùa, mùa khô và mùa mưa khá là rõ rệt. Trong một năm, có
sáu tháng nắng và sáu tháng mưa tạo cho thiên nhiên ở Nam Bộ có phần
khác biệt so với Bắc Bộ.
Quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ vất vả và lâu dài của những lớp
cư dân người Việt ở Miền Bắc, Miền Trung với mong muốn làm chủ vùng
đất mới. Như đợt di dân năm 1658, chúa Nguyễn Phúc Tấn đã cử 3000 quan
binh vào vùng đất Chân Lạp theo yêu cầu của Hoàng tộc Cao Miên vì tranh
chấp quyền lực và rồi số quan binh này ở lại cùng với một số dân miền
Trung không chịu nổi cảnh áp bức, chiến tranh liên miên của hai tập đoàn
phong kiến Trịnh- Nguyễn, rời bỏ quê hương đi tìm vùng đất tự do sinh
sống. Hay đợt di dân năm 1698 tướng Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn
Phúc Chu giao làm kinh lược đến vùng đất Chân Lạp đi khai hoang lập ấp.
Thành phần đông đảo thứ hai là những binh lính, những tù nhân bị đày xa
xứ. Ngoài những thành phần trên còn những người khá giả, có kinh nghiệm,
sức lao động mà theo Lê Quý Đôn gọi là những người có vật lực vào vùng
đất này để khai phá tạo sản nghiệp mới.
Ngoài cư dân người Việt vào định cư và khai phá vùng đất Nam Bộ,
thì nơi đây đã có tộc người Khơme sinh sống, số lượng không đông với nghề
trồng lúa nước, công cụ thô sơ, kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp.
Bên cạnh người Khơme và người Việt là tộc người Hoa đến khai khẩn
và sinh sống ở vùng đất Nam Bộ. Khi nhà Thanh chiếm Trung Quốc, một số
di thần nhà Minh không thuần phục nhà Thanh vượt biển đến Đàng Trong
sinh sống. Đó là nhóm người của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch.
Nhóm của Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa, nhóm của Dương Ngạn Địch
đến Mỹ Tho.
Tóm lại, những đợt di dân này với những nỗ lực của cư dân đã bám
trụ được vùng đất mới cho dù phải đối mặt vô vàn những khó khăn gian khổ
12
như đất nê địa, trầm thủy, hoang vu có nhiều thú dữ như cọp, rắn, cá sấu...
Cảnh sơn lâm chướng khí, rừng thiêng nước độc, nhiều nỗi gian nan mà con
người phải gánh chịu. Nhưng với những cố gắng không ngừng nghỉ của cư
dân, làng mạc đã mọc lên, cuộc sống dần đi vào ổn định. Vùng đất hoang vu
xưa kia trở thành vùng đồng bằng rộng nhất nước ta như hiện nay.
Hệ văn hoá- tư tưởng người dân Nam Bộ trong giai đoạn này ngoài
văn hoá dân gian vẫn được tồn tại từ lâu đời, Nam Bộ xuất hiện Tao đàn do
Mạc Thiên Tứ thành lập năm 1736 đến 1771 với nhiều tác phẩm văn học có
giá trị. Đặc biệt vào những năm 60-70 thế kỷ XIX ở Cần Thơ có nhiều văn
sỹ yêu nước như Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông,... Ở Vĩnh
Long có Văn Thánh Miếu lập năm 1862. Có thể nói: “Người dân miền Tây
được thừa hưởng bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam đã phát huy trong cuộc
đấu tranh với thiên nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển” [14, tr. 33].
Về tín ngưỡng, tôn giáo, vùng đất Nam Bộ là môi trường thuận lợi
cho sự phát triển các tín ngưỡng, tôn giáo, trở thành vùng đất phong phú
nhất về tín ngưỡng - tôn giáo ở Việt Nam. Đời sống tâm linh của cư dân
Nam Bộ khá phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau. Bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng thiên thần: cúng Thổ Địa, Táo
Quân, Cá Ông (đình miếu ven biển), Thành Hoàng Bổn Cảnh, Sơn Thần
(đình miếu trong nội địa), Bà Chúa Xứ (đền miếu ở núi Sam,). Linh sơ thánh
mẫu ở núi Bà Đen. Một số nơi còn thờ Ngọc Hoàng (Ông Thiên), Mẹ Phật
Mẫu Diêu Trì ...; Tín ngưỡng thờ cúng nhân thần: thờ cúng gia tiên, Quan
Thánh Đế Quân, tổ nghề nghiệp, danh nhân, anh hùng dân tộc ...; Tôn giáo
địa phương: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa...; Tôn giáo thế giới:
phổ biến nhất là Phật giáo, Công giáo, Tin lành.
Những năm đầu thế kỷ XX người Nam Bộ vẫn chịu ảnh hưởng của hệ
tư tưởng Tam giáo (Nho, Phật, Lão) hệ tư tưởng này đã xây dựng một nếp
sống tinh thần ấm áp, lấy tình nghĩa làm trọng, sống chết có nhau, trung quân
13
nghĩa khí, đoàn kết giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn. Tuy nhiên qua thời gian,
ảnh hưởng của Tam giáo đối với cư dân Nam Bộ nhạt dần, không còn là tư
tưởng chỉ đạo chi phối toàn bộ đời sống tâm linh người dân Nam Bộ. Trong
khi người dân Nam Bộ có nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo rất lớn, nhưng lúc này
Phật giáo Nam Tông với quan niệm khép kín về sự giải thoát, chỉ giải thoát
cho chính người đi tu với phương châm “ tự độ tự giác” đã không thích hợp
với người dân Nam Bộ với tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau của những lớp
người đi khai hoang mở đất.
Phật giáo Bắc Tông với với chủ trương cởi mở “ tự độ độ tha, tự giác
giác tha” với con đường cứu vớt rộng đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư
tham gia, góp phần quan trọng trong việc hình thành đời sống văn hóa tinh
thần người dân Nam Bộ. Tuy nhiên, lúc này niềm tin trong chức sắc, tín đồ
Phật giáo Bắc tông đã sa sút làm cho Phật giáo lu mờ vì từ thế kỷ XV nhà Lê
lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng cho việc cai trị đến khi có phong trào Chấn
hưng Phật giáo vào những năm đầu thế thế kỷ XX.
Sự lu mờ Phật giáo Bắc tông cùng với sự hình thành nhiều tổ chức tôn
giáo mới biến dạng, mượn danh Phật giáo gây xáo trộn an ninh trật tự xã hội
đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo của người dân, đến nỗi
chính quyền đương thời phải ra lệnh cấm các loại hình tà đạo hình thành từ
Phật giáo hoạt động. Trong khi người dân Nam Bộ sống trong vùng đất nê
địa, trầm thủy, dưới sông cá lội trên bờ rắn rết, cọp beo luôn đe dọa sống mà
không sát sinh nên khó thực hiện được trong điều kiện tự nhiên như thế. Cuộc
sống lúc này rất khó, kiếm gì ăn nấy để đủ sức lao động, không thể ăn chay
được và hơn nữa người dân còn chưa chăm lo nổi cuộc sống bản thân và gia
đình thì nói gì đến chuyện kiến thiết chùa chiền.
Chính sự lu mờ của Phật giáo đã góp phần tạo điều kiện cho đạo Cao
Đài ra đời mà theo lời nhận xét của Y.S. Werner: “ Dù sao thì sự suy vi của
Phật giáo như được báo trước bởi một lực lượng đông đảo dân chúng bị hút
14
vào đạo Cao đài. Thực ra đạo Cao đài lúc đó được xem như một lực lượng cố
gắng tăng cường Phật giáo”.
Về Nho giáo, suy cho cùng Nho giáo không phải là một tôn giáo mà là
một học thuyết đạo đức, một học thuyết chính trị xã hội. Dù ở Nam bộ Nho
giáo không phát triển rực rỡ nhưng vẫn có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân
dân và có thời điểm Nho giáo được dùng như một “ vũ khí ” để bảo vệ bản
sắc văn hóa dân tộc trước sự đe dọa mất gốc do chính sách thuộc địa của thực
dân Pháp gây ra. Tuy nhiên những thay đổi về mọi mặt đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội nhất là khi Pháp triển khai cuộc đại khai thác thuộc địa lần II đã
làm lung lay vị trí Nho giáo trong lòng người dân Nam Bộ. Việc tiếp nhận lối
sống mới Âu hóa như việc cắt tóc ngắn, phong cách ăn mặc, kiến trúc nhà hay
như tư tưởng giải phóng phụ nữ… đã làm thay đổi bộ mặt đời sống người dân
Nam Bộ và làm cho cơ chế làng xã truyền thống bị thay đổi, hệ thống pháp
pháp lý và cơ cấu tổ chức cũng thay đổi theo. Những điều này cho thấy một
môi trường mà tôn giáo và tín ngưỡng cũ, nhất là Nho giáo đã không còn phù
hợp như lời nhận định của Y.S. Werner: “ Đạo Khổng không còn sức mạnh là
một học thuyết chính trị và xã hội, mặc dù đạo Khổng vẫn còn là căn bản cho
đạo đức gia đình trong những thập niên 1920 và 1930”.
Trong điều kiện Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng đương thời đang
suy thoái, không đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của người dân,
tưởng rằng các tôn giáo có nguồn gốc châu Âu như Công giáo, Tin lành sẽ có
cơ hội phát triển mạnh. Nhưng điều này lại là một điều khó vì đạo Công giáo
dưới con mắt người dân Nam Bộ gắn liền vời sự xâm lược của thực dân Pháp
và sự mất nước. Lúc mới truyền vào đạo Công giáo có khuynh hướng phủ
nhận văn hóa và tín ngưỡng truyền thống, nên khó được người dân Nam Bộ
tiếp nhận. Đạo Tin lành là tôn giáo cải cách từ đạo Công giáo nên có tư tưởng
cởi mở hơn phù hợp với lối sống thị dân và khuynh hướng tự do của cư dân
vùng đất mới, nhưng mới được truyền vào sau này lại bị các tín ngưỡng tôn
15
giáo trước chèn ép và chính quyền đương thời ngăn cấm nên sức cạnh tranh
không nhiều, khó mở rộng vùng hoạt động và ảnh hưởng.
Do điều kiện lịch sử, địa lý có phần khác biệt với miền Bắc và miền
Trung đã hình thành nên đời sống tâm linh của người dân Nam bộ đa dạng và
có sự phong phú riêng và đặc biệt nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo rất cao. Nhưng
hoàn cảnh hiện tại thì các tôn giáo đương thời điều bị khủng hoảng niềm tin
đã giảm đi rất nhiều, đây chính là điều kiện thuận lợi cho đạo Cao Đài ra đời
và phát triển như Nguyễn An Ninh đã nói: “ Dân đã mê muội trong các tôn
giáo mà các tôn giáo, các đạo lý Nhà nước đều suy sụp, làm sao không theo
đạo Cao Đài được. Không tìm thấy không suy ra, gặp đạo Cao Đài có màu sắc
mới mẻ, lại dễ dàng cho tâm trí như ngựa quen đường cũ”[113, Tr.310].
1.1.3 Quá trình phát triển đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài ra đời năm 1926 ở Từ Lâm Tự (hay còn gọi là chùa Gò
Kén) thuộc ấp Long Trung, xã Long Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
do một số công chức, tư sản, địa chủ, trí thức sáng lập và phát triển chủ yếu ở
các tỉnh, thành phố phía Nam. Hiện nay, Đạo Cao Đài có khoảng hơn 2.7
triệu tín đồ và hơn 2 vạn chức sắc, chức việc đang hoạt động ở 38 tỉnh, thành
phố trong cả nước. Quá trình hình thành và tồn tại của Đạo Cao Đài gắn liền
với những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phức tạp của tỉnh Nam
Bộ trước năm 1975.
Trong quá trình hình thành phát triển Đạo Cao Đài, người có công lớn
trong việc thành lập Đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu. Ông Ngô Văn
Chiêu, đạo hiệu Ngô Minh Chiêu, sinh năm 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Ông
thuộc dòng dõi gia đình quan Thị lang của Triều đình Huế. Ông thi đậu bằng
Thành Chung năm 21 tuổi. Rồi làm việc trong bộ máy chính quyền Pháp, ông
làm qua các công việc: làm thư ký tại Sở Tân Đáo ở Sài Gòn; làm ở Dinh
Thượng thư; làm việc tại Tòa Hành chánh tỉnh Tân An; làm Tri huyện tại Tân
An; làm việc tại Tòa Hành chánh tỉnh Hà Tiên; làm chủ quận đảo Phú Quốc;
16
làm việc tạo Phòng Thương mại (Phòng 2) Dinh Thống đốc Nam Bộ. Năm
1931, ông xin nghỉ việc về lập phái tu tịnh tại Cần Thơ.
Ngô Văn Chiêu, lúc nhỏ, thờ Quan Thánh Đế quân. Lớn lên, ông vẫn
thờ Đức Quan Thánh, ăn chay một tháng hai ngày và tụng kinh Minh Thánh.
Năm 1902, ông hầu đàn Tiên ở Thủ Dầu Một và được Tiên Ông giáng cơ
khuyên ông lo tu, ngày sau đắc đạo. Trong buổi bầu cơ năm 1920 ông được
Đức Cao Đài Tiên Ông giáng cơ xưng danh lần đầu tiên với ông. Ngày 8
tháng 2 năm 1921, ông bắt đầu trường chay và hành đạo. Năm 1921, ông thấy
Thiên nhãn hiện 2 lần và được Tiên Ông dạy vẽ con mắt để thờ và xưng tên là
“Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” gọi là Thầy. Sau này ông được
Đức Cao Đài Tiên Ông cho thấy cảnh Bồng Lai. Đến năm 1924 ông Chiêu
chuyển về Sài Gòn làm việc. Tại đây, ông cùng nhóm bạn là ông phủ Vương
Quan Kỳ, đốc học Đoàn Văn Bản, thông phán Nguyễn Văn Hoài, thông phán
Nguyễn Văn Sang lập đàn cơ ở nhà ông Vương Quan Kỳ (sau này trở thành
Thánh thất Cầu Kho). Nhóm tu của Ngô Minh Chiêu đã phát triển các hình
tượng lễ nghi tôn giáo tương đối hoàn thiện và đầy đủ. Năm 1925, Đức Cao
Đài dạy ông đem mối Đạo truyền ra và xây dựng cơ phổ của Đạo Cao Đài.
Bên cạnh công lao lớn của ông Ngô Minh Chiêu trong việc thành lập
đạo Cao đài còn có sự đóng góp quan trọng của nhóm “Cư – Tắc – Sang”.
Ông Cao Quỳnh Cư, người gốc Tây Ninh làm việc tại Sở Hỏa xa, Sài Gòn.
Ông Cư cùng với người bạn đồng hương là Phạm Công Tắc và người cháu là
Cao Hoài Sang, cả hai người điều làm việc tại Sở Thương chánh, Sài Gòn,
hình thành một nhóm xướng họa thi ca. Giữa năm 1925, ba người xây bàn cơ
theo kiểu “ Thông linh học ” của phương Tây. Sau nhiều lần cầu cơ, họ gặp
Đấng Thiêng Liêng tự xưng là Đức “A à ”. Tháng 8 năm 1925, nhóm “Cư –
Tắc – Sang” dùng ngọc cơ để trò chuyện cùng Đức “A à ”. Vào đêm Noel
(24-12-1925), nhóm “Cư – Tắc – Sang” chấp cơ được Đức “A à ” giáng cơ
17
phải trao dồi đạo đức giúp “Thầy” khai đạo. Tới đầu năm 1926, Đức Cao Đài
giáng cơ truyền dạy về đạo đức, tư tưởng cho nhóm “ Cư – Tắc – Sang”.
Thời kỳ đầu Đạo Cao Đài được hình thành từ việc lập đàn cơ của hai
nhóm cơ Ngô Minh Chiêu và “Cư – Tắc – Sang”. Đa phần họ đều là tầng lớp
tri thức, công chức, tư sản nhỏ của chính quyền thực dân Pháp. Các nhóm cầu
cơ tập hợp và kết nạp thêm một số người như: cựu Thượng nghị viện Lê Văn
Trung, ông Lê Văn Lịch, đốc phủ Lê Bá Trang, quan chủ Nguyễn Ngọc
Tương, quan chủ Lê Văn Hòa... trong đàn cơ ngày 27-01-1926 nhóm “Cư –
Tắc – Sang” được Đức Thượng đế chỉ dạy tìm đến ông Ngô Minh Chiêu để
xem cách thức thờ phụng. Các ông Trung – Cư – Tắc – Sang tìm gặp ông
Chiêu và suy tôn làm anh cả. Ngày 28-01-1926, ông Lê Văn Trung mở tiệc
họp mặt 13 tín đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài gồm: ông Ngô Minh Chiêu, Lê
Văn Trung, Vương Quan Kỳ, Nguyễn Văn Hoài, Đoàn Văn Bản, Võ Văn
Sang, Lê Văn Giảng, Lý Trọng Quý, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao
Hoài Sang, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức và 14 vị khác đã hầu đàn cơ
nhiều lần nhưng chưa chính thức được xem là đệ tử Cao Đài. Vậy, bước đầu
các vị tín đồ Cao Đài đầu tiên đã thống nhất được các đàn cơ làm một và cùng
chung mục đích thờ phụng Đức Cao Đài. Nhưng sự thống nhất này không kéo
dài được lâu thì tới ngày 12-2-1926, cơ bút đã phân công cho từng người và
chia thành 6 đàn cơ chính. Trong năm 1926, cơ bút chỉ bảo nhiều về sự phân
hợp trong đạo, quy chế tế lễ của đạo, giảng giải về giáo lý, giáo luật của Đạo
Cao Đài.
Ngày 29-9-1926, nhóm Lê Văn Trung họp tại nhà Nguyễn Văn Tường
(Thông ngôn Sở Tuần cảnh Sài Gòn) làm tờ khai đạo, mang chữ ký của 28
người đại diện cho 247 tín đồ. Ngày 7-10-1926, tờ khai đạo gửi lên Thống
đốc Nam Bộ - Le Fol. Nội dung tờ khai đạo nêu lên tôn chỉ, mục đích của đạo
là “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất” nhằm hòa hợp tất cả các phần
tinh túy chân truyền của các tôn giáo đã có, thống nhất tư tưởng đi đến chân
18
lý cơ tuyệt khổ đại đồng về đạo đức tôn giáo. Đồng thời thực hành chủ nghĩa
“ Từ bi – Công bình – Bác ái” thương yêu đồng loại, hòa nhập, tương trợ
nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ngày 18-11-1926
(14-10-Bính Dần), toàn bộ thành viên các nhóm thờ phụng Đức Cao Đài tổ
chức làm lễ khai đạo tại Từ Lâm tự (hay còn gọi là chùa Gò Kén), ấp Long
Trung, xã Long Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ông Lê Văn Trung
thay mặc tín đồ mời các quan chức Pháp – Việt đến dự, vài tháng sau, số
người nhập môn đã lên đến hàng nghìn người.
Đạo Cao Đài tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, có nghĩa là
một nền đạo lớn mở ra kỳ thứ ba để cứu giúp con người nơi cõi trần thế
thoát khỏi cảnh khổ luân hồi mà trở về cõi Thiêng liêng hằng sống. Gọi là
Đại Đạo, vì đây một nền Đạo lớn, được Đức Ngọc hoàng Thượng Đế khai
mở với tôn chỉ: Qui nguyên Tam giáo, phục nhất Ngũ chi. Đạo Cao Đài kế
thừa tinh hoa của tất cả tôn giáo đã có từ trước đến nay do các đấng: Thần Thánh - Tiên - Phật mở ra, thống nhất hợp lại thành một mối, dưới sự
chưởng quản của Đức Thượng Đế. Gọi là Tam kỳ Phổ độ bởi vì trước đây đã
mở ra hai kỳ phổ độ: Nhất kỳ Phổ độ và Nhị kỳ Phổ độ. Nhất kỳ Phổ độ mở
ra vào thời Thái cổ của nhân loại, gồm các tôn giáo: Đức Nhiên Đăng Cổ
Phật mở Phật giáo, Đức Brahma Phật mở Đạo Bàlamôn, Đức Thái Thượng
mở Tiên giáo, Đức Phục Hy mở Nho giáo, Thánh Moise mở Thánh giáo Do
Thái. Nhị kỳ Phổ độ mở ra vào thời Thượng cổ của nhân loại, gồm các tôn
giáo: Đức Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ, Đức Lão Tử mở Lão giáo
và Đức Khổng Tử mở Nho giáo ở Trung hoa, Đức Chúa Jésus mở Thánh
giáo ở Do Thái, Đức Khương Thượng cầm Bảng Phong Thần đứng đầu Thần
đạo Trung Hoa. Tam kỳ Phổ độ là thời đại ngày nay, Đức Chí Tôn Thượng
Đế không cho mở ra nhiều tôn giáo như hai thời kỳ trước là Nhất kỳ Phổ độ
và Nhị kỳ Phổ độ vì nền đạo mở thời Tam kỳ Phổ độ bao gồm cả Tam giáo
và Ngũ chi, thống nhất thành một mối, để nhân loại không còn bị chia rẽ
19
nhau vì khác tôn giáo, vì khác tín ngưỡng, vì sắc tộc để tiến đến một xã hội
đại đồng.
Đạo Cao Đài cho rằng, đây là kỳ phổ độ lần cuối, để cũng cố đức tin
trong đạo xem đó là một cuộc phán xét cuối cùng, để tận độ nhân sinh, cứu
giúp tất cả chúng sinh. Đức Chí Tôn khẳng định: “Gặp Tam kỳ Phổ độ này
mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi”.
Cao Đài là một cái đài cao ở Linh Tiêu Điện, trong Ngọc Hư Cung là
nơi Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế chủ trì các cuộc họp mỗi khi Đại
hội triều đình. Thời Tam kỳ Phổ độ, Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo, lấy đài
ngự của Ngài là Cao Đài làm danh hiệu. Do đó, Đức Ngọc Hoàng Thượng
Đế là Đấng Cao Đài, nên cũng gọi là Cao Đài Thượng Đế, và nền Đại Đạo
được mở ra vào thời Tam kỳ Phổ độ được gọi là Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ,
cũng gọi là Cao Đài Đại Đạo, hay gọi tắt là Đạo Cao Đài
Sau khi thành lập đạo Cao Đài, từ năm 1927 Đạo Cao Đài phát triển
nhanh chống, mở rộng địa bàn hoạt động thuyên bổ chức sắc đi truyền đạo ở
nhiều nơi, tập trung ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, cũng trong thời kỳ
này xảy ra sự chia rẽ trong nội bộ đạo. Ông Ngô Minh Chiêu người có công
lớn, sáng lập nền Đạo đã không nhận chức vụ Giáo tông của Cao Đài Tây
Ninh mà về Cần Thơ thành lập phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, thực hiện
đường hướng tu luyện theo pháp môn “vô vi” không phổ độ, không thành lập
tổ chức giáo hội. Chủ trương tu luyện theo bí pháp chơn truyền nên phái
Chiếu Minh của Ngô Minh Chiêu không phát triển rộng rãi mà chỉ có số ít tín
đồ đi theo. Phái Chiếu Minh được xem như là cơ bảo tồn bí pháp của Đức
Cao Đài.
Cao Đài Tây Ninh là Hội thánh đầu tiên tiếp nhận Tân luật, Pháp
Chánh truyền xây dựng Tòa thánh Tây Ninh và kiến trúc hạ tầng, xây dựng hệ
thống bộ máy tổ chức hành chính đạo từ Trung ương đến cơ sở. Lúc đầu vốn
là Hội thánh thống nhất và duy nhất của đạo Cao Đài, nhưng từ khi nội bộ
20
phân hóa một số chức sắc lớn hoạt động ly khai về các địa phương, hình thành
các hệ phái Cao Đài mới như Chơn Lý, Tiên Thiên, Ban Chỉnh đạo...làm cho
Cao Đài Tây Ninh bị đặt vào cái thế như một hệ phái. Phái Tây Ninh do Lê
Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang lãnh đạo, là một phái lớn được
coi là gốc Đạo Cao Đài, có Tòa thánh tại Tây Ninh, có số lượng tín đồ đông
nhất trong các hệ phái Cao Đài. Cao Đài Tây Ninh thực hiện đường hướng
hành đạo phổ độ nên thu hút được đông đảo tín đồ, chủ yếu là nông dân
nghèo. Trong quá trình phát triển, các chức sắc lãnh đạo đạo Cao Đài Tây
Ninh đã bị các thế lực thù địch lợi dụng có hoạt động chính trị, dẫn đến sự
chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ tôn giáo.
Bất bình với đường hành đạo của Cao Đài Tây Ninh, nhiều chức sắc
Cao Đài đã rời bỏ Tòa thánh Tây Ninh về các địa phương thành lập hệ phái
Cao Đài mới… Trong lịch sử, Đạo Cao Đài chia rẽ thành nhiều hệ phái, và
tồn tại cho đến ngày nay. Cụ thể:
1. Cao Đài Tây Ninh là gốc của đạo Cao Đài, có Tòa thánh Tây Ninh
tập trung chủ yếu ở Tây Ninh, Long An, Sài Gòn, Tiền Giang, Đồng Tháp,
Cần Thơ, Kiên Giang,...
2. Cao Đài Ban Chỉnh đạo do các ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá
Trang sáng lập năm 1934 có Tòa thánh ở Bến Tre, tập trung chủ yếu ở Bến
Tre, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh,...
3. Cao Đài Tiên Thiên do các ông Nguyễn Hữu Chính, Lê Văn Lịch,
Phan Văn Tòng sáng lập năm 1930 có Tòa thánh Châu Minh ở Bến Tre, hoạt
động chủ yếu ở Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long...
4. Cao Đài Chơn Lý (Chân Lý) do ông Nguyễn Văn Ca sáng lập năm
1930 có Tòa thánh ở Mỹ Tho, hoạt động chủ yếu ở Tiền Giang.
5. Cao Đài Minh Chơn đạo do các ông Trần Đạo Quang, Cao Triều
Phát, Phan Văn Thiệu sáng lập năm 1934, có Tòa thánh Ngọc Sắc ở Cà Mau
hoạt động chủ yếu ở Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu.
21