Tải bản đầy đủ (.docx) (97 trang)

CÔNG tác xã hội NHÓM TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG lực tự THỰC HIỆN QUYỀN CHO NGƯỜI KHUYẾT tật vận ĐỘNG HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (454.99 KB, 97 trang )

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LỰC TỰ THỰC HIỆN QUYỀN CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
VẬN ĐỘNG HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH

Sinh viên

: Nguyễn Thị Vĩnh

Lớp

: K63B

Mã sinh viên

: 635609091

Giáo viên hướng dẫn

: Th.S Trịnh Phương Thảo

HÀ NỘI - 2017


2


LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luân tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin chân
thành cảm ơn Nhà trường cùng các thầy cô giáo trong khoa Công tác xã hội Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Th.S Trịnh Phương Thảo giảng viên khoa Công tác xã hội - Giáo viên trực tiếp hướng dẫn khóa luận tốt
nghiệp đã luôn quan tâm, lắng nghe ý kiến, ủng hộ, động viên cũng như chỉ
bảo tận tình cho tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Hiệp Thương –
Trưởng khoa Công tác xã hội, T.S Vũ Thị Kim Dung – Nguyên trưởng khoa
Công tác xã hội và Th.s Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Giảng viên khoa Công tác
xã hội đã đóng góp những ý kiến bổ ích cho tôi về định hướng nghiên cứu cho
khóa luận.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ cơ
quan Ủy ban nhân nhân huyện Nho Quan- tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện,
cung cấp hồ sơ , thông tin và nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn cho tôi trong quá
trình thực hiện khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến ông bà, anh chị, các bạn khuyết
tật nói chung và khuyết tật vận động nói riêng cùng những người đã giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện các buổi sinh hoạt.
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, khóa luận chắc chắn sẽ
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Kính mong Hội đồng khoa học,
các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Vĩnh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


3


CTXH
NVCTXH

:
:

NKT
NKTVĐ
NXB

Công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội

:
:

Người khuyết tật
Người khuyết tật vận động

:

Nhà xuất bản


4

MỤC LỤC


5

PHẦN 1 : PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài:
Xã hội ngày càng phát triển, đất nước đang từng bước hòa nhập vào
nền kinh tế thế giới, đời sống con người ngày càng được cải thiện và nâng
cao. Con người trong xã hội ngày càng bình đẳng và được thực hiện quyền và
nghĩa vụ ngang nhau, được tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cá
nhân . Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những người chưa tự thực hiện được
những quyền lợi của mình do mang trên mình những khiếm khuyết về cơ thể.
Trong bối cảnh quyền con người đang được nêu cao và tạo điều kiện đảm bảo
cho mỗi cá nhân thực hiện quyền của mình. Người khuyết tật là nhóm yếu thế
hơn ai hết họ cần được thực hiện những quyền lợi cơ bản của mình để có thể
sống độc lập và tư quyết trong những vấn đề của mình.
Người khuyết tật luôn phải chịu những khó khăn rất lớn về cả vật chất
và tinh thần, mặc dù tất cả con người sinh ra đều có những nhu cầu cơ bản
giống nhau về : sự tự do bình đẳng, được tôn trọng phẩm giá, được cống
hiến, được khẳng định gái trị cá nhân song chính vì tình trạng khuyết tật đã
khiến họ phải chịu những thiệt thòi trên tất cả các phương diện của đời sống
xã hội đặc biệt là người khuyết tật vận động. Trên thực tế cho thấy những nhu
cầu tối thiểu của người khuyết tật dù đã được đáp ứng song lại chưa đảm bảo
như những mong muốn của họ mà luôn có phần thiệt thòi hơn những người
không sống chung với khuyết tật, quyền lợi của họ được đảm bảo song vẫn
chưa được đảm bảo bền vững.
Bản thân người khuyết tật vận động đang bị hạn chế trong việc truyền tải
những nhu cầu, mong muốn của mình đến cộng đồng và xã hội cũng như các cơ
quan hoạch định chính sách, pháp luật nên những chính sách ban hành áp dụng
cho người khuyết tật chưa thực sự giải quyết được những nhu cầu của họ.
Mặc dù trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng đã quy định rõ
những quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, song vì những lí do khách

quan nhất định mà người khuyết tật vận động chưa được tạo những điều kiện


6
tốt nhất để thực hiện quyền của mình. Về phía bản thân người khuyết tật, mức
độ tự nhận thức về quyền của mình còn hạn chế vì thế chưa chủ động thực
hiện quyền một cách độc lập.
Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình là địa bàn đã từng có những đóng
góp nhất định trong các cuộc kháng chiến của dân tộc, vết thương của chiến
tranh vẫn còn hiện diện ở nơi đây khá nhiều trong những người chiến sĩ cách
mạng do nhiễm chất độc hóa học mà mang trên mình những khiếm khuyết cơ
thể và cả các thế hệ sau của gia đình các thương binh, liệt sỹ. Ngoài ra, trong
địa bàn huyện cũng có nhiều trường hợp người bị khuyết tật do tai nạn... trong
số đó, hầu hết những người khuyết tật vận động ở đây đều chưa tự nhận thức
được về những quyền mà mình được hưởng, chưa biết đến những chính sách
pháp luật áp dụng với mình và khả năng người khuyết tật tự chủ động thực
hiện quyền của mình còn thấp. Vì vậy, nhu cầu cấp thiết lúc này là cần có một
phương pháp cụ thể đảm nhằm nâng cao năng lực sống độc lập của người
khuyết tật vận động.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng Công tác xã hội nhóm áp
dụng với nhóm người khuyết tật, song chưa có công trình nào xuất phát từ
cách tiếp cận trao quyền cho người khuyết tật. Việc xây dựng nhóm để nâng
cao năng lực tự thực hiện quyền cho người khuyết tật, tập trung vào nhận diện
và phát huy điểm mạnh của bán thân người khuyết tật để họ phát triển năng
lực cá nhân và tự chủ trong giải quyết vấn đề của mình là một quan điểm khá
mới mẻ mang giá trị lí luận và thực tiễn cao.
2.

Mục đích nghiên cứu


-

Nâng cao năng lực tự chủ để người khuyết tật tự đảm bảo việc thực hiện
quyền của mình.

3.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu



Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về việc nâng cao khả năng tự lực cho người
khuyết tật vận động huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.


7


Đánh giá năng lực tự đảm bảo quyền của nhóm người khuyết tật vận động tại
huyện Nho Quan

-

Đề xuất mô hình nhóm với người khuyết tật và đề xuất biện pháp xây dựng
nhóm nhằm nâng cao năng lực thực hiện quyền cho người khuyết tật vận
động tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu




Đối tượng nghiên cứu: Mô hình nhóm tự định lực nhằm nâng cao khả năng tự
chủ cho người khuyết tật huyện Nho Quan –Ninh Bình.



Khách thể nghiên cứu:

+

Khảo sát nhóm người khuyết tật và người thân của họ tại huyện Nho Quan để
tìm hiểu thực trạng cuộc sống người khuyết tật trong địa phương và việc thực
hiện quyền lợi cơ bản của người khuyết tật.

+

Khảo sát cán bộ huyện làm việc với người khuyết tật để tìm hiểu việc thực
hiện các chính sách áp dụng với người khuyết tật và khả năng tiếp cận các
chính sách của người khuyết tật.
_ Không gian nghiên cứu: huyện Nho Quan- Ninh Bình



Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2017 - tháng 04 năm 2017.

5.

Câu hỏi nghiên cứu

- Hiện nay, người khuyết tật trên địa bàn huyện Nho Quan đã tự đảm
bảo được quyền người khuyết tật của mình như thế nào?
- Làm thế nào để nâng cao khả năng tự lực tự chủ trong việc đảm bảo
quyền người khuyết tật huyện Nho Quan?

6.

Giả thuyết nghiên cứu

-

Người khuyết tật tại huyện Nho Quan – Ninh Bình đã được đảm bảo những
quyền người khuyết tật cơ bản của mình song còn thụ động và chưa tự chủ
trong việc tự đảm bảo thực hiện quyền của mình.

-

Xây dựng mô hình nhóm tự lực cho người khuyết tật tại huyện Nho Quan để
nâng cao khả năng tự chủ trong việc đảm bảo quyền người khuyết tật của họ.

7.

Phương pháp nghiên cứu


8


Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu:
Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, sách, báo được thống kê

và nghiên cứu chính thức về các vấn đề có liên quan đến năng lực sống độc
lập của người khuyết tật.
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hoá các quan điểm, lý luận
liên quan đến đề tài. Tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về quyền
người khuyết tật và việc tự chủ trong thực hiện quyền của người khuyết tật.

-

Phương pháp phỏng vấn sâu:
Được thực hiện với chính bản thân người khuyết tật, người thân của họ
để hiểu về cuộc sống của người khuyết tật, những khó khăn và mong muốn
của họ, tìm hiểu khả năng hiểu biết và tiếp cận các chính sách của người
khuyết tật. Ngoài ra, phỏng vấn này được thực hiện với những cán bộ địa
phương làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến người khuyết tật để tìm
hiểu việc chính quyền đã tạo điều kiện cho người khuyết tật thực hiện các
quyền của mình, những vấn đề tồn đọng trong việc thực hiện chính sách đối
với người khuyết tật.



Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Để tìm hiểu nhận thức của mọi người xung quanh về thực trạng người
khuyết tật thực hiện quyền cơ bản của mình tại địa phương.



Phương pháp quan sát:
Quan sát thực trạng cuộc sống của người khuyết tật tại địa phương và
những khó khăn họ đang gặp phải, quan sát để tìm hiểu việc thực hiện các
chính sách áp dụng đối với người khuyết tật của chính quyền địa phương và

các tổ chức đoàn thể.
- Phương pháp Công tác xã hội nhóm
Sử dụng tiến trình Công tác xã hội nhóm vào việc hỗ trợ nhóm người
khuyết tật nhận thức được những quyền của mình và nâng cao ý thức chủ
động thực hiện các quyền đó.

8.

Đóng góp khoa học của đề tài


9
- Luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc tác động tới nhận thức và
hành động của chính bản thân người khuyết tật trong việc tự đảm bảo thực
hiện quyền của mình và kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng xã hội với người
khuyết tật, loại bỏ sự kì thị phân biệt đối xử với người khuyết tật.
- Áp dụng Công tác xã hội trong việc hỗ trợ đảm bảo việc thực hiện
quyền của người khuyết tật cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phải
áp dụng một khoa học chuyên ngành khi làm việc với người khuyết tật để
giúp họ thực hiện được những quyền cơ bản nhất của mình và nâng cao khả
năng tự lực cho người khuyết tật trong vấn đề của chính họ.
- Luận văn nêu bật được những khó khăn mà người khuyết tật đang gặp
phải trong quá trình thực hiện quyền của mình, những nhu cầu và mong muốn
của họ. Từ đó là cơ sở để đề xuất biện pháp cụ thể hỗ trợ cho việc nâng cao
năng lực cho người khuyết tật mà tiêu biểu là mô hình nhóm tự lực cho người
khuyết tật tại huyện Nho Quan – Ninh Bình.
- Nghiên cứu vấn đề này cho thấy được thực trạng việc thực hiện quyền
của người khuyết tật tại huyện Nho Quan- Ninh Bình. Thấy được sự quan tâm
của cộng đồng và xã hội đối với người khuyết tật.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức

khoa học cơ bản mang tính lí luận được nhìn nhận dưới góc độ quyền con
người về việc đảm bảo quyền của người khuyết tật. Giúp cộng đồng xã hội
nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về việc cần giúp đỡ và tạo điều kiện cho
người khuyết tật thực hiện các quyền lợi của mình. Đồng thời, khơi gợi những
điểm mạnh cần được phát huy của bản thân người khuyết tật để họ nâng cao
năng lực tự quyết trong việc thực hiện quyền của mình.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo bổ
ích cho những người hoạt động trong lĩnh vực công tác xã hội với người
khuyết tật.
9. Kết cấu của đề tài


10
Kết cấu của đề tài có 3 phần là: Mở đầu, Nội dung và Kết luận. Trong
đó, phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận, thực tiễn về Công tác xã hội nhóm với người
khuyết tật vận động.
Chương II: Thực trạng việc phát huy năng lực tự thực hiện quyền của
người khuyết tật vận động tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Chương III: Đề xuất Công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao năng
lực tự thực hiện quyền của người khuyết tật vận động tại huyện Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình.
.


11
PHẦN 2 . PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NHÓM VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
1.1


Tổng quan nghiên cứu đề tài
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đối tượng
NKT ở nhiều lĩnh vực đa dạng như : luật pháp, tâm lí, công tác xã hội... một
số đề tài đã phát huy được các giá trị khoa học mới mẻ. Tuy nhiên,những đề
tài nghiên cứu về quyền của NKTVĐ thì chiếm số lượng rất ít. Các đề tài về
NKTVĐ thường mới chỉ tiếp cận ở khía cạnh luật pháp và áp dụng chính sách
để bảo vệ quyền cho NKTVĐ, hầu như chưa có công trình nào quan tâm đến
việc tạo điều kiện hỗ trợ cho NKTVĐ tự thực hiện quyền của mình đặc biệt là
dưới góc độ Công tác xã hội.
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc bảo vệ
quyền cho người khuyết tật tiêu biểu như luận văn thạc sĩ “ Bảo vệ quyền của
người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam” (Khoa Luật Đại học
Quốc gia- 2014). Công trình này đã nêu được thực trạng bảo vệ quyền cho
người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam và một số giải pháp nâng
cao hiệu quả pháp luật trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật. Tuy
nhiên, công trình này mới nghiên cứu từ khía cạnh luật pháp và những chính
sách dành cho người khuyết tật. Đề tài “Công tác xã hội nhóm trong việc
nâng cao năng lực thực hiện quyền của người khuyết tật vận động tại huyện
Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”.nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ của Công tác
xã hội, không phải là áp dụng luật pháp mà là áp dụng các phương pháp Công
tác xã hội để đưa luật pháp, chính sách đến gần với người khuyết tật vận động
hơn để họ tự đảm bảo việc thực hiện quyền của mình. Có những công trình
nghiên cứu về việc thực hiện quyền của người khuyết tật nói chung và người
khuyết tật vận động nói riêng nhưng mới chỉ đề cập đến phạm vi chính sách
của nhà nước tạo điều kiện cho nguời khuyết tật ở một vài khía cạnh như việc
làm, trợ cấp... mà chưa tìm hiểu về việc bản thân người khuyết tật đã chủ
động tiếp cận chính sách đó hay chưa và đã tự thực hiện những quyền của
mình như thế nào.



12
Đề án được chia làm 2 giai đoạn với các mục tiêu cụ thể:
Giai đoạn 2012 – 2015, hằng năm 70% người khuyết tật tiếp cận các
dịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau, 60% trẻ khuyết tật có khả năng học
tập được tiếp cận giáo dục, 250.000 người khuyết tật trong độ tuổi lao động
còn khả năng lao động được học nghề và tạo việc tàm phù hợp, 30% người
khuyết tật được trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và truyền
thông, 90% người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu….
Giai đoạn 2016 – 2020, hằng năm 90% số người khuyết tật được tiếp
cận các dịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau, 70% trẻ khuyết tật có khả
năng học tập được tiếp cận giáo dục, 300.000 người khuyết trong độ tuổi lao
động còn khả năng lao động được học nghề và tạo việc làm phù hợp; ít nhất
80% người khuyết tật có nhu cầu tham gia giao thông được sử dụng phương
tiện giao thông đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về giao thông tiếp cận hoặc dịch
vụ trợ giúp tương đương; 50% người khuyết tật được trợ giúp tiếp cận và sử
dụng công nghệ thông tin và truyền thông; 100% người khuyết tật được trợ
giúp khi có nhu cầu pháp lý…Đề án này giúp người khuyết tật nhận thấy
quyền và nghĩa vụ của mình, giúp họ tự đảm bảo cuộc sống bằng chính khả
năng và sức lao động của mình. Tuy nhiên để thực hiện được đề án này một
cách hiệu quả phải có sự trợ giúp từ các cấp chính quyền, các cơ quan liên
quan, các nhân viên công tác xã hội… trợ giúp người khuyết tật thực hiện
quyền của mình.
Đã có nhiều buổi tập huấn truyền thông tiếp cận dựa trên quyền và hòa
nhập xã hội của người khuyết tật do Cục Bảo trợ xã hội (Bộ LĐTB&XH) phối
hợp với UNICEF tổ chức nhằm phổ biến, nâng cao nhận thức, kiến thức, thúc
đẩy thực hiện các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người
khuyết tật, chiến lược Inchoen giai đoạn 2013 – 2022 trong khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương, Luật người khuyết tật và Đề án trợ giúp người khuyết tật. Qua
đó góp phần hoàn thiện thể chế luật pháp về người khuyết tật, nâng cao hiệu quả



13
thực hiện các chính sách, đề án trợ giúp người khuyết tật và đẩy mạnh hợp tác
quốc tế về hiện thực hóa quyền của người khuyết tật.
Dự án Hỗ trợ người khuyết tật vận động tại Bình Định giai đoạn 20162020 do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ thông qua tổ
chức Trung tâm Quốc tế (IC). Mục tiêu là nâng cao khả năng tiếp cận các
dụng cụ trợ giúp có chất lượng cho người khuyết tật vận động, giúp họ hòa
nhập tốt hơn trong cuộc sống. Thời gian thực hiện Dự án từ tháng 1.2017 đến
tháng 12.2020, tại TX An Nhơn và các huyện Tây Sơn, Tuy Phước. Tổng vốn
thực hiện Dự án là gần 13 tỉ đồng; trong đó, vốn viện trợ gần 10,2 tỉ đồng,
vốn đối ứng của tỉnh hơn 2,7 tỉ đồng.
Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng mô hình nhóm
đối với người khuyết tật nhưng hầu hết đều trên phạm vi rộng và đặc biệt trên
địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thì chưa có nghiên cứu nào hay mô
hình thí điểm nào được áp dụng tại huyện đối với nhóm người khuyết tật và
cụ thể là người khuyết tật vận động. Hi vọng sau đề tài “Công tác xã hội
nhóm trong việc nâng cao năng lực thực hiện quyền của người khuyết tật vận
động tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”, nguời khuyết tật vận động nói
chung và người khuyết tật vận động huyện Nho Quan nói riêng sẽ nâng cao
được khả năng tự lực của mình trong việc thực hiện quyền người khuyết tật
vận động.
1.2
1.2.1

Người khuyết tật vận động.
Khái niêm, phân loại người khuyết tật
Trên thế giới
Trên thế giới cũng như tại các nước lại có những quan điểm khác nhau
về người khuyết tật do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội tác động.

Hiện nay vẫn chưa có quan niệm chung nhất về khái niệm người khuyết tật, vì
vậy rất khó để đưa ra khái niệm hay định nghĩa chung về người khuyết
tật. Trên thế giới quan niệm về người khuyết tật nhìn chung là giống nhau về


14
bản chất vấn đề, đều coi họ là những người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc
tinh thần vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các
sinh hoạt thường ngày. Đây cũng chính là quan điểm được nhìn nhận dưới
góc độ y tế. Dưới góc độ này với mục tiêu là đưa những người khuyết tật trở
lại với trạng thái bình thường nhưng chính điều đó lại làm cho họ cảm thấy họ
là những người bị động, không bình thường.
Đến những năm 1990 thì việc nhìn nhận người khuyết tật dưới góc độ
xã hội đã phát triển rất mạnh mẽ. Đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo
nên sự phục hồi chức năng, sự phát triển và tự tin cho người khuyết tật và hòa
nhập người khuyết tật vào xã hội và các mục đích khác” được thông qua bởi
Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc hội Phillipines vào ngày 12
tháng 7 năm 1991 quy định: Người khuyết tật - là người có sự khác biệt về
khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động, và tâm thần để
thực hiện một hoạt động được coi là bình thường.
Khuyết tật còn được hiểu theo nghĩa là chỉ sự không thuận lợi của một
cá nhân do khuyết tật gây nên và hạn chế hay ngăn cản các chức năng hay
hoạt động được coi là bình thường theo giới tính và độ tuổi của từng cá nhân.
Đến Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm
2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thì người khuyết tật bao gồm những
người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời
gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự
tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình
đẳng với những người khác.
Ở Việt Nam

Ở nước ta, trong các văn bản pháp luật trước khi Luật người khuyết
tật năm 2010 ra đời đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” và tiếp cận
dưới góc độ y tế. Theo Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 thì tại Điều 1
quy định: “ Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân
biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ


15
phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau,
làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập
gặp nhiều khó khăn”.
Ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm
2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm
“tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế
giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định của Luật Người khuyết tật thì người
khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Đây là sự thể hiện quan điểm và
nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về NKT, họ cũng được hưởng mọi quyền
như người bình thường, họ có thể khiếm khuyết nhưng không phải đã tàn và
phế, tạo điều kiện cho NKT thể hiện nỗ lực đóng góp của bản thân cho việc
thay đổi nhận thức này.
Lí do để giải thích cho việc thay đổi thuật ngữ này là việc hiểu bản chất
của khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá nhân, xã
hội chứ không phải chỉ từ một phía. Do vậy, nếu sử dụng từ “ tàn tật” thì chỉ
tập trung vào sự bất lợi của họ đối với mọi người xung quanh tức phân biệt họ
đối với xã hội. Xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng từ “ khuyết tật”
thay cho từ “tàn tật”. Trong cuộc hội thảo do Văn phòng Điều phối các hoạt
động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) và Tổ chức Cứu trợ và Phát triển

(CRS) thực hiện thì có đến 17 trên tổng số 19 ý kiến cho rằng nên thay cụm từ
“tàn tật” bằng “khuyết tật”. Ngoài ra bản thân những người có khiếm khuyết
cũng muốn mình được gọi bằng cụm từ “người khuyết tật” hơn.
Như vậy, khái niệm NKT trong Luật người khuyết tật so với khái niệm
người tàn tật trong Pháp lệnh về người tàn tật có bước phát triển mới, bao
hàm cả yếu tố y tế và xã hội, phù hợp với khái niệm NKT trong Công ước


16
quốc tế về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký kết. Điều này cũng
thể hiện tính nhân văn, không gây mặc cảm cho chính người bị khuyết tật,
tránh sự phân biệt kỳ thị.
Các mức độ và dạng khuyết tật
Luật Người khuyết tật Việt Nam do Quốc hội ban hành năm 2010 quy
định các mức độ và dạng tật như sau:
Người khuyết tật được chia theo 3 mức độ khuyết tật:
Người khuyết tật đặc biệt nặng: là người do khuyết tật dẫn đến mất
hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các
hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ
nhu cầu sinh hoạt của cá nhân hang ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp,
chăm sóc hoàn toàn.
Người khuyết tật nặng: là người do khuyết tật dẫn đến mất một phần
hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát được hoặc không tự thực hiện
được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc
khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có ngươi theo dõi,
trợ giúp, chăm sóc.
Người khuyết tật nhẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy
định tại hai mức độ trên.
Các dạng tật bao gồm:
-


Khuyết tật vận động;

-

Khuyết tật nghe, nói;

-

Khuyết tật nhìn;

-

Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

-

Khuyết tật trí tuệ;

-

Khuyết tật khác.

1.2.2

Người khuyết tật vận động
Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
Khuyết tật vận động bao gồm một loạt các dạng khuyết tật như mất chi,



17
liệt nửa người, rối loạn thần thần kinh cơ, teo cơ …
Những người mang dạng tật này thường phải sử dụng các thiết bị trợ
giúp như xe lăn, nạng, gậy, chân tay giả để có thể di chuyển và thực hiện các
họat động thường ngày. Khuyết tật vận động có thể là bẩm sinh, hoặc cũng có
thể là do hậu quả của biến chứng một số bệnh như tai biến mạch máu não, đa
sơ cứng, bại não... hoặc do phải cắt cụt chi bởi tai nạn …Còn một số dạng tật
vận động nữa nhưng không được nhận biết rõ rệt như chứng rối loạn hô hấp,
bệnh động kinh…” ( Khái niệm khuyết tật vận động của Trường ĐH Bang
California ở Northridge, nước Mỹ. Được đưa ra trong cuốn “ People with
disablilities in the workplace”)
So sánh với các dạng tật khác trong tiếp cận và hoà nhập cộng đồng,
nếu người mù cần có người dẫn đường, người điếc cần có phiên dịch viên
ngôn ngữ ký hiệu thì người khuyết tật vận động cần nhiều sự hỗ trợ từ các
phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe lắc, nạng và cả người trợ giúp đối với
người khuyết tật nặng. Với người khuyết tật vận động dạng nhẹ, khuyết tật
tay, một bên chân… họ có thể tự mình di chuyển chậm với sự hỗ trợ của nạng,
các dụng cụ tự chế như ghế con hay bất kỳ thứ gì có thể giúp họ di chuyển
được. Người liệt hai chân thì cần đến xe lăn, xe điện. Với những người liệt
nửa người, thậm chí là toàn thân, ngoài xe lăn họ cần có một người trợ giúp
luôn túc trực để giúp họ giải quyết các vấn đề, kể cả vệ sinh cá nhân trong quá
trình học tập, giao lưu, hòa nhập. Đây là một vấn đề hết sức bất tiện cho
người khuyết tật vận động.
Nguyên nhân khuyết tật vận động
a.

Những nguyên nhân do môi trường sống:

-


Đói nghèo, suy dinh dưỡng, bệnh tật không được phát hiện và chữa trị, phục
hồi chức năng kịp thời.

-

Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai.

-

Chấn thương do tai nạn, rủi ro ( khi tham gia giao thông, trong lao động, trong
sinh hoạt hay hoạt động thẻ thao)


18
-

Hậu quả của chiến tranh, bạo lực.

b.

Những nguyên nhân do xã hội:

-

Mù chữ và thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có, do không
theo dõi hoặc không có tiếp cận với thông tin sự bất lực của y học và khoa
học kĩ thuật.

-


Đô thị hóa, dân số tăng, di cư

-

Kết hôn trực hệ.

c.

Những nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh:

-

Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh hoặc rối loạn do
nhiều yếu tố.

-

Một số nguyên nhân trong khi sinh cũng ảnh hưởng đến khả năng gây nên
khuyết tật vận động. Thiếu oxy, vấn đề này xuất hiện do nhau thai, thời gian
sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh hoặc trẻ có thể
bị tổn thương khi sinh nếu đầu trẻ được kéo ra bằng forceps. Lây nhiễm trong
khi sinh và đẻ non cũng là những nguyên nhân gây ra khuyết tật sau này.

1.2.3

Quyền của người khuyết tật vận động
Theo Công ước về Quyền người khuyết tật thì người khuyết tật nói
chung và người khuyết tật vận động nói riêng đều được công nhận và bảo vệ
những quyền cơ bản sau :

Quyền được sống: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền được sống,
trong phạm vi quyền này bao gồm quyền được bảo vệ, được chăm sóc.Dù là
người khuyết tật hay không phải người khuyết tật cũng được hưởng những
quyền này.
Quyền được bảo vệ trong các tình huống rủi ro và khẩn cấp: Giống như
tất cả những người khác, người khuyết tật có đầy đủ các quyền được bảo vệ
an toàn trong chiến tranh, các tình trạng khẩn cấp hoặc các thảm họa thiên
nhiên như bão lũ… Luật pháp không cho phép bất kỳ ai ngăn cản bạn vào nơi


19
trú ngụ hoặc bỏ rơi bạn trong tình trạng nguy hiểm vì lý do khuyết tật trong
khi những người khác được cứu hộ.
Quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử: Tất cả mọi người đều có
quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật và các quy định pháp luật được
áp dụng như nhau với tất cả mọi người.
Bình đẳng trước pháp luật: Người khuyết tật có quyền được công nhận
là những người có năng lực pháp lý bình đẳng như tất cả những người khác.
Có nghĩa là khi bạn trưởng thành, dù có khuyết tật hay không thì bạn vẫn có
quyền làm những việc như vay tiền để đi học hoặc ký hợp đồng thuê nhà…
Bạn cũng có quyền sử hữu và thừa kế tài sản.
Quyền tiếp cận tư pháp: Nếu bạn bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp
luật của người khác, bạn chứng kiến người khác bị thiệt hại, hoặc bạn bị cáo
buộc đã vi phạm pháp luật, bạn có quyền được đối xử công bằng trong suốt
quá trình vụ án liên quan đến bạn được điều tra, xử lý. Bạn có quyền được hỗ
trợ bày tỏ ý kiến của mình trong tất cả các quá trình tư pháp.
Quyền tự do và an ninh cá nhân: Quyền tự do của người khuyết tật
được luật pháp bảo vệ bình đẳng như tất cả những người khác.
Quyền không bị hành hạ, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo,
làm giảm phẩm giá Pháp luật phải đảm bảo không ai bị hành hạ, xúc phạm

phẩm giá hoặc đối xử tàn ác. Và tất cả mọi người đều có quyền từ chối bị coi
là đối tượng thí nghiệm y tế hoặc khoa học.
Quyền không bị bạo lực và xâm hại: Trẻ em khuyết tật phải được bảo
vệ khỏi bạo lực và xâm hại. Phải đảm bảo các em không bị ngược đãi hoặc
làm tổn hại ở cả trong và ngoài gia đình. Nếu bạn bị ngược đãi hoặc bạo
lực, bạn có quyền được giúp đỡ để ngăn chặn hành vi bạo lực, xâm hại đó
và phục hồi.


20
Quyền được bảo vệ giá trị con người: Không ai có quyền đối xử với
bạn như một người có ít giá trị hơn những người khác chỉ vì những khả năng
về thể chất và tinh thần của bạn. Bạn có quyền được tôn trọng như tất cả mọi
người với những gì vốn có của mình. Trẻ em khuyết tật có quyền được sống.
Đó là món quà của trẻ và không một ai cả có thể dùng pháp luật để lấy món
quà đó đi từ trẻ.
Quyền được nâng cao nhận thức: Tất cả người dân đều có trách nhiệm
tôn trọng những quyền và phẩm giá của người khuyết tật cũng như năng lực
và các thành tựu đóng góp của họ, đấu tranh chống những khuôn mẫu, định
kiến và các tập quán có hại cho người khuyết tật.
Quyền được tiếp cận: Mọi người đều có nghĩa vụ tạo điều kiện để
người khuyết tật sống tự lập và tham gia đầy đủ vào mọi mặt của đời sống
cộng đồng. Mọi địa điểm mở cửa cho công chúng bao gồm các toà nhà,
đường xá, trường học, bệnh viện phải có những điều kiện phù hợp để người
khuyết tật, trong đó có trẻ em khuyết tật, có thể tiếp cận.
Quyền tự do đi lại và tự do quốc tịch: Mọi người đều có quyền được
đăng ký họ tên và quốc tịch hợp pháp, và nếu có thể, có quyền được biết cha
mẹ và được cha mẹ chăm sóc. Phải bảo đảm không ai bị ngăn chặn khi đến
hoặc rời một quốc gia vì lý do họ có khuyết tật.
Quyền được sống độc lập và hoà nhập cộng đồng: Mọi người đều có

quyền lựa chọn nơi sinh sống của mình dù là người khuyết tật hay không
khuyết tật. Khi trưởng thành, bạn có quyền sống độc lập nếu bạn muốn và
quyền được hoà nhập cộng đồng. Bạn cũng có quyền tiếp cận các dịch vụ hỗ
trợ cần thiết cho việc sinh sống và hoà nhập cộng đồng như dịch vụ chăm sóc
tại nhà, hỗ trợ cá nhân...


21
Quyền di chuyển cá nhân: Trẻ em khuyết tật có quyền di chuyển và
quyền độc lập. Chính phủ phải giúp họ thực hiện những quyền đó.
Quyền tự do ngôn luận, tư tưởng và tiếp cận thông tin Mọi người đều
có quyền bày tỏ quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin và tiếp
nhận thông tin dưới hình thức mà họ hiểu được và muốn sử dụng.
Quyền được tôn trọng quyền riêng tư: Không ai có quyền can thiệp tuỳ
tiện vào các vấn đề riêng tư của người khác cho dù họ là người khuyết tật hay
không khuyết tật. Những người biết được thông tin các nhân của người khác,
ví dụ như tình trạng sức khoẻ của họ, cần giữ bí mật thông tin này.
Quyền được tôn trọng về nhà ở và gia đình: Mọi người đều có quyền
sống với gia đình của mình. Nếu bạn là người khuyết tật, chính phủ có trách
nhiệm hỗ trợ gia đình bạn thông qua trợ cấp cho người khuyết tật, cung cấp
thông tin và các dịch vụ trợ giúp khác. Không ai có quyền cách ly bạn khỏi
cha mẹ mình vì lý do bạn là người khuyết tật. Nếu vì lý do nào đó bạn không
thể sống với gia đình mình thì chính phủ có trách nhiệm hỗ trợ họ hàng hoặc
cộng đồng chăm sóc bạn. Thanh niên khuyết tật có tất cả các quyền bình đẳng
như mọi thanh niên khác trong lĩnh vực thông tin về sức khoẻ sinh sản, cũng
như quyền kết hôn và lập gia đình.
Quyền giáo dục: Mọi người đều có quyền được đi học, được tiếp thu tri
thức. Không ai có thể từ chối quyền được đi học của bạn vì lý do bạn là người
khuyết tật. Bạn không phải học trong những trường dành riêng cho người
khuyết tật. Bạn có quyền được hưởng nền giáo dục và chương trình giảng dạy

giống như tất cả trẻ em khác, và chính phủ phải có những giúp đỡ cần thiết để
bạn thực hiện quyền này của mình.


22
Quyền được chăm sóc y tế và phục hồi chức năng: Người khuyết tật có
quyền được hưởng tất cả những dịch vụ y tế miễn phí hoặc với mức phí có thể
chấp nhận được, có chất lượng, bình đẳng như tất cả mọi người khác.
Quyền có việc làm và nghề nghiệp Người khuyết tật có quyền làm việc
và tự do lựa chọn nghề nghiệp bình đẳng như những người khác và không bị
phân biệt đối xử do khuyết tật.
Quyền được tham gia vào đời sống chính trị và đời sống cộng đồng:
Người khuyết tật có quyền tham gia vào đời sống chính trị và đời sống cộng
đồng. Khi đến tuổi luật pháp quy định, bạn có quyền tự do lập hội, phục vụ
cộng đồng, tiếp cận các địa điểm bầu cử, bỏ phiếu bầu cử, và có quyền được
bầu vào các cơ quan trong chính quyền bất kể bạn có khuyết tật hay không.
Quyền tham gia vào đời sống văn hoá, thể thao, vụ chơi, giải trí:
Người khuyết tật có quyền bình đẳng như tất cả mọi người trong việc tham
gia và hưởng thụ nghệ thuật, thể thao, trò chơi, phim ảnh và các hoạt động
giải trí khác. Do đó các nhà hát, rạp chiếu phim, bảo tàng, sân chơi, thư viện
cần được xây dựng hoặc tu sửa để tất cả mọi người đều tiếp cận được bao
gồm cả trẻ em khuyết tật.
1.3 Công tác xã hội nhóm với người khuyết tật vận động
1.3.1 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Có rất nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm, nhưng
có điểm chung thống nhất là sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm, tiến
trình sinh hoạt nhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương tác giữa các
thành viên nhóm nhằm thay đỏi thái độ, hành vi các nhận một cách tích cực,
nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên và
của cả nhóm.

Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm
tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các


23
thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết
vấn đề, thảo mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân
hòa nhập, pháp huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương
đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì
mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực.
1.3.2

Mô hình Công tác xã hội nhóm
Mô hình tiếp cận là tính định hướng về cách tiếp cận, ứng dụng thực
hành (thiết lập và triển khai thực tế) phương pháp Công tác xã hội nhóm vào
những nhóm (đối tượng) cụ thể. Mô hình tiếp cận Công tác xã hội nhóm được
xác lập dựa trên mối quan hệ tương tác hai chiều: nhu cầu, sự xác định của
nhóm và sự đánh giá, định hướng của nhân viên xã hội. Mô hình tiếp cận
Công tác xã hội nhóm chủ yếu dựa vào tính mục đích của việc ứng dụng
phương pháp tác nghiệp, phương pháp làm việc nhóm, bối cảnh ứng dụng
hoạt động nhóm đối với đối tượng cụ thể, vì có ba mô hình cơ bản: mô hình
phòng ngừa, mô hình chữa trị - trị liệu - giải quyết vấn đề và mô hình phát
triển. Ba mô hình tiếp cận này hoặc là được xác định và thực hiện với các
nhóm riêng biệt hoặc có thể thực hiện đối với một nhóm.Cũng có thể coi đây
là ba cấp độ của can thiệp hay ứng dụng Công tác xã hội nhóm.

a.

Mô hình phòng ngừa:
Mô hình phòng ngừa là mô hình được thực hiện đối với những nhóm có

những nguy cơ hoặc khả năng phải đương đầu với những nguy hiểm. Những
nguy cơ được xác định và khuyến cáo có thể là: hành vi lệch chuẩn về đạo
đức, pháp luật, giao tiếp, ứng xử,..; những nhận thức không đầy đủ, sai lầm có
thể dẫn đến hậu quả (tác động), hành vi xấu (tiêu cực); thiếu hoặc không đảm
bảo những điều kiện, cơ hội đẫn đến sự không đảm bảo cho sự phát triển toàn
diện cho cá nhân hay đời sống vật chất, tinh thần ... Mô hình phòng ngừa sự
tập hợp những nhóm viên có thể phải đối diện với những nguy cơ tiêu cực để
tham gia hoạt động nhóm nhằm ngăn ngừa, hạn chế, tránh được những hậu
quả có thể xảy ra trong tương lai.


24
Nội dung và mô hình hoạt động của mô hình này chủ yếu mang tính
chất, ý nghĩa giáo dục, được thực hiện thông qua các phương thức chia sẻ,
truyền thông, học tập, tập huấn, trang bị kiến thức hướng đến mục đích nâng
cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống, giải quyết vấn đề và
khả năng của nhóm viên tỏng việc phòng tránh, ngăn ngừa những vấn đề xã
hội có thể nảy sinh trong cuộc sống.
b.

Mô hình chữa trị - trị liệu, giải quyết vấn đề
Mô hình trị liệu, giải quyết vấn đề là mô hình nhân viên xã hội sử dụng
kiến thức chuyên sâu, kỹ năng tác nghiệp chuyên nghiệp dựa trên phương
pháp khoa học và kinh nghiệp nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho nhóm thân chủ có
vấn đề xã hội hoặc gặp phải vấn đề xã hội giải quyết được vấn đề gặp phải,
vượt qua nan đề cuộc sống, tự giác, tích cực và chủ động tham gia vào quá
trình tạo ra sự chuyển biến hướng tới sự thích ứng, vươn lên hòa nhập cộng
đồng. Mô hình trị liệu, giải quyết vấn đề có đối tượng tham gia, tác nghiệp đa
dạng trong cộng đồng. Sự tham giá của các nhóm viên cần một mô trường
giao tiếp, chia sẻ cởi mở,có chủ đích, qua đó nhóm tìm ra những giải pháp

giải quyết thích hợp cho vấn đề chung và mỗi nhóm viên cảm nhận, tiếp thu,
ứng dụng vào giải quyết vấn đề hsay hoàn cảnh của mình
Mô hình này lấy trọng tâm là trị liệu, giải quyết vấn đề nhưng trong
nó đã bao hàm luôn cả mục đích phòng ngừa và phát triển. Vì vậy, đây là
mô hình điển hình, phổ biến và ứng dụng rộng rãi nhất cảu Công tác xã hội
nhóm. Ví dụ, trong cộng đồng có những người già neo đơn cần đến sự giúp
đỡ của người khác hay cần có một môi trường đồng cảm, có sự giao tiếp,
hoạt động; có những người phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình; có
những trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, trẻ em hư, trẻ em bị xâm hại, trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; có những gia đình nghèo, thiếu điều kiện
sản xuất hoặc thiếu vốn,..

c.

Mô hình phát triển


25
Mô hình phát triển là mô hình Công tác xã hội nhóm được lựa chọn và
ứng dụng đối với nhóm trong đó các thành viên có nhu cầu được nâng cao
hiểu biết, nhận thức, thông tin, năng lực để có thể tự mình giải quyết những
vấn đề dặt ra cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Mô hình phát triển tạo môi
trường với những cơ hội, điều kiện để các thành viên nhóm chia sẻ thông tin,
kinh nghiệm, phát triển nhận thức, thay đổi tích cực suy nghĩ, cảm xúc, hành
vi, tiếp cận giải pháp, thực hành kĩ năng, vận dụng thực tế đời sống và gải
quyết những vấn đề gặp phải. Mô hình này có thể được thực hiện độc lập với
đối tượng xác định, nhưng đối với các mô hình phòng ngừa, mô hình trị liệu
thì một trong những đích hướng tới quan trọng cũng chính là sự phát triển của
nhóm và của mỗi thành viên.
Mô hình phát triển nhấn mạnh đến sự tự hoàn thiện của bản thân mỗi cá

nhân thành viên trong nhóm. Vì vậy, đây là mô hình khẳng định giá trị cao và
là tiêu chuẩn để đánh giá mức thành công của Công tác xã hội nhóm đối với
nhóm đối tượng cụ thể. Mô hình phát tiêrn ứng dụng phổ biến với các nhóm
đối tượng có nhu cầu nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, kiến thức về
chăm sóc, nuôi dạy con cái, học tập, làm việc hiệu quả, kiến thức về làm ăn
kinh tế - sản xuất, kinh doanh, kiến thức, kĩ năng ứng phó với những nan đề,
những hoàn cảnh khó khăn bất thường trong cuộc sống,.. Đối với các nhóm
phòng ngừa, hay trị liệu, nhiệm vụ và mục đích đặt ra không chỉ dừng lại ở
việc tránh nguy cơ, tránh hậu quả tiêu cực, giải quyết được vấn đề mà điều
quan trọng hơn là khả năng tự nhận thức, tự xử lý tình huống dựa trên sự hiểu
biết, phân tích, đánh giá, ra quyết định, thực hiện hành động, giải pháp của
mỗi cá nhân - những thành viên đã và đang tham gia nhóm.
Tiến trình Công tác xã hội nhóm
Tiến trình Công tác xã hội nhóm là quá trình bao gồm các bước hoạt
động thể hiện sự tương tác giũa các thành viên trong nhóm với nhau và với
nhân viên xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đẫ đề ra.
Tiến trình Công tác xã hội nhóm được chia thành bốn bước - bốn giai
đoạn: Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; Giai đoạn khởi động và tiến


×