NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CHO CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HUYỆN CHỢ LÁCH,
TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài............................................................4
3. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................8
4. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu....................................................8
5. Giả thuyết khoa học...............................................................................................8
6. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................................9
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu................................................................................9
8. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................9
9. Cấu trúc của luận văn..........................................................................................10
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp của luận văn..........................................10
NỘI DUNG.............................................................................................................11
Chương 1 Cơ sở khoa học của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ
đảng viên ở huyện chợ lách, tỉnh Bến Tre hiện nay
.................................................................................................................................
12
1.1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở
huyện
Chợ
Lách,
tỉnh
Bến
Tre
hiện
nay
.................................................................................................................................
12
1.1.1.
Khái
niệm
đạo
đức
và
đạo
đức
cách
mạng
.................................................................................................................................
12
1.1.2.
Nội
dung
cơ
bản
của
đạo
đức
cách
mạng
.................................................................................................................................
25
2
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở
huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay..................................................................37
1.2.1. Khái quát điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của huyện Chợ Lách,
tỉnh Bến Tre.............................................................................................................38
1.2.2. Đặc điểm của cán bộ đảng viên huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay.....41
1.2.3. Sự cần thiết và yêu cầu của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ
đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay..............................................43
1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ
đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay..............................................46
Tiểu kết chương 1..................................................................................................52
Chương 2 Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở huyện Chợ
Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay - Thực trạng và giải pháp.....................................56
2.1. Thực trạng nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ
Lách hiện nay..........................................................................................................54
2.1.1. Những kết quả đạt được trong việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên ở huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre hiện nay...............................................54
2.1.2. Những hạn chế trong việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên ở huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre hiện nay........................................................68
2.1.3. Nguyên nhân đạt được và hạn chế trong việc nâng cao đạo đức cách mạng
cho cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách hiện nay.................................................73
2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở
huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay..................................................................82
2.2.1. Nhóm giải pháp về phía cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội....................................................................82
2.2.2 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi để nâng
cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện
nay...........................................................................................................................00
3
2.2.3. Nhóm giải pháp đối với cán bộ đảng viên...................................................102
Tiểu kết chương 2................................................................................................108
KẾT LUẬN..........................................................................................................109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................111
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
KTTT: Kinh tế thị trường
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTB: Chủ nghĩa tư bản
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
CNCS: Chủ nghĩa Cộng sản
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng đạo đức cách
mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo Người, để làm tròn sứ mệnh của
mình, Đảng không chỉ có lý luận tiên phong dẫn đường, là chủ nghĩa Mác Lênin, mà Đảng còn phải tiêu biểu cho đạo đức và văn hóa. Đạo đức cách mạng
là nền tảng, gốc rễ làm cho bản chất Đảng được giữ vững và phát huy, quyền lực
không bị biến dạng và tha hóa, nhân cách đảng viên không bị suy thoái, hư
hỏng; bảo đảm cho Đảng làm tròn sứ mệnh của đội tiền phong chiến đấu của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc. Thực tiễn cách mạng của Đảng và
dân tộc ta hơn tám thập kỷ qua, nhất là trong công cuộc đổi mới đã cho thấy, đạo
đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng và tác dụng to lớn đối
với sự phát triển của đất nước và sự trưởng thành của Đảng. Vì vậy, trong suốt
tiến trình cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo giáo dục,
rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng
thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ tận
tụy và trung thành của nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, vấn đề rèn luyện
đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn có ý nghĩa quan trọng
trong mọi thời kỳ cách mạng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở:
“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải
giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy
tớ thật trung thành của nhân dân”. Sau Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Đại hội
1
XII của Đảng (tháng 1-2016) đã đặt vấn đề xây dựng Đảng về mặt đạo đức cùng
với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều đó cho thấy, trước
những yêu cầu đổi mới hiện nay, việc tăng cường rèn luyện phẩm chất, đạo đức
cách mạng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong đội
ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp chiến
lược là một yêu cầu khách quan, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Trong đội ngũ gần năm triệu đảng viên của Đảng Cộng sản hiện nay, có
nhiều tấm gương đề cao lợi ích của dân tộc, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích
chung của hàng vạn, hàng triệu cán bộ, đảng viên trong hệ thống các cơ quan
đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị. Đại bộ phận cán bộ đảng viên luôn kiên
định một cuộc chiến quyết liệt, tự vượt lên chính mình để có đủ cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, giữ vững chủ nghĩa, ít lòng tham muốn vật chất, vượt qua
những cám dỗ bất minh của danh và lợi. Tuy nhiên, ngày nay, khi mà các quan
niệm về thang giá trị xã hội có nhiều thay đổi, khi mà hằng ngày, hằng giờ người
cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền
KTTT, của quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế, trước sự cám dỗ, mua chuộc
của kẻ thù qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”… đang dẫn tới những biểu hiện
đáng lo ngại. Đó là các biểu hiện mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4
(khóa XII) đã chỉ ra là: Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,
phai nhạt lý tưởng, niềm tin với Đảng, chế độ XHCN cũng như chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị
kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo
vun vén cho cá nhân, mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc,
với nhân dân. Những cán bộ, đảng viên mang những biểu hiện này, với họ, sinh
hoạt Đảng chỉ còn là phương tiện để giữ lấy “đảng tịch” (danh nghĩa đảng viên)
2
và tồn tại trong Đảng để mưu lợi, cầu danh, đoạt vị chứ không phải “sống” vì
Đảng, vì dân, không còn gì là thiêng liêng, là lẽ sống và niềm tin nữa. Tính trung
thực bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí bị bào mòn. Nói không đi đôi với làm.
Nói những lời tốt đẹp nhưng sống và hành động lại xa lạ với những gì đã nói. Đó
là hiện thân của thói đạo đức giả và thường được che đậy tinh vi, kín đáo. Điều
đáng lo ngại nhất là tình trạng này dẫn tới những “giả chính trị”, “giả khoa học”,
“giả đạo đức”, cũng là “một thứ giả nhân cách”. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh
quyền, bằng mọi thủ đoạn để chạy chọt các mối quan hệ, tìm kiếm những liên
kết lợi ích nhóm bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng
mà có để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn
tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nên sự nhức nhối về đạo
đức trong Đảng, sự phản cảm lớn nhất đối với nhân dân và xã hội.
Xuất phát từ thực trạng của vấn đề đạo đức của đội ngũ cán bộ đảng viên
nói chung, cán bộ đảng viên huyện Chợ lách, tỉnh Bến Tre nói riêng, cho nên cần
phải đặt nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng về đạo đức lên hàng đầu, nếu
không, việc xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức chẳng những không
thực hiện được, mà sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cũng
sẽ bị ảnh hưởng và yếu đi nghiêm trọng. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân
dân lúc này là thiết tha mong muốn, cũng đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi, Đảng
phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ
trên thực tế, bằng việc làm, bằng ứng xử và hành xử là những người có đạo đức.
Vì vậy, việc nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là
vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài, có tác động trực tiếp và to lớn đến
thành công của sự nghiệp đổi mới vì CNXH nói chung và của Đảng bộ huyện
Chợ Lách nói riêng. Để góp phần thực hiện nhiệm vụ đó, tôi lựa chọn đề tài
3
“Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên huyện Chợ Lách, tỉnh
Bến Tre hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đạo đức nói chung và đạo đức cán bộ, đảng viên nói riêng trong
những năm gần đây đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đã có nhiều
công trình nghiên cứu dưới các mức độ khác nhau. Đặc biệt là trong giai đoạn
hiện nay, cùng với sự biến đổi nhanh chóng của thế giới, nước ta bước vào xu thế
hội nhập và mở cửa, thang giá trị đạo đức truyền thống ít nhiều có sự thay đổi
nên vấn đề này càng thu hút được sự quan tâm của nhiều người.
Thực tiễn cho thấy, tác động tiêu cực của nền KTTT đến lĩnh vực đạo đức đã
và đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác xây dựng Đảng, công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nói chung và giáo dục đạo đức cách mạng cho
cán bộ, đảng viên nói riêng. Thực chất đó là thách thức đối với cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân, đấu tranh quyết liệt giữa hai lối sống: lối sống vì mục
tiêu, lý tưởng cộng sản, lành mạnh, trung thực, có ý thức chăm lo bảo vệ của công,
bảo vệ lợi ích của tập thể, của đất nước với lối sống thực dụng, cơ hội, hữu khuynh.
Thách thức trong cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt
mục tiêu, lý tưởng cách mạng rất cần phê phán, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục.
Để giữ vững sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, giữ vững vai trò tiên
phong trong lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, quyết tâm đi tới thắng lợi hoàn toàn. Chính vì vậy, vấn đề nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ đảng viên được nhiều học giả đầu tư nghiên cứu. Liên quan
đến đề tài nghiên cứu có hai nguồn tư liệu lớn:
Một là, các công trình nghiên cứu về đạo đức nói chung và đạo đức
4
cách mạng nói riêng.
Về sách, với các công trình nghiên cứu: Đạo đức mới của Vũ Khiêu (chủ
biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974; Giá trị tinh thần truyền thống của
dân tộc Việt Nam của GS.Trần Văn Giàu, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1993;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của PGS Thành Duy (chủ biên), Nxb Chính
trị quốc gia; Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng, Nxb Thông
tin lý luận, Hà Nội, 1996; Giáo trình Đạo đức học của PGS Trần Đăng Sinh (chủ
biên), Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, Công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới
của Đào Duy Tùng, Nxb Hà Nội, 2015; v.v... Nhìn chung, các công trình nghiên
cứu trên đã làm sáng tỏ các khái niệm: đạo đức, đạo đức cách mạng, những giá
trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam...
Về tạp chí, với các công trình nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu:
Nguyễn Văn Huyên với công trình “Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống
bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 6, năm
1998; Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định
hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 6/1996; Nguyễn Tĩnh
Gia, “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ
quản lý”, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 2/1997; Hoàng Trung với công trình
“Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục rèn luyện đạo đức trong
nền KTTT”, Tạp chí Triết học, số 5/1998 v.v... Các công trình này đã khẳng định
sự bền vững của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, làm rõ
mối quan hệ cũng như sự tác động của đạo đức tới các yếu tố như kinh tế, văn
hóa... và sự tác động của các yếu tố này tới đạo đức.
Ngoài ra, còn có các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu
5
về vấn đề này, đó là các công trình như: “Vai trò của đạo đức với sự hình thành
và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Lê Thị Thủy, Luận án
tiến sĩ Triết học, 2001; “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng
nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Cao Thu Hằng, Luận án tiến sĩ Triết
học, 2011; “Vấn đề xây dựng đạo đức cho cán bộ cơ sở trong điều kiện KTTT ở
Việt Nam hiện nay”, Đặng Thanh Giang, Luận văn thạc sĩ Triết học, 2001; “Giáo
dục đạo đức với việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH,
HĐH”, Lê Thị Thủy, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 4/2000; “Giá trị đạo đức
và biểu hiện của nó trong đời sống xã hội”, Mai Xuân Lợi, Tạp chí Triết học, số
3, 2001; v.v... Các công trình nghiên cứu này đã bàn về nội dung đạo đức cách
mạng, vai trò của đạo đức với sự phát triển của xã hội, đối với công tác quản lý
xã hội và các biện pháp giáo dục đạo đức cách mạng.
Hai là, các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp giáo dục
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên hiện nay.
Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên
cứu vấn đề đạo đức, đạo đức của người đảng viên, đồng thời cũng đưa ra các giải
pháp nhằm xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên, đội ngũ
cán bộ lãnh đạo quản lý trong điều kiện nền KTTT. Có thể kể đến các công trình
tiêu biểu như:
Công trình “Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS.
Tô Huy Rứa, PGS.TS. Trần Khắc Việt, Nxb Hà Nội 2013; “Công tác tư tưởng
trong thời kỳ đổi mới” của Đào Duy Tùng, Nxb Hà Nội 2015; “Vấn đề nâng cao
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước trong giai
đoạn hiện nay” của Phạm Văn Hùng, Luận văn Thạc sĩ Triết học, 2000; “Vấn đề
6
xây dựng đạo đức cho cán bộ cơ sở trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay
qua thực tế tỉnh Thái Bình” của Đặng Thanh Giang, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
2001; “Đạo đức người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bình Định trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay – vấn đề và giải pháp” của Lê Ngọc Danh, Luận
văn Thạc sĩ Triết học, 2002; “Vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng cho người
cán bộ chủ chốt cơ sở ở tỉnh Đăk Lăk trong điều kiện KTTT hiện nay” của
Nguyễn Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Triết học, 2003; “Xây dựng đạo đức
mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện KTTT ở nước ta hiện nay (qua
thực tế ở tỉnh Kiên Giang)” của Nguyễn Văn Quyết, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
2000; “Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện
KTTT ở tỉnh Hà Giang hiện nay” của tác giả Trương Văn Thắng, Luận văn thạc
sĩ Triết học, Hà Nội, 2003; “Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên
trong điều kiện KTTT hiện nay (qua thực tế ở tỉnh hưng Yên)” của Bùi Văn Hà,
Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2004; “Nâng cao đạo đức cách mạng cho
đảng viên quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ hiện nay”của Đào Thanh Phong,
Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2016…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ vai trò của đạo đức
cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên gắn với
các địa bàn cụ thể, trên cơ sở đó, các tác giả đã trình bày các giải pháp nhằm
nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở nơi đây. Song chưa
có công trình nào trình bày các giải pháp hệ thống nhằm nâng cao đạo đức cách
mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên Huyện Chợ lách, tỉnh bến Tre.
Bàn đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở
huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mới được đề cập như là một trong những phương
diện, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng hiện nay: Báo cáo tổng kết công tác
7
xây dựng Đảng giai đoạn 2010-2015; Báo cáo tổng kết công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng 2010-2015; Báo cáo tổng kết 05 năm công tác kiểm tra, giám sát
(2010-2015). Tuy nhiên, trong khuôn khổ của những báo cáo thường niên về
công tác xây dựng Đảng chưa phản ánh hết thực trạng mà cần có những bài
nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu, vì thế cần phải tiếp tục đi sâu
nghiên cứu. Đồng thời, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về giải pháp để
nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến
Tre. Xuất phát từ thực tế trên, cũng như yêu cầu cấp thiết của địa phương, tác giả
lựa chọn đề tài: “Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên huyện
Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay” để nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao đạo
đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đáp ứng
yêu cầu trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên nền tảng làm rõ cơ sở khoa học và phân tích thực trạng đạo đức cách
mạng của cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách, luận văn đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên huyện Chợ Lách
hiện nay.
4. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là đạo đức cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách,
tỉnh Bến Tre hiện nay.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
8
Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên huyện Chợ Lách, tỉnh
Bến Tre hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện đồng bộ các các nhóm giải pháp trong đề tài đã nêu sẽ góp
phần nâng cao, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên huyện Chợ Lách, tỉnh
Bến Tre đáp ứng yêu cầu thực tiễn của địa phương và đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay.
Phân tích thực trạng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở huyện
Chợ Lách hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho
cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, khảo sát thực trạng đạo đức cách mạng của cán bộ
đảng viên trên địa bàn huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, bao gồm cán bộ, công
chức đang công tác trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể của huyện Chợ
Lách (không bao gồm đảng viên nông thôn, đảng viên là cán bộ công chức đã
nghỉ hưu, đảng viên trong lực lượng vũ trang); thời gian từ 2012 đến nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
9
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, thống kê....
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục làm 2 chương 4 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản
Việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ
Lách hiện nay là vấn đề cấp bách và lâu dài, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần
nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên.
Đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến
Tre hiện nay bên cạnh những mặt tích cực còn tồn tại những mặt hạn chế cần
được tập trung khắc phục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
Để nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên huyện Chợ Lách,
tỉnh Bến Tre hiện nay cần được tiến hành đồng bộ, thường xuyên các nhiệm vụ,
giải pháp.
10.2. Đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận: Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh làm rõ hơn các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, thực trạng đạo đức
cách mạng cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ
yếu để nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở huyện Chợ Lách tỉnh
Bến Tre hiện nay.
10
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu
tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn Đạo đức học. Luận văn còn
có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên ở huyện Chợ Lách nói riêng và cán bộ, đảng viên Việt Nam nói chung.
11
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CHO CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN Ở HUYỆN CHỢ LÁCH,
TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY
1.1.
Cơ sở lý luận của việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ
đảng viên ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre hiện nay
1.1.1. Khái niệm đạo đức và đạo đức cách mạng
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức
đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây ở cả Phương Đông và Phương Tây, đặc biệt
trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy lạp cổ đại.
Ở Phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại
xuất hiện trong các quan niệm về “đạo” và “đức” của họ. Theo họ, “Đạo” có nghĩa
là con đường, đường đi. Hay còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã
hội. “Đức” lần đầu xuất hiện trong Kinh văn đời nhà Chu, dùng để nói đến nhân
đức, đức tính và nhìn chung là biểu hiện của “đạo”, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân
lý. Như vậy “đạo đức” của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những
nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo, nó đưa ra những
nguyên tắc, những chuẩn mực khuyên răn con người làm điều thiện.
Ở Phương Tây, khái niệm đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là “mos”
(moris) - lề thói (moralis nghĩa là có liên quan với lề thói, đạo nghĩa), đồng thời còn
12
có thuật ngữ “luân lý” đồng nghĩa với đạo đức có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
“ethicos” - lề thói, tập tục. Như vậy đạo đức ở đây tức là lề thói và tập tục biểu hiện
mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày.
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, đạo đức được coi là những nguyên
tắc, chuẩn mực do thần thánh tạo ra để răn dạy con người. Theo họ, đạo đức như
là những năng lực “tiên thiên” của lý trí con người. Vì thế, họ cho rằng sự điều
chỉnh hành vi, cách ứng xử đạo đức của con người trong đời sống xã hội là do sự
sắp đặt, an bài của thượng đế; cái thiện, cái ác là hiện thân của đấng tối cao và là
quyền uy của Chúa trời.
Đối lập với quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà sáng lập ra chủ
nghĩa Mác - Lênin đã xây dựng một học thuyết đạo đức có tính khoa học và cách
mạng. Học thuyết của các ông đã gắn các quan hệ đạo đức với các phương thức
sản xuất và cho rằng “đạo đức” là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội, nó được nẩy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội.
Theo V.I.Lênin: "Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của
bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai
cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản" [68, tr.396].
Tất cả những luận giải trên đều nhận thấy, đạo đức như những triết lý nhân
sinh và hành động của con người để làm người ở đời, nó là sản phẩm của quan
hệ vật chất của xã hội và nó luôn luôn biến đổi theo đời sống vật chất. Ph.
Ăngghen viết: “Con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra
những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở
cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản
xuất và trao đổi ” [6, tr 68].
13
Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh và chịu sự
quy định của tồn tại xã hội. Các chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức mà con người
đặt ra nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội chính là phản ánh
những điều kiện tồn tại xã hội, đó là phương thức sản xuất, điều kiện địa lý và
dân cư nơi con người sinh sống.
Tóm lại, Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của
con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện
bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [03, tr.6].
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu đạo đức ở những khía cạnh sau:
Một là, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ảnh tồn
tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội. Đạo đức cũng như các quan điểm
triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo đều mang tính chất của kiến trúc thượng
tầng. Chế độ kinh tế, xã hội là nguồn gốc của các quan điểm đạo đức con người.
Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo, tồn tại xã hội khác
nhau thì có những kiểu đạo đức xã hội khác nhau như: đạo đức cộng sản nguyên
thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư bản chủ nghĩa và
đạo đức cộng sản chủ nghĩa.
Hai là, đạo đức còn chịu sự tác động của các yếu tố khác cũng thuộc kiến
trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, giáo dục... Sự phát triển và biến đổi
của các lĩnh vực này đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự biến đổi, phát
triển của đạo đức trong lịch sử, nhưng xét đến cùng thì triết học, nghệ thuật,
khoa học đều bị quy định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội.
14
Ba là, đạo đức là một trong những phương thức điều chỉnh hành vi của
con người, hướng con người vươn tới chân - thiện - mỹ. Với tư cách là một hình
thái ý thức xã hội, đạo đức bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa con
người với tự nhiên. Trên cơ sở nhận thức được các chuẩn mực, quy tắc, nghĩa vụ
đạo đức, từ hoạt động thực tiễn và qua giáo dục bản thân chủ thể đạo đức sẽ tự
nguyện thực hiện, tự điều chỉnh các hành vi đạo đức cho phù hợp với yêu cầu xã
hội. Từ đó sẽ giúp họ nhận thức và hành động theo cái chân, cái thiện, cái mỹ.
Bốn là, đạo đức là nhu cầu, cội nguồn của hạnh phúc, nó sẽ góp phần nhân
đạo hóa con người và xã hội loài người. Quá trình hoạt động sống của con người là
quá trình đấu tranh không ngừng để cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, chống lại những
lực lượng cản trở sự phát triển xã hội. Đó cũng là quá trình để thỏa mãn nhu cầu của
bản thân con người, đem lại cho con người niềm vui, những cảm giác sung sướng.
Nhưng không phải mọi sự thỏa mãn đều là hạnh phúc theo đúng nghĩa của nó, mà
chỉ có sự thỏa mãn những nhu cầu đạo đức, những nhu cầu chính đáng thì mới tạo
nên hạnh phúc chân chính cho con người. Khi thỏa mãn những nhu cầu đạo đức sẽ
làm cho con người thanh thản lương tâm, tự hào về cuộc sống và những giá trị cao
đẹp của nó. Từ đó, họ sẽ biết sống thân ái, vì nhau, biết thương yêu chia sẻ lẫn
nhau, giúp đỡ nhau, hướng tới cuộc sống tốt đẹp của nhau.
Năm là, đạo đức góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Đạo đức được nảy sinh từ các hoạt động kinh tế nhưng nó có sự tác động trở lại
kinh tế và có vai trò tích cực trong đời sống xã hội. V.I.Lênin nói rằng: “Đạo
đức giúp xã hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động”
[67, tr.371]. Khi những giá trị đạo đức tốt đẹp được hình thành, tính tích cực của
15
người lao động được phát huy sẽ tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Đồng
thời họ tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh vì con người, chống lại thái độ vô
nhân đạo, chống lại đói nghèo, lạc hậu, góp phần tạo ra những điều kiện nhất
định để con người thực hiện nhu cầu của mình. Chính hoạt động lao động sáng
tạo và đấu tranh của con người sẽ mang lại những giá trị đạo đức ngày càng tiến
bộ, làm cho quan hệ giữa người với người trở nên thân thiện hơn, xã hội sẽ phát
triển hài hòa, lành mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần. Đây chính là điều kiện thúc
đẩy sự tiến bộ xã hội.
Đạo đức đã, đang và sẽ có một vai trò vô cùng to lớn đối với sự nghiệp
cách mạng nước ta hiện nay. Đồng thời, đạo đức là động lực tinh thần của người
cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [34, tr.283]. Khi có đạo đức cách
mạng thì sẽ chiến thắng được những thói hư, tật xấu, những tiêu cực và chủ
nghĩa cá nhân trong mỗi con người.
Trước sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội nhập thế giới cùng
với sự phát triển của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, đạo đức đang trở
thành mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Đạo đức có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển KTTT ở nước ta hiện nay. Nó sẽ góp phần xác định, củng cố
định hướng XHCN cho nền kinh tế và điều tiết các quan hệ lợi ích trong nền
kinh tế đó. Trong nền KTTT, các tiêu chuẩn đạo đức và các quan niệm về giá trị
đạo đức là những yếu tố cấu thành và là tiền đề nhân văn trong các hoạt động của
chủ thể kinh tế. Với các chủ thể thị trường khác nhau thì sẽ có quan niệm đạo
đức khác nhau dẫn đến phương thức cạnh tranh khác nhau; ranh giới giữa lợi
nhuận và đạo đức, cái tốt với cái xấu, giữa cái thiện với cái ác nếu thiếu bản
16
lĩnh, thiếu kiến thức văn hóa và lương tâm nghề nghiệp thì vừa dễ vi phạm đạo
đức, vừa dễ vi phạm pháp luật. Do đó, trong nền KTTT đòi hỏi con người phải
năng động, sáng tạo, nhạy bén, tận tâm với công việc, tôn trọng các chuẩn mực,
giá trị đạo đức, tôn trọng kỷ cương và tuân thủ pháp luật.
Có thể khẳng định rằng: giữa đạo đức và nền KTTT định hướng XHCN có
mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau. Trong đó đạo đức mới trở
thành một động lực để thúc đẩy nền KTTT định hướng XHCN phát triển vì hạnh
phúc con người. Chính vì vậy, trong điều kiện KTTT, cần phải có sự quan tâm
đặc biệt trong việc định hướng và giáo dục các giá trị đạo đức cách mạng . Đặc
biệt, đối với bộ phận cán bộ chủ chốt các cấp - những người đại diện cho Đảng
và Nhà nước có vai trò lãnh đạo, định hướng và phục vụ nhân dân càng cần tăng
cường giáo dục đạo đức cách mạng để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển
đất nước, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Tóm lại, quá trình vận động và phát triển của đạo đức luôn gắn liền với sự
tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người. Đạo đức có vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, đặc biệt là nó có vai trò điều
chỉnh hành vi của con người. Khi xã hội càng phát triển thì càng cần đến vai trò
điều chỉnh của đạo đức. Do đó trong giai đoạn hiện nay, trong điều kiện phát
triển của KTTT và của quá trình toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết, chúng ta phải
không ngừng giáo dục đạo đức cho con người nói chung, cho cán bộ đảng viên
các cấp nói riêng, nhằm đẩy lùi những suy thoái về đạo đức của một bộ phận cán
bộ, đảng viên đồng thời góp phần đào tạo con người mới XHCN - những con
người phát triển toàn diện cả “đức” và “tài”, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
1.1.1.2. Khái niệm đạo đức cách mạng
17
Sự vận động và phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên, đi từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Sự thay đổi
của phương thức sản xuất là cơ sở dẫn đến sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử. Điều này, phản ánh quy luật tất yếu của xã hội loài người,
đạo đức cũng có lôgíc tương ứng, nó cũng vận động, phát triển và đỉnh cao là
đạo đức mới - đạo đức CSCN.
Cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
dự báo về sự hình thành của một nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa.
Đó là nền: “Đạo đức thực sự có tính người, đứng trên những đối lập giai cấp và
trên mọi hồi ức về những đối lập ấy” [22, tr.137].
Đạo đức cộng sản là giai đoạn phát triển cao trên con đường tiến lên của
đạo đức loài người. Nó chứa đựng tất cả những gì tốt đẹp nhất mà nhân loại đã
tạo ra và tiếp tục được phát huy trong hoàn cảnh lịch sử mới. Đạo đức cộng sản
là một bước phát triển mới về chất so với các kiểu đạo đức đã từng xuất hiện
trước đây trong lịch sử. Nó biểu hiện những đặc điểm với bộ mặt tinh thần của
những con người đã tiêu diệt chế độ bóc lột và đã lập nên xã hội CSCN.
Đạo đức cộng sản là đạo đức của giai cấp vô sản cách mạng, phản ánh
những lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóng
mình và giải phóng nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hạnh
phúc chân chính cho con người. Cho nên đạo đức của những người vô sản là tiến
bộ và trở thành một thực tế lịch sử, mang nội dung nhân đạo cả về mặt thực tiễn
và mặt nhận thức.
Trong lịch sử xã hội, đạo đức cộng sản là khái niệm hoàn toàn mới, nó đối
lập với đạo đức của giai cấp tư sản và giai cấp bóc lột khác. Đồng thời, nó cũng
18
khác với đạo đức của người sản xuất nhỏ. Theo V.I.Lênin, xét về bản chất, đạo
đức mới “là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần
đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo
ra xã hội mới của những người cộng sản” [68, tr.369]. Đạo đức mới là chuẩn mực
của người cộng sản về chân, thiện, mỹ nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của những
người cộng sản với nhau, với tổ chức và với nhân dân lao động.
Theo quan điểm mácxít, đạo đức cách mạng là hình thức lịch sử đầu tiên
của đạo đức CSCN. Đó là đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, đã hình
thành từ trong khuôn khổ của xã hội tư bản. Đạo đức cách mạng của giai cấp
công nhân là toàn bộ những nguyên tắc sống và những qui phạm đạo đức phù
hợp với hình thái kinh tế - xã hội CSCN. Tiêu chuẩn khách quan và hàng đầu của
đạo đức cách mạng là đấu tranh cho sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội và đi lên
chủ nghĩa cộng sản. Những nguyên tắc của đạo đức cách mạng tạo thành qui tắc
của Người, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Đó là trung thành với sự
nghiệp của Đảng Cộng sản, bằng lao động sáng tạo tăng thêm của cải cho xã hội,
tinh thần tập thể, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa quốc tế, v.v.
Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản đối lập với đạo đức của giai cấp
thống trị bóc lột, nó tiếp thu những qui phạm đạo đức cơ bản chung của loài
người do quần chúng nhân dân đề ra trong suốt hàng nghìn năm đấu tranh chống
áp bức xã hội và chống những thói quen xấu. Như vậy, đạo đức cách mạng là cấp
độ tiến bộ, đạo đức cao nhất của loài người.
Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và lý luận về đạo
đức nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có
nhiều cống hiến trong lĩnh vực đạo đức. Tư tưởng đạo đức cách mạng cùng tấm
19
gương đạo đức trong sáng của Người có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN ở nước ta hiện nay.
Hồ Chí Minh đánh giá cao giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam xem đó là một sức mạnh về tinh thần trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Từ khi cách mạng có Đảng lãnh đạo, qua thực tiễn đấu tranh, Người cho rằng chỉ
có giác ngộ chính trị không thì chưa đủ, mà còn phải thấm nhuần, tu dưỡng đạo
đức cách mạng. Đây chính là nhân tố quan trọng tác động tạo sức mạnh cách
mạng tăng lên gấp bội.
Theo Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng là: "Quyết tâm suốt đời đấu tranh
cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng,
giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi
ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá
nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh
quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin,
luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác
của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ" [31. tr.283 - 285].
Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó là sự phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng
của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác nhằm giành độc
lập dân tộc và đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH. Vì vậy, tiếp cận khái niệm
"đạo đức cách mạng", cũng cần phải xem xét dưới góc độ nhận thức luận, chức
năng cơ bản và giá trị nhân cách. Cũng như các hệ thống lý luận đạo đức khác, lý
luận đạo đức cách mạng là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội. Nhưng với
tính cách là trình độ phản ánh cao nhất của ý thức đạo đức - một hình thái ý thức
20
xã hội đặc biệt - lý luận đạo đức phản ánh bản chất của tồn tại xã hội mà cụ thể
là các quan hệ sản xuất, biểu hiện ra là các quan hệ lợi ích. Cho nên đạo đức
cách mạng kế thừa đặc điểm chung của hệ thống lý luận đạo đức trong lịch sử,
phản ánh quan hệ lợi ích các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Vai trò đạo đức cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng mà cán bộ, đảng viên cần
phải có là: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, tận trung với nước, tận
hiếu với dân; ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng; dù khó khăn đến
đâu cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương
cho quần chúng noi theo; thành khẩn, thật thà tự phê bình và phê bình để cùng
nhau tiến bộ; hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu
quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Người luôn nhắc nhở: "Mỗi người
đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào
Ðảng để làm đày tớ cho nhân dân. Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ
không phải là "quan" nhân dân [30, tr.222].
Thiếu đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo
được nhân dân. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, tình trạng suy thoái về phẩm
chất chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên rất đáng lo
ngại; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi nhưng
chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả. Một số cán bộ, đảng viên
chạy theo lối sống thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không quan tâm
đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình.
Từ trong chiều sâu bản chất nhân văn của đạo đức cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ân cần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn nhận thức sâu sắc:
21