Tải bản đầy đủ (.docx) (44 trang)

Thực trạng mất răng và nhu cầu phục hình răng của bệnh nhân khoa răng hàm mặt bệnh viện đa khoa tỉnh hà nam năm 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (638.41 KB, 44 trang )

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất răng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của mỗi
con người. Vì mỗi răng là một phần cấu thành của bộ răng, là một phần của
hệ thống nhai ( bao gồm các răng hàm trên và các răng hàm dưới, xương hàm,
các cơ vùng mặt, lưỡi)[9]. Răng không chỉ đảm nhận chức năng ăn nhai mà
còn tham gia thực hiện chức năng khác như nói, nuốt và thẩm mỹ...
Mất răng nếu không được phục hình sớm sẽ làm xô lệch các răng bên
cạnh răng mất và ảnh hưởng đến việc giữ thăng bằng của khớp cắn, gây biến
dạng khuôn mặt[9]. Vì vậy, việc phục hình lại những chiếc răng đã mất là cần
thiết và quan trọng.
Với những hậu quả của mất răng gây ra, trách nhiệm của bác sĩ Răng
Hàm Mặt là phải phục hình răng mất càng sớm càng tốt. Để làm tốt việc này,
chúng ta phải có các số liệu thống kê về mất răng, nguyên nhân mất răng và
nhu cầu phục hình răng mất để từ đó xây dựng các chương trình điều trị và
phòng chống mất răng cụ thể cho từng nguyên nhân.
Tại Hà Nam, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề mất răng và phục hình
răng, do vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng mất răng và nhu cầu
phục hình răng của bệnh nhân khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện đa khoa
tỉnh Hà Nam năm 2018” với mục tiêu:
1.

Xác định tỷ lệ mất răng của bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa

2.

Răng Hàm Mặt bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2018.
Xác định nhu cầu phục hình răng của nhóm bệnh nhân mất răng trên.



2

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1.Tình trạng mất răng và nhu cầu phục hình mất răng
Công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng ở nước ta trong những năm gần
đây ngày càng được quan tâm (như chương trình nha học đường...), tuy nhiên,
tỷ lệ mất răng vẫn còn cao. Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng năm
1990 của Võ Thế Quang và cộng sự [2], tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là
47,33%; nhu cầu làm răng cổ điển là 26,33%; nhu cầu làm răng giả tháo lắp
từng phần hàm trên là 10%, từng phần hàm dưới là 3,67%, toàn bộ hàm trên
là 3,33% và toàn bộ hàm dưới là 2,67%.
Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng ở miền Nam Việt Nam năm 1991
của Vũ Kiều Diễm và cộng sự [3], tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 68,66%
và trung bình số răng mất của một người là 3,49. Cũng theo kết quả điều tra
trên, có một vấn đề đáng quan tâm là lứa tuổi 12 có tỷ lệ mất răng vĩnh viễn
chiếm 6,66%.
Kết quả điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng các tỉnh phía Bắc năm 1991
của Nguyễn Đức Thắng [4], tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 36,67%; nhu
cầu làm răng giả là 63,33%, trong đó chỉ có 2% được làm răng giả. Ở nhóm
tuổi 12, tỷ lệ mất răng là 1,67%; nhu cầu làm răng giả là 1,67%. Ở nhóm tuổi
15, tỷ lệ mất răng là 0,34%; nhu cầu làm răng giả là 0,33%.
Với kết quả điều tra của hai tác giả trên, cùng được thực hiện vào năm
1991, ở tại hai miền của đất nước thì ở lứa tuổi 35-44 tỷ lệ mất răng của người
dân ở miền Nam cao hơn hẳn miền Bắc.
Kết quả điều tra của Nguyễn Văn Bài (1994) [1] ở miền Bắc Việt Nam,
tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 27,27% đặc biệt ở nhóm tuổi trên 65 có tỷ lệ
mất răng là 95,21%; nhu cầu phục hình là 90,43%. Tỷ lệ mất răng nói chung
là 42,1% và nhu cầu phục hình răng bằng cầu cổ điển là 59,79%.



3

Kết quả điều tra của Nguyễn Mạnh Minh năm 2007 [5] tại Hà Nội, ở
nhóm tuổi 20-34 tỷ lệ mất răng là 19,8%, nhu cầu phục hình là 19%; ở nhóm
tuổi 35-44 tỷ lệ mất răng là 36,3%, nhu cầu phục hình là 33,4%; ở nhóm tuổi
45-60 tỷ lệ mất răng là 50,1%, nhu cầu phục hình là 34,9%; Tỷ lệ mất răng
nói chung là 35,3%; nhu cầu phục hình 33,4%; trong đó nhu cầu phục hình
bằng cầu 86,88%; tỷ lệ người đã được phục hình 15%.
So sánh kết quả của Nguyễn Đức Thắng (1991) [6], Nguyễn Văn Bài (1994)
[1] và của Nguyễn Mạnh Minh[5] ở miền Bắc Việt Nam, cùng lứa tuổi 35-44
cho thấy:
Tỷ lệ mất răng từ 36,67% năm 1990 xuống còn 27,27% năm 1994,
nhưng đến năm 2007 tỷ lệ đã tăng lên là 35,3%.
Nhu cầu phục hình răng năm 1991 là 63,33%; năm 1994 là 21,6%; năm
2007 là 33.4%.
Tỷ lệ người đã được phục hình năm 1991 chỉ có 2%; năm 1994 là 8,57%
và năm 2007 là 15%.
Qua kết quả trên cho thấy tỷ lệ mất răng ở nhóm tuổi từ 35-44 đang có
dấu hiệu tăng trở lại, vì đây là nhóm tuổi mà các chương trình chăm sóc sức
khỏe răng miệng chưa quan tâm đến. Do đó nhu cầu phục hình cũng tăng theo
trong khi đó số người đã được phục hình cũng đã tăng nhưng vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu phục hình trong cộng đồng. Vì vậy, để phòng chống mất
răng có hiệu quả, ngoài các chương trình phòng chống sâu răng và bệnh
quanh răng thì phục hình răng mất không những đã đáp ứng được chức năng
của răng mất mà còn có tác dụng phòng mất răng cho những răng còn lại.
Theo kết quả điều tra của cả nước nói chung cũng như miền Bắc, miền Nam
nói riêng thì nhu cầu phục hình là rất lớn. Nguyên nhân là do đội ngũ bác sỹ
răng hàm mặt chưa đủ, điều kiện trang thiết bị cho phục hình chưa được tốt,
kỹ thuật phục hình chưa được chuẩn dẫn đến kết quả phục hình không tạo sự



4

thoải mái cho bệnh nhân nên phục hình không đáp ứng được nhu cầu của
bệnh nhân. Ngoài nguyên nhân trên cũng còn nhiều nguyên nhân khác trong
đó phải kể đến ý thức và điều kiện kinh tế của bệnh nhân.
1.2. Phân loại mất răng
Mất răng được phân làm hai loại chính đó là mất răng từng phần và mất
răng toàn bộ, do đó có rất nhiều kiểu mất răng từng phần. Người ta ước tính
có khoảng trên 65.000 kiểu mất răng ở trên một cung hàm [5]. Vì vậy, cần
phải có phân loại mất răng từng phần để qui về một số loại mất răng có thể áp
dụng được trong lâm sàng.
Những yêu cầu cần có của một phân loại mất răng có thể được chấp nhận:
- Cách phân loại mất răng cho phép dễ nhận ra ngay loại mất răng khi
khám bệnh nhân.
- Cách phân loại mất răng cho phép biết được loại mất răng nào có thể
làm hàm giả được nâng đỡ trên răng hoặc hàm giả vừa nâng đỡ trên răng vừa
nâng đỡ trên mô xương niêm mạc.
- Cách phân loại mất răng định hướng được kiểu thiết kế hàm giả.
- Cách phân loại mất răng được nhiều người chấp nhận.
Có nhiều cách phân loại mất răng của nhiều tác giả khác nhau như:
Kennedy, Applegate, Koudiandsky, Bailyn, Skinner... Nhưng cách phân loại
mất răng của Kennedy được nhiều người sử dụng nhất.
1.2.1. Phân loại mất răng của Kennedy [5], [1]
Edward Kennedy đưa ra cách phân loại mất răng từng phần đầu tiên vào
năm 1923. Ông phân ra làm 4 loại mất răng từng phần:
- Loại I: Mất răng phía sau hai bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại II: Mất răng phía sau một bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại III: Mất răng phía sau một bên còn răng giới hạn xa.

- Loại IV: Mất răng phía trước (răng cửa) đi qua đường giữa.


5

Ưu điểm của cách phân loại mất răng của Kennedy:
- Dễ nhận biết loại mất răng.
- Gợi ý được kiểu thiết kế hàm giả cho từng loại mất răng.
1.2.2. Phân loại mất răng từng phần của Applegate [5],[1]
Trong phục hình cố định răng bằng cầu cổ điển thì phân loại mất răng
từng phần của Applegate được sử dụng nhiều nhất vì cách phân loại này định
hướng được kiểu thiết kế hàm giả.
Cách phân loại mất răng của Kennedy (1960) được Applegate đã bổ sung
một số nguyên tắc sau:
- Phân loại mất răng chỉ được tiến hành sau khi đã nhổ các răng có chỉ
định nhổ răng.
- Nếu mất răng số 8 và không cần làm răng giả thì không tính đến trong
phân loại.
- Nếu còn răng số 8 mà được dùng như răng trụ thì răng 8 này được tính
trong phân loại.
- Nếu răng số 7 mất mà không cần làm răng giả (ví dụ răng số 7 đối diện
cũng mất mà không làm răng giả) thì không được tính trong phân loại.
- Vùng mất răng phía sau luôn được chọn để quy định loại mất răng.
- Những khoảng mất răng khác được gọi là biến thể và được đánh số.
- Độ rộng của khoảng mất răng biến thể không được tính đến trong phân
loại mà chỉ tính số khoảng mất răng có thêm.
- Mất răng loại IV không có biến thể.
Phân loại mất răng từng phần của Applegate như sau:
- Loại I: Mất răng sau hai bên.
- Loại II: Mất răng sau một bên.

- Loại III: Mất răng sau một bên, có răng giới hạn ở hai đầu. Nhưng các
răng trụ này không thể gánh chịu toàn thể lực nhai đề lên hàm giả. Có thể do:


6

+ Khoảng mất răng dài
+ Chân răng trụ có hình dáng và chiều dài không phù hợp
+ Xương nâng đỡ bị tiêu nhiều
- Loại IV: Mất răng phía trước, đoạn mất răng đi ngang đường giữa cung
răng, giới hạn hai đầu bằng hai răng bên phải và bên trái của cung hàm. Loại
này có thể mất Ýt nhất từ hai răng đến nhiều nhất chỉ còn lại hai răng hàm ở
hai bên.
- Loại V: Mất răng có giới hạn hai đầu trong đó giới hạn phía trước là
răng cửa bên yếu với chân răng ngắn và nhỏ.
- Loại VI: Mất răng có giới hạn hai đầu với khoảng mất răng ngắn, chiều
dài và hình dáng chân răng trụ thích hợp cho nâng đỡ, sống hàm cao.

Hình 1.1. Các loại mất răng theo Kennedy - Applegate [1]
1.2.3. Phân loại mất răng của Koudiandsky [7]
Tác giả dựa trên yêu cầu xác định khớp cắn trung tâm (mặt phẳng cắn
xác định với 3 điểm chạm của hai hàm).
- Loại I: Mất răng từng phần, hai hàm còn 3 điểm chạm.
- Loại II: Mất răng từng phần, hai hàm còn 1-2 điểm chạm.
- Loại III: Mất răng từng phần, hai hàm không có răng nào đối diện nhau.


7

- Loại IV: Mất răng toàn bộ.

Sự phân loại mất răng của Kourliandsky có ý nghĩa gợi ý trong đo cắn
khi làm hàm giả.
1.3. Hậu quả của mất răng
1.3.1. Mất thăng bằng về cung răng
- Khi mất răng, các răng còn lại kế cận với khoảng mất răng thường bị
lệch về phía mất răng. Mất từ 2 răng liên tiếp trở lên thì các răng đối diện sẽ
bị trồi lên hoặc thòng xuống. Nếu mất răng lâu, các răng này có thể chạm tới
sống hàm vùng mất răng đối diện.
- Sự di lệch các răng dẫn đến thay đổi khớp cắn và các đường cong bù
trừ (Spee, Willson) gây nên sang chấn khớp cắn).
- Các răng còn lại phải hoạt động nhiều trong khi ăn nhai nên thường bị mòn.
1.3.2. Biến đổi ở sống hàm vùng mất răng
Xương hàm ở vùng mất răng bị tiêu, nếu mất răng lâu ngày mà không
làm hàm giả, sống hàm sẽ bị tiêu nhiều.
1.3.3. Biến đổi ở mặt
- Mất nhóm răng hàm hai bên: má xệ xuống, hóp lại, rãnh mũi má rõ nét.
- Mất nhóm răng hàm một bên: có thể làm mặt mất cân xứng.
- Mất nhóm răng cửa: môi không có khung đỡ sẽ bị xập xuống, bĩu ra,
khóe môi cụp xuống.
1.3.4. Ảnh hưởng tới chức năng
- Chức năng ăn nhai giảm, tiêu hóa có thể bị rối loạn đặc biệt là khi mất
toàn bộ răng.
- Phát âm bị ảnh hưởng, nói không rõ tiếng.
- Ảnh hưởng tới khớp thái dương hàm.


8

1.4. Đánh giá các nguyên nhân gây mất răng
1.4.1. Sâu răng

Bệnh sâu răng là sự phá hủy tổ chức cứng của răng. Bệnh sâu răng
không trực tiếp gây mất răng nhưng từ bệnh sâu răng có thể dẫn tới bệnh lý ở
tủy răng, cuống răng và những tổn thương lớn ở tổ chức cứng của răng. Nếu
răng sâu và biến chứng không thể điều trị được sẽ phải nhổ răng.
Sâu răng là một bệnh khá phổ biến trong cộng đồng. Theo các kết quả
điều tra tình trạng sức khỏe răng miệng ở trong nước cũng như ngoài nước,
sâu răng chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh răng miệng.
* Tình trạng sâu răng ở nước ta
Theo kết quả điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng ở Việt Nam năm 1990
của Võ Thế Quang [2], tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12 là 55,69%; lứa tuổi 15 là
60,33% và lứa tuổi 35-44 là 79,00%.
Kết quả điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng các tỉnh phía Bắc năm 1991
của Nguyễn Đức Thắng [4], tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12 là 43,33%; lứa tuổi 15
là 47,33% và lứa tuổi 35-44 là 59,33%.
Kết quả điều tra răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường và Lâm
Ngọc Ấn (1999 - 2000) [8], tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở lứa tuổi 6-8 là 20,72%,
lứa tuổi 9-12 là 47,67%.
Kết quả điều tra của Vũ Kiều Diễm [3] tại miền Nam Việt Nam, tỷ lệ sâu
răng ở lứa tuổi 12 là 76,33%; lứa tuổi 15 là 82,99%.
So sánh kết quả của Vũ Kiều Diễm và Nguyễn Đức Thắng cho thấy tình
trạng sâu răng ở miền Nam trầm trọng hơn miền Bắc, còn kết quả của Trần
Văn Trường và Võ Thế Quang thì sau 10 năm (1990 - 2000), tỷ lệ sâu răng ở
nước ta đã tăng từ 55,69% lên 61,48% ở lứa tuổi 12-14; từ 60,33% lên
69,07% ở lứa tuổi 15-17.


9

1.4.2. Bệnh vùng quanh răng
Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mất răng. Bệnh vùng

quanh răng gồm có viêm lợi và viêm quanh răng. Trong viêm quanh răng có
tổn thương ở lợi, dây chằng, xương ổ răng và xương răng. Các tổn thương
bệnh lý phá hủy các mô quanh răng, làm tiêu xương ổ răng dẫn đến lung lay
răng. Bệnh khu trú ở một nhóm răng hoặc cả hàm, do vậy hay gây mất nhiều
rang [11].
Cơ chế bệnh sinh của viêm quanh răng có liên quan đến nhiều yếu tố
như mảng bám vi khuẩn, cao răng, đặc biệt là đáp ứng miễn dịch của cơ thể...
Vì vậy, điều trị bệnh vùng quanh răng khó có thể có hiệu quả cao.
* Tình hình bệnh quanh răng ở nước ta
Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng Việt Nam năm 2000 [8], tỷ lệ
viêm lợi ở lứa tuổi 12-14 là 90,7%; lứa tuổi 15-17 là 93,53%. Nhu cầu điều trị
quanh răng cộng đồng (CPITN) lứa tuổi 18-34 là 97,31%; trên 45 tuổi là
98,95%. Như vậy, tỷ lệ bệnh vùng quanh răng ở nước ta còn rất cao và có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự mất răng.
1.4.3. Chấn thương vùng hàm mặt
Chấn thương hàm mặt, đặc biệt là chấn thương xương hàm có thể gây
mất răng. Vị trí mất răng thường là nhóm răng cửa và ở hàm trên nhiều hơn
hàm dưới do đặc điểm vị trí giải phẫu. Số lượng răng mất có thể ít hoặc nhiều
và hay kèm theo tổn thương xương ổ răng gây khó khăn cho làm răng giả[12].
Ngày nay với sự gia tăng của các phương tiện giao thông đặc biệt là xe
môtô, ở Việt Nam, số lượng bệnh nhân chấn thương nói chung và chấn
thương hàm mặt nói riêng cũng tăng lên.
1.4.4. Khối u xương hàm
Khối u xương hàm có thể lành tính hoặc ác tính cũng ảnh hưởng đến
răng. Khi khối u phát triển có kích thước lớn có thể gây rụng răng hoặc trong


10

khi phẫu thuật cắt bỏ u thường lấy cả các răng nằm trong vùng khối u. Các

khối u xương hàm thường gặp: u men răng, u răng, ung thư biểu mô xương
hàm, ung thư liên kết xương hàm... [5].
Mất răng do phẫu thuật khối u thường mất nhiều xương hàm, thậm chí
mất cả đoạn xương hàm. Để thuận lợi hơn cho làm hàm giả nên ghép xương
hàm cho bệnh nhân.
1.5. Phục hình mất răng
Các trường hợp mất răng rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào số
lượng răng mất, vị trí mất răng, sống hàm vùng mất răng, tình trạng các răng
còn lại, các bệnh lý răng miệng khác kèm theo... Do đó có nhiều phương pháp
điều trị mất răng. Dưới đây là các phương pháp điều trị mất răng:
1.5.1. Phục hình cố định bằng cầu răng[12]
Đây là loại phục hình răng cố định để phục hồi răng mất bằng cách dùng
các răng bên cạnh làm trụ để mang, gánh răng giả thay thế răng mất. Các răng
thật đóng vai trò trụ cầu mang các răng giả và nhận các lực truyền từ răng giả
xuống xương hàm. Các bộ phận kết nối răng giả với răng trụ có thể là chụp
răng, răng trụ, inlay, onlay. Vật liệu làm cầu răng thường bằng kim loại hoặc
kết hợp với sứ hoặc nhựa. Gần đây với sự tiến bộ của công nghệ đã có loại
cầu răng được làm hoàn toàn bằng sứ có thẩm mỹ cao hơn.
Ưu điểm của cầu răng là phục hồi chức năng ăn nhai cao hơn hàm giả
tháo lắp do nó ổn định hơn. Tuy vậy, không phải trường hợp mất răng nào
cũng có thể làm cầu răng được.
Chỉ định làm cầu răng:
- Vị trí và số lượng các răng trụ phải tương xứng với các răng mất.
- Răng trụ phải lành mạnh hoặc đã được chữa tủy tốt. Răng có vùng
quanh răng tốt.
- Vị trí và chiều hướng của răng trụ có thể trở nên song song sau khi mài
cùi răng, răng trụ không nghiêng quá 25 độ theo chiều gần xa.


11


- Chân răng trụ có hình dáng thuận lợi cho sự cứng chắc trong xương hàm.
- Tỷ lệ thân/chân răng nhỏ hơn hoặc bằng 1.
1.5.2. Phục hình bằng hàm giả tháo lắp[13]
Các răng mất được thay thế bằng hàm giả có nền hàm trên đó có các
răng giả và có thể có móc kèm theo ôm vào răng thật. Móc có tác dụng tăng
cường sự lưu giữ của hàm giả.
Loại hàm giả này có thể chỉ định trong nhiều trường hợp, cả những
trường hợp không thể làm được răng giả cố định. Các trường hợp hay được
chỉ định là: mất răng không còn răng giới hạn xa, mất răng với khoảng dài,
mất nhiều răng, mất vùng răng cửa có tiêu xương ổ răng nhiều.
- Ưu điểm:
+ Dễ vệ sinh hàm giả và tổ chức răng miệng còn lại của bệnh nhân.
+ Tiết kiệm mô răng thật còn lại.
+ Thực hiện đơn giản, kinh phí thấp.
- Nhược điểm:
+ Hàm giả có khối lượng lớn nên dẫ gây khó chịu cho bệnh nhân.
+ Hàm giả có tính xê dịch tạo cảm giác bất ổn.
+ Phần lớn hàm giả tựa lên mô xương niêm mạc nên bị lún nhiều khi
ăn nhai làm cho hiệu quả ăn nhai kém và tiêu xương.
+ Hàm giả che phủ nhiều tổ chức răng miệng còn lại.
+ Một số trường hợp hàm giả cần đặt móc phía trước thẩm mỹ sẽ kém.
Trong hàm giả tháo lắp gồm hàm giả tháo lắp nền nhựa cứng, nền nhựa
mềm và hàm khung, trong đó hàm giả tháo lắp nền nhựa mềm có ưu điểm là
dễ tháo lắp hơn và khít hơn trong những trường hợp các răng thật còn lại nghiêng.
Hàm khung là loại hàm giả tháo lắp có phần chính là một khung sườn.
Toàn bộ cấu trúc bằng hợp kim được đúc liền một khối và răng giả được gắn
với yên phục hình.



12

Như vậy, cần phục hồi răng mất càng sớm càng tốt để trả lại chức năng
và ngăn chặn sự siêu lệch của các răng còn lại. Các phương pháp phục hình
có thể là tháo lắp. Việc lựa chọn phương pháp phục hình nào phụ thuộc vào
các yếu tố như tuổi, giới, tình trạng các răng còn lại, tình trạng vùng quanh
răng, vệ sinh răng miệng và điều kiện kinh tế... Phục hình cố định bằng cầu
với những ưu điểm là tạo cho bệnh nhân sự thoải mái, dễ chịu, dễ thích nghi
với việc mang hàm giả, phục hồi chức năng ăn nhai tốt, đảm bảo sự chắc, bền,
yêu cầu thẩm mỹ và khả năng phòng bệnh. Theo Nguyễn Dương Hồng [3],
phục hình cố định bằng cầu cổ điển phục hồi lực nhai tới 100% trong khi đó
hàm tháo lắp chỉ đạt 25-50%. Do cầu cổ điển có nhiều ưu điểm, với điều kiện
kinh tế của Việt Nam hiện nay thì cầu cổ điển luôn là sự lựa chọn hàng đầu
cho phục hình mất răng lẻ tẻ. Tuy nhiên, phục hình bằng cầu cổ điển cần phải
tuân thủ chặt chẽ chỉ định và các bước kỹ thuật, nếu không thì cầu răng sẽ có
hại cho các răng còn lại đặc biệt là răng trụ.
1.5.3. Cấy ghép răng (Implant)[14]
Xương hàm vùng mất răng được khoan và đặt chốt kim loại vào đó. Sau
vài tháng hoặc ngay tức thì tùy từng trường hợp mà chúng ta phục hình răng
giả thay răng mất trên chốt kim loại đó. Phương pháp này có thể thay thế một
hoặc nhiều răng mất.
Ưu điểm:
+ Phục hình cố định được mà không cần răng giới hạn.
+ Không cần can thiệp vào răng khác do đó bảo tồn các răng còn lại.
+ Phục hồi chức năng ăn nhai tốt.
+ Răng giả sinh lý hơn.
Nhược điểm:
+ Yêu cầu kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại.
+ Giá thành cao.
+ Chỉ định hạn chế.



13

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những bệnh nhân đến khám răng và điều trị khoa RHM bệnh viện đa
khoa tỉnh Hà Nam trong khoảng thời gian từ tháng 04 đến tháng 10 năm 2018.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Những bệnh nhân đến khám và điều trị răng do mọi nguyên nhân.
- Tuổi từ 20 đến 80 tuổi.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những người không trong độ tuổi trên.
- Những trường hợp mất răng nhưng có kèm theo bệnh toàn thân, tại chỗ
trầm trọng không cho phép phục hình răng
- Những bệnh nhân mất răng có kèm theo bệnh lý tâm thần chưa ổn định
- Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu được áp dụng trong nghiên cứu này là nghiên cứu
mô tả cắt ngang tiến cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước một tỷ lệ trong quần thể:
n=
2

Ζ

1− α/2


Trong đó:
n là cỡ mẫu nghiên cứu

p(1 − p )

d

2


14

p: tỷ lệ mất răng trong cộng đồng theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh
Minh là 35%[5]
Z(1-α/2): hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% là 1,96
d: độ chính xác tuyệt đối của p, ở đây chúng tôi chọn là d là 0.1
Thay vào công thức ta có : n = 88 (bệnh nhân)
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là 88 bệnh nhân
2.2.3. Kỹ thuật chọn mẫu
Kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu trong nghiên cứu của chúng tôi là sử
dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích, có nghĩa là những bệnh nhân đến khám
và điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam, có đủ tiêu
chuẩn nghiên cứu sẽ được phỏng vấn ngay sau khi khám bệnh, chỉ ngừng thu
thập thông tin khi đủ số lượng hoặc đến hết thời gian nghiên cứu.
2.2.4. Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu
Biến số nghiên cứu
- Tuổi.
- Giới.
- Phân loại mất răng theo kennedy và applegate.

- Vị trí mất răng.
- Số lượng răng mất.
- Tình trạng răng giả đã làm (phân loại tháo lắp,cố định).
- Nhu cầu điều trị phục hình ( theo chỉ định của bác sĩ và theo nguyện
vọng của bệnh nhân)
2.2.5. Công cụ thu thập thông tin
Bệnh án nghiên cứu được thiết kế trên cơ sở mục tiêu, biến số và chỉ số
nghiên cứu (phụ lục...).
2.2.6. Phương pháp thu thập thông tin
2.2.6.1. Phỏng vấn


15

Bệnh nhân sau khi khám sẽ được các bác sĩ khám bệnh phỏng vấn trực
tiếp các thông tin liên quan để điền vào bệnh án nghiên cứu về:
+ Thủ tục hành chính
- Họ tên
- Tuổi
- Giới
- Địa chỉ
- Điện thoại liên hệ
- Địa chỉ, điện thoại liên hệ khi cần.
+ Khai thác tiền sử và bệnh sử
- Tiền sử, bệnh sử chung toàn thân.
- Tiền sử, bệnh sử răng miệng.
+ Nguyên nhân mất răng : viêm quanh răng, bệnh liên quan đến sâu
răng, chấn thương, phẫu thuật.....
2.2.6.2. Khám phát hiện tình trạng mất răng
* Dụng cụ khám:

Bộ khám thông thường: Khay, gương, gắp, thám trâm, bông, cồn. Nguồn
ánh sáng sử dụng là ánh sáng điện hoặc ánh sáng trời.
* Biểu mẫu để khám và đánh giá tình trạng bệnh:
Mẫu khám là mẫu được qui định thống nhất theo hướng dẫn của tổ chức
Y tế thế giới, bao gồm các mục:
- Hành chính
- Sâu răng
- Bệnh niêm mạc miệng
- Nhiễm trùng hàm mặt
- Vệ sinh răng miệng
- Nha chu


16

- Nhiễm Fluor
- Tình trạng cần xử lí ngay
- Chỉnh hình răng mặt
- Dị dạng mặt
- Phục hình
* Khám trong miệng từ cung 1 đến cung 2,3,4.
Cung 1: Đánh giá xem có mất răng hay không?
Vị trí răng mất
Số lượng răng mất
Phân loại mất răng theo Kennedy và Applegate
Tình trạng các răng còn lại: Độ lung lay răng, đặc biệt các răng có ý định
làm trụ.
. Độ 0: răng không lung lay
. Độ I: cảm giác răng lung lay dưới tay, mắt chưa nhìn thấy
. Độ II: mắt nhìn thấy răng lung lay theo chiều trong - ngoài ≤ 1mm

. Độ III: răng lung lay > 1mm theo chiều trong ngoài và gần xa.
. Độ IV: gõ dọc nhẹ hoặc lấy ngún tay ấn xuống răng lún.
Đã có phục hình chưa, nếu có thì tình trạng phục hình như thế nào:


Làm đúng kĩ thuật?



Chỉ định đúng?



Chất lượng phục hình (nứt, gãy, hở, lung lay..)



Khớp cắn chỗ phục hình có bị hở không?



Độ thẩm mĩ



Cảm nhận của đối tượng mang phục hình?



Chỉ định của bác sĩ .




Nhu cầu làm phục hình của bệnh nhân.


17

2.2.7. Xử lý số liệu
- Các số liệu thu thập được làm sạch và xử lý theo thuật toán thống kê
y học bằng phần mềm SPSS 20
- Dùng phương pháp kiểm định χ2 để so sánh các tỷ lệ.
- Với các biến định lượng, phép kiểm được sử dụng là t-Student.
2.2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng trong mẫu nghiên cứu đều được giải thích về
mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Thông tin do đối tượng cung cấp được giữ bí mật
-

Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh

nhân không nhằm mục đích nào khác.
2.2.9. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 04 đến tháng 10 năm 2018.


18

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi
Chung

Nam

Nữ

Tuổi trung bình

44.57±17.75

42.93±17.30

49.27±18.40

Thấp nhất

20

20

22

Cao nhất

80

80


80

p < 0.05

Nhận xét:
Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 44.57 tuổi. Bệnh nhân tuổi
cao nhất là 80, thấp nhất là 20 tuổi. Tuổi trung bình của bệnh nhân nữ(49.27)
cao hơn nam(42.93).
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm về giới.
Nhận xét:
Bệnh nhân nam 126 (chiếm 74.1%) nhiều hơn số bệnh nhân nữ tham gia
nghiên cứu 44(chiếm 25.9%).
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp
Nghề
nghiệp

n

%

Nông dân

47

27.6

Công nhân

46


27.1

Công chức

32

18.8


19

viên chức
Nghề khác

45

26.5

Tổng

170

100

Nhận xét:
Nghề nghiệp là nông dân chiếm 27.6%, công nhân chiếm 27.1%, công
chức viên chức chiếm 18.8%, còn lại là nghề nghiệp khác chiếm 26.5%.
Biểu đồ 3.2. nguyên nhân mất răng
Nhận xét:
Nguyên nhân mất răng do sâu răng chiếm tỉ lệ cao nhất 67.1%, do chấn

thương 23.3%, do viêm quanh răng 23.3% và thấp nhất là do phẫu thuật
chiếm 3.3%.
3.2. Thực trạng mất răng của bệnh nhân
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ mất răng ở đối tượng nghiên cứu
Nhận xét:
Qua biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ mất răng của bệnh nhân chiếm tỷ lệ 35.9%.
Bảng 3.3. Tỷ lệ bệnh nhân mất răng theo nhóm tuổi
Tình trạng răng
Nhóm
tuổi

Mất răng

Cộng

Không

p<0,001

n

%

n

%

n

%


20 -34

11

17.2

53

82.8

64

100

35 - 44

8

23.5

26

76.5

34

100

45 - 60


12

40

18

60

30

100

> 60

30

71.4

12

28.6

42

100

Cộng

61


35.9

109

64.1

170

100,0


20

Nhận xét:
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành khám cho 170 bệnh nhân với
bốn nhóm tuổi. 61 bệnh nhân mất răng, chiếm 35.9%.
Tỉ lệ mất răng tăng theo tuổi.Nhóm tuổi trên 60 tuổi có tỷ lệ mất răng
cao nhất (71.4%), thấp nhất là nhóm tuổi 20-34 tuổi (17.2%), sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p<0.001.
Bảng 3.4. Tỷ lệ bệnh nhân mất răng theo giới
Tình trạng răng
Giới tính

Mất răng

Cộng

Không


n

%

n

%

n

%

Nam

40

31.7

86

68.3

126

100

Nữ

21


47.7

23

52.3

44

100

Cộng

61

35.9

109

64.1

170

100,0

p= 0.057

Nhận xét:
Tỷ lệ mất răng ở nam là 31.7% . Ở nữ là 47.7% , sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê.
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ bệnh nhân mất răng theo vị trí cung hàm

Nhận xét:
Qua biểu đồ 3.4 cho thấy có 57.4% bệnh nhân bị mất răng ở hàm trên,
27.9% bệnh nhân mất răng hàm dưới và 14.8% bệnh nhân mất răng cả 2 hàm


21

Bảng 3.5. Số răng mất trung bình theo tuổi

Tuổi

n

Số răng mất trung Số răng mất trung
bình hàm trên
bình hàm dưới
( ± SD)
( ± SD)
X

Số răng mất
TB/1 người
( ± SD)

X

X

20 - 34


64

0.36 (± 0.98)

0.06 (± 0.30)

0.42 (± 1.10)

35 - 44

34

0.47 (± 1.11)

0.18 (± 0.76)

0.65 (± 1.37)

45 - 60

30

0.80 (± 1.65)

0.23 (± 0.57)

1.03 (± 1.69)

> 60


42

1.45 (± 2.69)

1.29 (± 2.65)

2.74 (± 4.68)

Tổng

170

0.73 (± 1.74)

0.42 (± 1.47)

1.15 (± 2.74)

0.011

<0.001

<0.001

p value
Nhận xét:

Số răng mất trung bình trên 1 người là 1.15 (± 2.47), cao nhất ở nhóm
tuổi trên 60 (2.74), thấp nhất ở nhóm tuổi 20-34 (0.42), càng nhiều tuổi số
răng mất càng nhiều, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0.001.

Số răng mất trung bình hàm trên là 0.73 (± 1.74) và hàm dưới là 0.42
(±1.47)
Biểu đồ 3.5. Tỉ lệ mất răng theo phân loại Kennedy - Applegate
Nhận xét:
Tỷ lệ mất răng loại VI là cao nhất chiếm (39.3%), mất răng loại III
chiếm tỉ lệ thấp nhất(1.6%).
Bảng 3.6. Phân loại mất răng của Kennedy - Applegate theo giới
Phân loại của Kennedy và Applegate
Nhóm

Loại I

Tuổi

n

Loại II Loại III Loại IV Loại V Loại VI
n

n

n

n

n

Tổng
n



22

Nam

Nữ

Tổng

%

%

%

%

%

%

%

4

6

0

15


2

13

40

10.3%

15.4%

0%

38.5%

5.1%

32.5%

100%

3

2

1

4

0


11

21

14.3%

9.5%

4.8%

19.0%

0%

52.4%

100%

7

8

1

19

2

23


61

11.7%

13.3%

1.6%

31.1%

3.3%

39.3%

100%

p = 0.56
Nhận xét:
Theo phân loại Kennedy - Applegate:
Mất răng loại I nam chiếm 10.3% nữ 14.3%
Mất răng loại II nam chiếm 15.4% nữ 9.5%
Mất răng loại III nam chiếm 0% nữ 4.8%
Mất răng loại IV nam chiếm 38.5% nữ 19.0%
Mất răng loại V nam chiếm 5.1% nữ 0%
Mất răng loại VI nam chiếm 32.5% nữ 52.4%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê(p = 0.56)
Bảng 3.7. Phân loại mất răng theo phân loại của Kennedy - Applegate –
theo nhóm tuổi
Phân loại của Kennedy và Applegate

Nhóm
Tuổi

Loại I
n
%

Loại II Loại III Loại IV Loại V Loại VI
n
%

n
%

n
%

n
%

n
%

Tổng
n
%


23


20 – 34

0
0%

0
0%

0
0%

5
50%

2
20%

4
36.4

11
100%

35 - 44

0
0%

0
0%


0
0%

6
75%

0
0%

2
25%

8
100%

45 – 60

0
0%

2
16.7%

0
0%

6
50%


0
0%

4
33.3%

12
100%

> 60

7
23.3%

6
20.0%

1
3.3%

2
6.7%

0
0%

14
46.7

30

10

Tổng

7
11.7%

8
13.3%

1
1.7%

19
31.1%

2
3.3%

24
39.3

61
100%

p = 0.064
Nhận xét:
Mất răng loại I chiếm tỉ lệ cao ở nhóm tuổi > 60 tuổi (23.3%), thấp ở
nhóm tuổi 20-60 tuổi(0%)
Mất răng loại II chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm tuổi >60 tuổi(20.0%), thấp

ở nhóm tuổi 20-44 tuổi(0%)
Mất răng loại III chiếm tỉ lệ cao ở nhóm tuổi >60 tuổi(3.3%), thấp ở
nhóm tuổi 20-60 tuổi(0%)
Mất răng loại IV chiếm tỉ lệ cao ở nhóm tuổi 35-45 tuổi(75%), thấp nhất
ở nhóm tuổi >60 tuổi(6.7%)
Mất răng loại V chiếm tỉ lệ cao ở nhóm tuổi 20-34 tuổi(20%), thấp ở
nhóm tuổi >34 tuổi(0%)
Mất răng loại VI chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm tuổi >60 tuổi(46.7%), thấp
nhất ở nhóm tuổi 35-44 tuổi(25%)
Sự khác biệt giữa loại mất răng theo các nhóm tuổi không có ý nghĩa
thống kê(p = 0.064).
3.3. Xác định nhu cầu điều trị
Bảng 3.8. Tỷ lệ bệnh nhân mất răng đã có răng giả theo tuổi
Tuổi

Loại răng giả đang có


24

20 – 34
35 - 44
45 - 60
> 60
Cộng

Chưa có
n
%
6

54.5%
7
87.5%
8
66.7%
20
66.7%
41
67.2%

Cố định
N
%
5
45.5%
1
12.5%
4
33.3%
7
23.3%
17
27.9%
p = 0.70

Tháo lắp
n
%
0
0%

0
0%
0
0%
3
10.0%
3
4.9%

Cộng
n
%
11
100%
8
100%
12
100%
30
100%
61
100%

Trong tổng số 61 bệnh nhân mất răng chúng tôi nhận thấy:
- Số bệnh nhân chưa có răng giả chiếm 67.2%, số bệnh nhân đã có răng giả
chiếm 32.8%, trong đó loại cố định chiếm 27.9%, loại hàm tháo lắp chiếm 4.9%.
- Số bệnh nhân chưa có răng giả cao nhất ở nhóm tuổi 35-44
tuổi(87.5%), thấp nhất ở nhóm tuổi 20-34 tuổi(54.5%).
- Số bệnh nhân có răng giả loại cố định cao nhất ở nhóm tuổi 20-34
tuổi(45.5%), thấp nhất ở nhóm 35-44 tuổi(12.5%).

- Số bệnh nhân có hàm tháo lắp cao nhất ở nhóm >60 tuổi(10.0%), thấp
ở các nhóm tuổi khác(0%).
Bảng 3.9. Chỉ định làm răng giả theo nhóm tuổi
Cần làm răng giả

Nhu cầu

Chỉ định điều trị
Tuổi
20 – 34

Nhu cầu bệnh nhân

n

%

n

%

6

9.4

6

9.4



25

35 - 44

7

20.6

7

20.6

45 - 60

9

30.0

6

20.0

> 60

27

64.3

17


40.5

Tổng

49

28.8

36

21.2

p < 0.001
Nhận xét:
Trong số 170 bệnh nhân nghiên cứu chỉ định và nhu cầu làm răng giả
khác nhau theo từng nhóm tuổi, xu hướng tăng theo tuổi(p< 0.001).
Chỉ định làm răng giả cao nhất ở nhóm >60 tuổi(64.3%), thấp nhất ở
nhóm 20-34 tuổi(9.4%).
Nhu cầu làm răng giả của bệnh nhân cao nhất ở nhóm >60 tuổi(40.5%),
thấp nhất ở nhóm 20-34 tuổi(50%).
Bảng 3.10. Chỉ định loại răng giả theo nhóm tuổi
Loại chỉ định

Chỉ định

Không mất
răng

Tổng


Cố định

Tháo lắp

n

%

n

%

n

%

n

%

20 – 34

6

9.4

0

0


58

90.6

64

100

35 - 44

7

20.6

0

0

27

79.4

34

100

45 - 60

7


23.3

2

6.7

21

70.0

30

100

> 60

14

33.3

13

31.0

15

35.7

42


100

Tổng

34

20.0

15

8.8

121

71.2

170

100

Tuổi

p < 0.001
Nhận xét:
Tỷ lệ cần làm hàm tháo lắp là 8.8% tăng theo số tuổi, cố định là 20.0%
tăng theo số tuổi(p< 0.001),.
Chỉ định làm răng giả cố định thấp nhất ở tuổi 20-34 (9.4%), cao nhất ở
nhóm >60 tuổi(33%).



×