1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Soi buồng tử cung (BTC) là phương pháp sử dụng ống soi đưa qua
CTC vào BTC, làm tách thành tử cung ra để quan sát trực tiếp toàn bộ BTC,
nhằm mục đích chẩn đoán và xử trí các tổn thương trong BTC, có làm đầy
BTC bằng dịch hoặc khí trong quá trình thực hiện kỹ thuật.
Bằng cách nhìn trực tiếp qua soi BTC, có thể quan sát được niêm mạc
tử cung, xác định được các tổn thương trong BTC như dính, vách ngăn,
polyp, u xơ, chẩn đoán sớm các tổn thương ung thư và tiền ung thư niêm mạc
tử cung. Hơn nữa, qua soi BTC có thể xử trí nhiều tổn thương bằng phẫu
thuật. Phương pháp phẫu thuật qua soi BTC bảo tồn được tử cung, không có
sẹo mổ ở thành bụng như các phương pháp phẫu thuật cổ điển qua đường bụng,
thời gian nằm viện ngắn, hồi phục sau mổ nhanh.
Pantaleoni là người đầu tiên sử dụng thành công phương pháp soi BTC
vào năm 1869 khi ông áp dụng phương pháp này trên một phụ nữ 60 tuổi bị ra
máu âm đạo sau mãn kinh. Ông đã phát hiện ra có một polyp trong BTC của
người bệnh và đã đốt polyp này bằng Nitrat bạc. Pantaleoni không những
được coi là người đầu tiên thực hiện kỹ thuật soi BTC chẩn đoán mà còn là
người đầu tiên phẫu thuật trong BTC qua soi BTC [1].
Trước kia, các nhà phụ khoa thường sử dụng các phương pháp thăm
dò mù BTC như dùng các dụng cụ đưa vào BTC để đánh giá BTC hoặc qua
chụp BTC,... Sau này, khi phương tiện và kỹ năng nội soi nói chung và soi
BTC nói riêng phát triển thì soi BTC để thăm dò BTC là phương pháp được
ưu tiên lựa chọn.
Tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, nội soi vô sinh phát triển mạnh từ
năm 2004 với số lượng người bệnh vô sinh đến được phẫu thuật nội soi ngày
càng đông. Lúc đầu, soi BTC rất ít được áp dụng do khó khăn về phương tiện
2
cũng như kỹ thuật. Cho đến nay soi BTC được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở
các người bệnh vô sinh. Với mong muốn có một bức tranh toàn cảnh về tình
hình soi BTC, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu kết quả
của soi buồng tử cung trong chẩn đoán và xử trí một số tổn thương tại
buồng tử cung trong điều trị vô sinh”.
Với mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân có
chỉ định soi buồng tử cung trong vô sinh.
2. Đánh giá kết quả xử trí một số nguyên nhân vô sinh bằng soi
buồng tử cung.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Vô sinh
1.1.1. Đại cương
Vô sinh là tình trạng không có thai sau một thời gian nhất định chung
sống vợ chồng mà không áp dụng một biện pháp tránh thai nào, hiện nay tổ
chức y tế thế giới quy định là một năm.
Vô sinh là tình trạng khá phổ biến, có khoảng 10 - 15% số cặp vợ
chồng bị vô sinh [2].
Người ta chia làm vô sinh nguyên phát (VSI) và vô sinh thứ phát
(VSII). Vô sinh nguyên phát là chưa hề có thai lần nào sau một năm chung
sống vợ chồng, vô sinh thứ phát là chưa có thai lại sau lần có thai trước được
một năm.
Những trường hợp có nguyên nhân hiển nhiên thì không cần tính mốc
thời gian, ví dụ như vợ vô kinh, chồng liệt dương, ... thì điều trị vô sinh ngay [3].
1.1.2. Điều kiện cần phải có để thụ thai
- Phải có noãn đủ chất lượng tốt được phóng ra khỏi buồng trứng.
- Tinh trùng đủ số lượng và chất lượng.
- Có sự gặp gỡ giữa tinh trùng và noãn.
- Một tinh trùng phải chui được vào trong noãn để thụ tinh tạo thành trứng.
- VTC thông tốt, có nhu động thích hợp, sinh lý để trứng di chuyển vào
trong tử cung được.
- Niêm mạc tử cung được chuẩn bị sẵn sàng để đón trứng vào làm tổ.
- Trứng phát triển được trong tử cung [4], [5].
4
1.1.3. Nguyên nhân vô sinh
Nguyên nhân vô sinh vô cùng phức tạp. Việc chẩn đoán nguyên nhân
đòi hỏi một quá trình thăm khám tỉ mỉ, kết hợp với những xét nghiệm thăm dò
phong phú chính xác. Vô sinh nam là trường hợp nguyên nhân vô sinh hoàn
toàn do người chồng, vợ bình thường. Vô sinh nữ là trường hợp nguyên nhân
vô sinh hoàn toàn do người vợ, chồng bình thường. Có những trường hợp vô
sinh mà nguyên nhân do cả hai vợ chồng. Vô sinh không rõ nguyên nhân là
những trường hợp làm các xét nghiệm thăm dò hiện có nhưng không tìm thấy
nguyên nhân nào.
- Vô sinh nam: chiếm khoảng 36%
+ Bất thường bẩm sinh như là rối loạn nhiễm sắc thể: hội chứng
Klinefelter (XXY), hội chứng Kallmann và hội chứng Kartagener.
+ Tổn thương bìu hoặc tinh hoàn trước đó, bao gồm cả cắt ống dẫn
tinh, tạo ra các kháng thể kháng tinh trùng.
+ Biến chứng bệnh quai bị.
+ Không có tinh trùng.
+ Tinh trùng kém về số lượng hoặc chất lượng.
+ Tắc ống dẫn tinh hoặc không có ống dẫn tinh.
+ Không có khả năng cương.
+ Nhiễm trùng đường sinh dục nam.
+ Sử dụng thuốc, đặc biệt các steroids đồng hoá.
+ Vô sinh nguyên phát.
+ Teo tinh hoàn do hoá liệu pháp.
+ Xuất tinh ngược dòng sau phẫu thuật tuyến tiền liệt, phẫu thuật cổ
bàng quang hay vấn đề dẫn truyền thần kinh tại cổ bàng quang [6].
- Vô sinh nữ: chiếm khoảng 54%
+ Bất thường bẩm sinh ở tử cung hay buồng trứng.
5
+ Do buồng trứng, rối loạn phóng noãn, mãn kinh sớm.
+ Do VTC: tắc VTC, ứ dịch hay ứ mủ VTC.
+ Do tử cung: u xơ tử cung, dị dạng tử cung (vách ngăn tử cung, tử
cung hai sừng, tử cung đôi, ...).
+ Do niêm mạc tử cung: polype BTC, dính BTC, viêm niêm mạc tử cung, ...
+ Do CTC, rối loạn tiếp nhận tinh trùng [5].
- Vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm khoảng 10%.
1.1.4. Các thăm dò đối với cặp vợ chồng vô sinh
1.1.4.1. Thăm dò đối với người vợ
- Kiểm tra mầm bệnh gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới.
- Kiểm tra độ thông của VTC bằng chụp phim tử cung - VTC.
- Thăm dò độ thâm nhập của tinh trùng vào chất nhầy cổ tử cung (CTC)
trên kính hoặc qua chứng nghiệm Huhner (chứng nghiệm sau giao hợp, tìm
tinh trùng trong chất nhầy CTC của người vợ).
- Kiểm tra sự phóng noãn: đường cong thân nhiệt cơ sở, chỉ số CTC,
sinh thiết niêm mạc TC vào nửa sau của vòng kinh hoặc vào đầu của vòng
kinh sau, định lượng progesteron vào nửa sau của vòng kinh. Khác với nhận
xét trước kia, hiện nay tế bào học âm đạo nội tiết không còn là xét nghiệm
chính xác để chẩn đoán phóng noãn nữa.
- Kiểm tra khả năng làm tổ của niêm mạc TC bằng sinh thiết niêm mạc
TC vào nửa sau của vòng kinh hoặc đầu vòng kinh sau xem có hình ảnh chế
tiết của các tuyến không. Sinh thiết niêm mạc TC có hai tác dụng: xem khả
năng phóng noãn và xem khả năng làm tổ.
- Siêu âm theo dõi sự phát triển của nang noãn và niêm mạc TC.
- Xét nghiệm máu: xét nghiệm nội tiết (FSH, LH, Prolactin, Progesteron),
Chlamydia- xét nghiệm sàng lọc có tổn thương VTC, Rubella,...
- Mổ nội soi, soi BTC.
6
1.1.4.2. Xét nghiệm thăm dò người chồng
- Tinh dịch đồ: đánh giá lượng tinh dịch, số lượng tinh trùng trong
1mm3, tỉ lệ tinh trùng khoẻ, tỉ lệ tinh trùng dị dạng. Theo Tổ chức y tế thế
giới, nếu lượng tinh trùng ≥ 20.000/mm3 thì được coi là bình thường.
- Chứng nghiệm Huhner.
1.1.5. Điều trị cho cặp vợ chồng vô sinh
- Nguyên tắc chung: khám và điều trị cho cả hai vợ chồng theo nguyên nhân.
- Các phương pháp điều trị cho vợ: điều trị chống viêm nhiễm, kích
thích phóng noãn, điều trị tắc vòi tử cung (VTC) (bằng phẫu thuật nội soi), hỗ
trợ sinh sản (bơm tinh trùng vào BTC, thụ tinh trong ống nghiệm).
- Các phương pháp điều trị cho chồng: điều trị nội khoa hoặc phẫu
thuật tuỳ theo nguyên nhân.
1.2. Soi buồng tử cung
Từ thời cổ xưa, Homo Sapiens đã mong muốn khám phá các khoang
của cơ thể và đã có thể mô tả khám nội soi tương tự như soi trực tràng ngày
nay từ trường học Hippocrates (460 - 375 trước công nguyên) - ở đảo Kos.
Bozzin (người Ý) là người tiên phong trong lĩnh vực nội soi hiện đại. Ông đã
phát minh ra chiếc ống rỗng bằng kim loại để đưa vào các khoang tự nhiên
của cơ thể nhằm quan sát các khoang này nhờ ánh sáng của ngọn nến phản
chiếu qua gương (năm 1805). Năm 1865, Desormeaux lần đầu khám phá ra
ống soi bàng quang với nguồn sáng từ một chiếc đèn cháy bằng cồn và nhựa
thông, ông cũng gợi ý rằng có thể dùng phương pháp nội soi này để soi BTC.
Tuy nhiên, Pantaleoni được coi là người đầu tiên thực hiện kỹ thuật soi BTC
chẩn đoán mà còn là người đầu tiên phẫu thuật trong BTC qua soi BTC [1].
Cho dù vậy, sự phát triển của phương pháp soi BTC rất chậm chạp,
nguyên nhân chủ yếu do BTC nhỏ, thành TC dày, niêm mạc TC dễ chảy máu
nên rất khó làm căng phồng BTC để soi, thêm vào đó là vấn đề khó khăn về
nguồn sáng và thấu kính [7].
7
Có hai phương pháp là soi BTC chẩn đoán và soi BTC phẫu thuật. Soi
BTC chẩn đoán áp dụng cho các trường hợp ra máu bất thường từ BTC ở
người tiền mãn kinh hoặc mãn kinh (có thể kết hợp sinh thiết niêm mạc TC),
vô sinh (vô sinh không rõ nguyên nhân, có hình ảnh bất thường trên phim
chụp TC - VTC), đôi khi soi BTC ở người có tiền sử sảy thai liên tiếp [8]. Soi
BTC phẫu thuật để lấy đi các polyp BTC, u xơ TC dưới niêm mạc, tách dính
BTC, cắt vách ngăn BTC, cắt niêm mạc TC.
1.2.1. Chỉ định của của soi buồng tử cung
1.2.1.1. Các chỉ định soi buồng tử cung chẩn đoán
- Để tìm hiểu nguyên nhân chảy máu bất thường của TC.
- Chẩn đoán dị dạng TC, dính BTC ở những phụ nữ vô sinh.
- Nghi ngờ u xơ dưới niêm mạc TC, polype BTC.
- Chẩn đoán nguyên nhân sẩy thai liên tiếp.
- Soi BTC khi làm thụ tinh trong ống nghiệm thất bại nhiều lần [9], [10].
1.2.1.2. Soi buồng tử cung phẫu thuật
- Dính BTC.
- Vách ngăn TC gây sảy thai liên tiếp, đẻ non, thai chết lưu.
- Quá sản niêm mạc TC: cắt bỏ niêm mạc TC khi điều trị nội khoa thất
bại và TC không quá to.
- Polype xơ: thường gây rong kinh, đốt và cắt bằng dao điện.
- U xơ dưới niêm mạc TC gây rong kinh, rong huyết hoặc vô sinh, u
nằm hoàn toàn trong BTC, hoặc đường kính lớn nhất của u nằm trong BTC,
đường kính u xơ dưới 4 cm.
8
- Rong kinh mà điều trị nội khoa không kết quả [11], [12].
1.2.2. Chống chỉ định của soi buồng tử cung
- Có thai, nghi có thai.
- Viêm âm đạo, CTC: điều trị viêm trước khi làm thủ thuật.
- Toan chuyển hóa.
- Bệnh tim phổi.
- Chảy máu nặng ở TC (gây cản trở việc quan sát BTC).
- Tổn thương ác tính CTC.
- TC to khi đo BTC trên 10 cm [12], [13].
1.2.3. Kỹ thuật soi buồng tử cung
- Soi BTC được tiến hành tại phòng mổ.
- Người bệnh nằm tư thế phụ khoa.
- Sát trùng âm đạo.
- Bộc lộ CTC bằng mỏ vịt.
- Cặp môi trước CTC.
- Đưa đèn soi qua lỗ ngoài CTC và bắt đầu quan sát.
- Cần phải đánh giá được ống CTC, BTC bằng cách quan sát từ xa đến
gần, tổng thể đến chi tiết. Để tránh tai biến, điều bắt buộc là khi đưa đèn soi
vào phải nhìn rõ được phía trước. Khi không quan sát được đèn soi thì phải
dừng đèn chờ đến lúc có thể nhìn thấy được phía trước mới tiếp tục đưa đèn
soi vào.
- Khi đèn soi đang ở vị trí ống CTC, vừa đưa đèn vào BTC vừa quan
sát ống CTC, phát hiện những bất thường nếu như có polype, dính ống CTC.
Ống CTC bình thường có cấu trúc là biểu mô trụ chế nhầy, khi đưa đèn soi
vào thấy nhiều cột niêm mạc phân nhánh, có đôi khi thấy những nang Naboth
tròn nhỏ trắng. Đỉnh của ống CTC là phần thấp của BTC. Khi đèn soi đi vào
BTC lúc này BTC đã được dịch soi làm căng từ trước.
9
- Tìm lỗ vào của hai VTC. Lỗ vào của VTC có hình tròn hay bầu dục, có
đường kính khoảng 2 - 3 mm, tối, không có mạch máu. Đôi khi khó nhìn thấy,
nhất là khi niêm mạc TC dày, quá sản niêm mạc TC, thì phải quan sát tỉ mỉ.
- Đánh giá niêm mạc TC: độ dày niêm mạc, màu sắc, các mạch máu.
Trong giai đoạn tăng trưởng, niêm mạc TC phẳng, hồng, ít mạch máu; giai
đoạn chế tiết thì niêm mạc TC dày, hồng, có thể cuộn lên như polype và có
nhiều dịch nhầy trong BTC. Những trường hợp phụ nữ dùng thuốc tránh thai
thì niêm mạc teo, mỏng, trắng, không có mạch máu. Cần phát hiện và mô tả chi
tiết các tổn thương thấy được khi soi BTC để xử trí [12], [14], [15].
1.2.4. Các chất làm căng phồng buồng tử cung
- Khí Carbon dioxide (CO2): tốc độ luồng khí tối đa cho phép khi soi BTC
là 100ml/phút. Dùng khí CO2 có ưu điểm là tránh nguy cơ quá tải dịch vào tuần
hoàn nhưng nhược điểm là tạo bong bóng nên khó quan sát [15].
- Dung dịch Dextran 70: là dịch nhớt quánh, không dẫn điện vì không
có chất điện giải, trong sáng về mặt quang học và không lẫn với máu. Do độ
đặc của nó nên dịch này ít có nguy cơ xâm nhập vào mạch máu TC, tuy nhiên
do độ nhớt cao nên khó khăn khi bơm liên tục vào BTC [15].
- Các dịch có độ nhớt thấp: Sorbitol là dung dịch đường 3% không có
chất điện phân - dùng tốt khi soi BTC phẫu thuật; Natri clorua 0,9%, Ringer
lactat [15].
1.2.5. Nguyên tắc cơ bản và dụng cụ
Hệ thống đèn nội soi là hệ thống đèn cho phép quan sát và nhận định
các thông tin từ vật thể quan sát, ở đây cụ thể là BTC, mà bình thường người
ta không tiếp cận trực tiếp được. Đèn nội soi được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực y học: soi khớp, soi khí quản, soi phế quản, soi ổ bụng, soi dạ dày, soi
BTC. Tuy nhiên nguyên tắc soi cũng tương tự như nhau. Về cơ bản, hệ thống
đèn nội soi bao gồm hệ thống đèn chiếu sáng vào vật thể cần quan sát và hệ
thống đèn truyền hình ảnh trở lại mắt hoặc máy ghi hình. Hình ảnh có thể
được truyền qua hệ thống thấu kính hoặc cáp quang ở đèn nội soi. Thêm vào
10
đó, hệ thống đèn soi hiện đại còn có thể gắn các dụng cụ để làm phẫu thuật
qua soi BTC. Có hai loại đèn soi cứng và đèn soi mềm, nhưng trong soi BTC
thường sử dụng đèn soi cứng [15], [17].
Đèn nội soi cứng bao gồm một ống hình trụ dài với bộ nối để chiếu
sáng, có thị kính, và đa số các trường hợp có nối với bộ ghi hình để quan sát.
Các thấu kính cho hình ảnh của vật thể cần quan sát ngay. Phẫu thuật viên có
thể quan sát mục tiêu qua thị kính hoặc trên màn hình tivi.
Thành phần quan trọng nhất của đèn nội soi là kính viễn vọng, nó cho
phép truyền ánh sáng tới vật cần quan sát và thu lại hình ảnh đến mắt người quan
sát. Kính viễn vọng dùng trong soi BTC phẫu thuật thường có chiều dài chuẩn là
30 - 35cm, có đường kính 4mm và góc nhìn có thể là 0 độ hoặc 30 độ.
1.2.6. Biến chứng của soi buồng tử cung
- Thủng TC là biến chứng thường gặp nhất,hậu quả không nặng, nếu
nghi ngờ thì soi ổ bụng [12], [18], [19], [20].
- Chảy máu: nhất là trường hợp ung thư [12], [18], [21], [22].
- Biến chứng do dịch: với máy bơm hiện đại dành cho soi BTC thì biến
chứng nay không còn nguy hiểm nữa [23], [24], [25].
- Viêm niêm mạc TC và chảy máu thứ phát [12], [22], [26].
- Dính BTC.
- Bỏng [27].
- Rách CTC: khi nong CTC khó [12].
1.2.7. Soi buồng tử cung phẫu thuật
Khả năng can thiệp phẫu thuật qua soi BTC đã mang lại nhiều lợi ích
cho cả người bệnh và thầy thuốc: một phẫu thuật không có vết rạch như mở
bụng thường nhanh hơn, ít biến chứng hậu phẫu hơn, thời gian hồi phục
nhanh hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn. Ví dụ một phẫu thuật vách ngăn
BTC qua soi BTC đã tránh được việc phải mở bụng, mở TC-mà kết quả là sau
11
này phải mổ lấy thai. Tuy nhiên đây là phẫu thuật khó, đòi hỏi phẫu thuật viên
phải có kinh nghiệm.
1.2.7.1. Chuẩn bị
- Có thể phải nội soi ổ bụng phối hợp.
- Niêm mạc TC: Thông thường thời điểm (trong vòng kinh) để soi BTC
sẽ ảnh hưởng đến kết quả thành công. Soi BTC ở đầu giai đoạn tăng trưởng sẽ
giúp đánh giá BTC tốt hơn, giai đoạn chế tiết khó quan sát do niêm mạc TC
dày và dễ chảy máu, khó khăn cho phẫu thuật. Có trường phái còn cho người
bệnh dùng kháng GnRH (gonadotropin-releasing hormone agonist) trước
phẫu thuật để làm teo niêm mạc TC nếu không có chống chỉ định.
- Làm mềm CTC: Nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng làm mềm CTC
bằng thuốc bằng cách so sánh việc không nong hay dễ nong CTC khi soi
BTC. Một nghiên cứu so sánh giữa misoprostol và laminare cho thấy tác dụng
tương tự nhau khi làm mềm CTC. Fernandez và cộng sự nghiên cứu dùng
misoprostol đường âm đạo cách 4 giờ để làm mềm CTC trước phẫu thuật
nhưng không làm giảm nhu cầu nong CTC cũng như không làm cho phẫu
thuật soi BTC dễ dàng hơn.
- Làm căng phồng BTC bằng dung dịch không có chất điện phân. Khi
CTC bị nong rộng quá cũng khó khăn trong việc làm căng phồng BTC.
- Giảm đau: có thể gây tê tại chỗ nhưng thường gây mê tĩnh mạch,
thậm chí gây mê toàn thân nếu có kết hợp với nội soi ổ bụng [28].
1.2.7.2. Các can thiệp soi buồng tử cung phẫu thuật
- Sinh thiết BTC.
- Tách dính BTC: soi BTC được áp dụng thường quy sớm nhất để tách
dính BTC. Phác đồ được đưa ra gồm bốn bước: thứ nhất là phục hồi cấu trúc
giải phẫu của BTC qua soi BTC, thứ 2 là dự phòng tái dính BTC bằng đặt
dụng cụ TC 2 tháng, thứ 3 là dùng liệu pháp estrogen để tái tạo niêm mạc TC,
thứ 4 là kiểm soát kết quả sau khi tháo dụng cụ TC. Soi BTC và chụp BTC có
12
tác dụng hỗ trợ bổ sung cho nhau trong việc chẩn đoán và phân loại dính
BTC. Chụp BTC chính xác hơn khi xác định diện tích bề mặt BTC bị dính
còn soi BTC chính xác hơn khi xác định loại tổn thương dính. Liên quan đến kỹ
thuật phẫu thuật soi BTC, có 2 phương pháp được đưa ra: dùng áp lực của đầu
đèn soi để tách dính hoặc cắt dính bằng kéo hay các dụng cụ điện hoặc lazer.
Phương pháp thứ nhất dễ, nhanh và đơn giản hơn nhưng kết quả không bền
vững, dễ làm với dính mới hoặc dính cũ nhưng ở ống CTC hay ở giữa BTC.
Phương pháp thứ 2 kỹ thuật phức tạp hơn nhưng kết quả bền vững hơn, được áp
dụng cho những trường hợp dính lâu ngày phức tạp, dính ở thành bên TC [29].
- Lấy dị vật trong BTC: đây là phương pháp tốt nhất để lấy dị vật trong
BTC vì có thể nhìn và xác định chính xác vị trí của dị vật.
- Cắt polype BTC: trước kia người ta lấy đi các polype BTC bằng cách
nạo mù BTC. Ngày nay soi BTC cho phép lấy đi các polyp và kiểm tra đốt
chân polype để làm giảm tỉ lệ tái phát [30], [31], [32], [33],[34].
- Cắt vách ngăn BTC: Về mặt lâm sàng, vách ngăn BTC làm giảm thể
tích BTC, hậu quả là dễ bị sảy thai, đẻ non. Trước kia khi phẫu thuật soi BTC
chưa phát triển, người ta chấp nhận các phẫu thuật cắt vách ngăn và tạo hình TC
qua đường bụng như phẫu thuật Jones, Strassman; ngày nay người ta có thể cắt
vách ngăn bằng kéo hoặc các dụng cụ điện qua soi BTC [35], [36], [37], [38].
- Quá sản nội mạc TC: khi điều trị nội khoa không kết quả với quá sản
nội mạc điển hình có thể cắt bỏ nội mạc TC qua soi BTC [39], [40], [41], [42],
[43]. Hoặc cắt TC với những tổn thương với những quá sản không điển hình
hoặc đã điều tri nhưng tổn thương có chiều hướng tiến triển nặng lên [44].
- U xơ TC dưới niêm mạc: soi BTC là một kỹ thuật chẩn đoán chính
xác hơn,cung cấp sự kiểm tra bằng mắt về bản chất của khối u,kích thước khối
13
u,vị trí khối u và cho phép quyết định là có lên cắt bỏ thương tổn bằng phẫu
thuật soi BTC hay không [45], [46], [47], [48].
1.3. Các phương pháp thăm dò buồng tử cung khác
1.3.1. Siêu âm
Siêu âm qua đường bụng: cần có bàng quang đầy tới đáy TC để tạo cửa sổ
âm và đẩy các quai ruột ra xa khỏi vị trí TC và hai phần phụ. Nếu bàng quang
không đủ nước tiểu sẽ không thấy rõ chi tiết các cơ quan trong vùng tiểu khung.
Nếu bàng quang quá căng sẽ đẩy các cơ quan ra xa khỏi vùng khảo sát tối ưu,
gây chèn ép và làm thay đổi hình dạng các cơ quan này [49].
Siêu âm qua đường âm đạo: được thực hiện trong những trường hợp:
người bệnh không thể nhịn tiểu được; thành bụng quá dày; khó khảo sát vì TC
gập sau; những khối u nằm sâu phía sau khung chậu; khi muốn đánh giá chi
tiết các phần cần khảo sát.
Hình ảnh TC trên siêu âm: gồm đáy, thân, eo và CTC. Ở mặt cắt dọc
thân TC có hình thuôn dài giống quả lê; ở mặt cắt ngang thân TC có hình bầu
dục, CTC hình tròn; ở mặt cắt trán thân TC có hình tam giác.
Kích thước TC thay đổi tuỳ theo tuổi, có con và chu kỳ kinh nguyệt.
Trước dậy thì: TC dài 1 - 3 cm, ngang 0,5 - 1 cm, tỷ lệ giữa cổ và thân TC là
2/1. Sau dậy thì, chưa sinh đẻ: TC dài 7 cm, ngang và dày 3 - 4 cm, tỷ lệ giữa
CTC và thân TC là 1/2. Người đã sinh đẻ: cộng thêm 1 - 2 cm cho mỗi chiều.
Người đã mãn kinh: TC dài 3,5 - 6,5 cm, ngang và dày 2 - 3 cm, tỷ lệ giữa cổ
và thân TC là 2/1.
Cấu trúc TC: TC có 3 lớp: ngoài cùng là lớp thanh mạc, kế đến là lớp cơ
TC chiếm khối lượng trọng yếu có phản âm đồng nhất và trong cùng là lớp
niêm mạc có tính chuyên biệt cao, chứa nhiều ống tuyến và mô liên kết có đáp
ứng thay đổi theo chu kỳ với các nội tiết tố của buồng trứng. Niêm mạc TC tiếp
nối với niêm mạc âm đạo qua kênh CTC và thông với ổ bụng qua niêm mạc
14
VTC. Các tĩnh mạch vòng cung đôi khi thấy rõ trong lớp cơ ở vị trí 1/3 ngoài.
Ở người mãn kinh, các mạch máu vòng cung teo đi và có hiện tượng đóng vôi
tạo thành những điểm sáng nằm dọc theo vị trí các mạch máu này [50].
Niêm mạc TC: nằm giữa lớp cơ TC và BTC, gồm hai lớp chính: lớp
nông hay lớp chức năng và lớp sâu hay lớp nền. Niêm mạc TC có bề dày và
cấu trúc thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn kinh nguyệt, tuỳ theo tuổi và có hay
không điều trị nội tiết thay thế ở giai đoạn mãn kinh. Trong giai đoạn phát
triển, niêm mạc TC có hình ảnh 3 đường phản âm sáng bao quanh phần giữa
phản âm kém hơn do các ống tuyến trong lớp chức năng còn thẳng vì ít chế
tiết. Niêm mạc TC ở giai đoạn này có bề dày khoảng 4 - 8 mm, tăng dần và
đạt tối đa khoảng 12 mm ở thời điểm rụng trứng. Sang giai đoạn chế tiết,
niêm mạc TC mềm và phù nề dưới tác dụng của progesteron, các tuyến niêm
mạc tăng tiết dịch giàu glycogene, các động mạch xoắn trở nên uốn khúc
nhiều hơn và lớp mô liên kết phù nề làm tăng mật độ phản âm của lớp chức
năng trở thành đồng nhất với lớp nền. Bề dày trung bình của niêm mạc TC
giai đoạn này khoảng 7 - 14 mm và có phản âm sáng đồng nhất. Nếu không
có thai, hoàng thể bắt đầu thoái hoá, niêm mạc TC sẽ bị hoại tử và bong ra tạo
hiện tượng kinh nguyệt. Ở giai đoạn này, lớp chức năng bị mất hoàn toàn và
chỉ còn lại lớp nền cùng một ít mô tuyến, bề dày 1 - 2 mm. Niêm mạc TC ở
giai đoạn kinh nguyệt có hình ảnh một đường mỏng phản âm sáng nằm giữa
TC. Người mãn kinh nếu không sử dụng nội tiết, niêm mạc TC teo mỏng chỉ
còn một đường sáng, bề dày tối đa 5 mm, được bao quanh bởi một vòng phản
âm kém mà trước đây vẫn tưởng là niêm mạc TC nhưng giải phẫu bệnh cho
thấy đây là lớp mao mạch nằm viền theo lớp cơ TC phía trong cùng; trong
trường hợp có sử dụng nội tiết thay thế, niêm mạc TC sẽ dày hơn. Niêm mạc
TC được đo ở mặt cắt dọc giữa thân TC, đo từ lớp nền một bên đến lớp nền
bên đối diện [51].
15
CTC là phần dưới của TC, có hình trụ hoặc hình nón và thành phần cấu
tạo chủ yếu là mô sợi. ống CTC là khoang ở giữa CTC, có hình thoi hơi phình
ra ở đoạn giữa, dài khoảng 2,5 - 3 cm và rộng 7 - 8 mm ở điểm lớn nhất.
Siêu âm đường âm đạo rất có giá trị trong đánh giá thành TC và niêm mạc
TC. Nó cung cấp những hình ảnh rất giá trị cũng như kích thước niêm mạc TC.
Nó cũng giá trị khi siêu âm thấy niêm mạc TC dày trên 4 mm ở người bệnh mãn
kinh, có giá trị sàng lọc người bệnh để soi BTC và nạo sinh thiết niêm mạc TC.
Siêu âm không có giá trị khi thấy niêm mạc TC dày ở người bệnh tiền mãn kinh
có ra máu bất thường.Siêu âm cũng rất có ý nghĩa trong việc nhận định các cấu
trúc TC bất thường như polype, u xơ, dị dạng TC, dị vật BTC. Siêu âm bơm
nước BTC có ý nghĩa để xác định vị trí, kích thước và chân polype hay u xơ TC
dưới niêm mạc, cung cấp những thông tin quan trọng trước phẫu thuật [52], [53].
1.3.2. Đo buồng tử cung: phát hiện bất thường ở TC (TC to, nhỏ, dị dạng,
dính CTC, dính BTC, ...) [54], [55].
1.3.3. Chụp X quang buồng tử cung - vòi tử cung
Chụp X quang TC - VTC là một kỹ thuật cận lâm sàng góp phần hữu
ích trong chẩn đoán bệnh ở TC và VTC, đặc biệt giá trị trong việc tìm nguyên
nhân vô sinh ở phụ nữ [56].
Chụp X quang TC - VTC là một kỹ thuật chụp có chuẩn bị, cần chọn
thời điểm chụp tốt nhất là sau sạch kinh từ 3 đến 6 ngày, cần tư vấn cho người
bệnh kỹ trước khi chụp, cần khám phụ khoa để đảm bảo không có viêm
nhiễm phụ khoa khi chụp, người bệnh cần được thụt tháo, làm thuốc âm đạo
và tiêm bắp atropin sulfat trước khi chụp.
1.3.3.1. Chỉ định và chống chỉ định
* Chỉ định
- Vô sinh.
16
- Tìm vị trí vòng tránh thai.
- Rong kinh rong huyết không do nguyên nhân nội tiết.
- Khác: u xơ TC, u nang buồng trứng, ung thư niêm mạc TC.
* Chống chỉ định
- Có thai hoặc nghi có thai.
- Nghi có viêm phần phụ cấp.
- Ứ nước VTC.
- Tiền sử dị ứng với iod [56].
1.3.3.2. Hình ảnh X quang tử cung và vòi tử cung của bệnh nhân vô sinh
* Hình ảnh bình thường
- TC bơm đầy thuốc chụp ở tư thế trước sau có hình tam giác với kích
thước đáy TC trung bình 3 - 4 cm, chiều cao TC từ lỗ trong tới đáy trung bình
4 cm [57].
- Hai VTC mềm mại, thấy được 3 đoạn: đoạn kẽ, đoạn eo-bóng và đoạn
loa. Đoạn eo trung bình 0,7 mm. Một số phim còn thấy co thắt VTC ở đầu
đoạn kẽ [58], [59].
* Hình ảnh bệnh lý
- U xơ TC: thường BTC dãn rộng hơn bình thường
+ U xơ dưới phúc mạc; làm thay đổi hình dạng TC, không còn hình tam giác.
+ U xơ dưới niêm mạc: hình khuyết chiếm chỗ trong BTC, thường hình
khuyết nhẵn [60].
- Polyp BTC: thường là hình khuyết nhỏ ở eo hay thân TC, bờ tròn
nhẵn, trường hợp polyp to dễ nhầm với u xơ TC dưới niêm mạc [61].
17
- Quá sản niêm mạc TC: BTC hơi dãn, ngấm thuốc không đều, bờ TC
lồi lõm.
- Lạc nội mạc TC ở cơ TC: BTC kích thước bình thường, bờ vẫn nhẵn
đều, có hình túi thừa ở phần lớp cơ thông với BTC. Lạc nội mạc TC ở VTC thì
ta thấy túi thừa ở VTC hoặc hình rễ cây bị cắt cụt mọc từ VTC ra xung quanh
một hoặc nhiều chỗ.
- Lao TC - VTC: BTC nhỏ hẹp viêm dính; VTC cứng, gẫy khúc hoặc
có hình chuỗi hạt [62].
- TC dị dạng: vách ngăn BTC; TC hai sừng có hình đáy lõm như đáy
chén hoặc hình chữ Y nếu hai sừng dài; TC đôi (hai thân và một CTC) có hình
giống như hai cái lá chung một cuống; hai TC (hai thân và hai CTC) khi bơm
thuốc vào cả 2 ống CTC với hai đầu cần riêng biệt thì sẽ hiện lên hai BTC như
hai lá cây với hai cuống lá riêng biệt [63].
- Ung thư niêm mạc TC: khi thấy hình ảnh điển hình của ung thư niêm
mạc TC trên phim X quang là bệnh đã ở giai đoạn ung thư xâm lấn. Trên
phim thấy BTC dãn rộng hơn bình thường, bờ TC nham nhở, đôi khi thuốc
cản quang lan vào mạch máu [64].
- Viêm tắc, ứ nước VTC: VTC cứng, tắc ở đoạn gần hoặc xa. Nghiệm
pháp Cotte dương tính nghĩa là thuốc cản quang đã qua đựơc loa VTC vào ổ
bụng. Nghiệm pháp Cotte âm tính chứng tỏ VTC tắc, không thấy thuốc lan
toả vào tiểu khung. Khi VTC ứ nước thì trên phim Cotte thấy ở tiểu khung có
những đám đọng thuốc tương ứng với vị trí VTC [65].
1.4. Một số nghiên cứu về soi buồng tử cung
- Đặng Thị Minh Nguyệt (2006) với nghiên cứu “soi BTC để chẩn đoán
các bất thường trong BTC” đã tiến hành nghiên cứu trên 225 bệnh nhân thấy
18
soi BTC có thể phát hiện được tổn thương(10%) mà chụp XQ BTC không phát
hiện được và không cần chụp XQ BTC khi có chỉ định soi BTC ở bệnh nhân có
ra máu bất thường. Soi BTC cũng là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán dính và
vách ngăn TC. Phương pháp này có ít biến chứng và không nguy hiểm.
- Năm 1994, Barbot và Parent báo cáo đã điều trị cho 825 người bệnh bị
u xơ TC dưới niêm mạc, trong đó lấy được hết hoàn toàn khối u chiếm 62%,
còn 38% chỉ lấy được một phần khối u. Những trường hợp không lấy được hết
là do u to và không có cuống. Có 3 trường hợp bị thủng TC. Trong số các
trường hợp không lấy được hết khối u, có 38 trường hợp bị chảy máu liên tục
sau phẫu thuật, kết quả là phải mổ lại để lấy khối u hoặc cắt TC [66].
- Năm 2001, Grigoris F. Grimbizis và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu
về kết quả điều trị bằng soi BTC cho những người bệnh bị dị dạng TC, kết
quả cho thấy TC có vách ngăn là dị dạng gặp phổ biến nhất- chiếm khoảng
35% các dị dạng TC. Những trường hợp dị dạng TC không được điều trị thì tỷ
lệ đẻ con đủ tháng chỉ là 50% và nhiều biến chứng sản khoa xảy ra. Phẫu
thuật soi BTC cắt vách ngăn đã giúp tái tạo khả năng sinh sản của TC, làm
tăng tỷ lệ đẻ con đủ tháng lên 75%, tăng tỷ lệ trẻ sinh ra sống lên 85% [67].
- Năm 2004, Rudi Campo1và cộng sự tiến hành nghiên cứu ở khoa Phụ
Sản bệnh viện Sint Jan, Bỉ và trường Đại học Monash, Úc đánh giá lý do của
sự bất tiện khi soi BTC chẩn đoán. Một nghiên cứu mù ba để đánh giá tác
động của kích thước dụng cụ nội soi, sự đồng nhất các người bệnh với kinh
nghiệm của phẫu thuật viên đến việc chịu đau của người bệnh với tỉ lệ thành
công của quy trình. Người bệnh được phân bổ ngẫu nhiên vào hai nhóm dùng
đèn soi cổ điển đường kính 5.0 mm với nhóm dùng đèn soi đường kính 3.5 mm.
Đối tượng nghiên cứu tiếp tục được phân tầng vào các nhóm tuỳ thuộc vào sự
đồng nhất các người bệnh và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Đánh giá mức độ
19
đau của người bệnh cho điểm từ 0 đến 10, đánh giá chất lượng hình ảnh soi BTC
cho điểm từ 0 đến 3 và có ghi lại các biến chứng. Đánh giá là thành công nếu
điểm đau dưới 4, điểm chất lượng hình ảnh trên 1 và không có biến chứng xảy
ra. Kết quả là soi BTC với đèn soi nhỏ đỡ đau hơn, chất lượng hình ảnh tốt hơn
và tỉ lệ thành công cao hơn (với p < 0,0001) ở những người bệnh đã đẻ đường
âm đạo và phẫu thuật viên có kinh nghiệm. Ảnh hưởng của sự đồng nhất các
người bệnh và kinh nghiệm của phẫu thuật viên không quan trọng bằng việc sử
dụng đèn soi cỡ nhỏ [68].
- Năm 2004, R.Salim và cộng sự ở khoa Phụ Sản thuộc bệnh viện Đại
học Hoàng Gia Luân Đôn tiến hành một nghiên cứu so sánh chẩn đoán và
phân loại u xơ TC dưới niêm mạc của phương pháp siêu âm bơm nước BTC
và soi BTC chẩn đoán. Đó là một nghiên cứu tiến cứu mù đôi tiến hành trên
49 người bệnh có tiền sử rong huyết, được siêu âm hai chiều chẩn đoán là có
u xơ TC dưới niêm mạc. Những người bệnh này được làm lại siêu âm ba
chiều có bơm nước BTC và phân loại u xơ theo tiêu chuẩn của Hiệp hội châu
Âu về phân loại u xơ TC. Kết quả được so sánh với soi BTC chẩn đoán. Kết
luận là soi BTC khẳng định được u xơ TC dưới niêm mạc của tất cả 61 trường
hợp, sự nhất trí về chẩn đoán giữa phương pháp siêu âm 3D bơm nước BTC
và soi BTC là 11/12 trường hợp u xơ loại 0 (92%), 34/37 (92%) trường hợp u
xơ loại I và 9/12 (75%) trường hợp u xơ loại II; giá trị kappa là 0,8 - tức là có
sự nhất trí cao giữa hai phương pháp chẩn đoán [69].
20
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những phụ nữ đi khám vô sinh được xác định là vô sinh do BTC
hoặc vô sinh không rõ nguyên nhân được nhập điều trị tại khoa điều trị theo
yêu cầu bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 03/2013 đến tháng 08/2013.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Vô sinh không rõ nguyên nhân.
- XQ hoặc siêu âm có hình ảnh tổn thương BTC.
- Những bệnh nhân làm IUI hoặc IVF thất bại nhiều lần.
- Đồng ý tham gia nguyên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Tất cả những bệnh nhân soi BTC không liên quan vô sinh.
- Những bệnh nhân mắc các bệnh có chống chỉ định soi BTC: mắc
bệnh tim phổi, bệnh lý ác tính ở CTC, viêm nhiễm đường sinh dục.
- Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
21
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến cứu mô tả
Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám vì vô sinh
XQ có hình ảnh
tổn thương BTC
- Vô sinh chưa rõ nguyên nhân
SA có hình ảnh tổn thương BTC
- BN sinh
làm IUIkhông
hoặc IVFrõ
thất
bại nhiềunhân
lần
- Vô
nguyên
- Người bệnh đã làm IUI hoặc IVF
nhiều lần thất bại
Soi BTC
Chẩn đoán
Xử trí
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu theo ý kiến Hội đồng thông qua đề cương: lấy cỡ
mẫu thuận tiện trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2013.
2.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán
2.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán mô bệnh học
- Là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các bệnh lý BTC.
- Chẩn đoán mô bệnh học các bệnh phẩm sinh thiết theo tiêu chuẩn
phân loại của Khoa Giải phẫu bệnh lý bệnh viện Phụ sản Trung ương.
22
2.3.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh trên soi buồng tử cung
* Hình ảnh bình thường
+ Ống CTC: ống CTC có những nếp hình quạt, mở ra những rãnh, tất
cả được phủ bởi lớp tế bào tuyến mỏng, hồng, vây quanh là hệ mạch.
+ Buồng TC: hình ảnh của niêm mạc TC thay đổi theo chu kỳ kinh
nguyệt và tình trạng nội tiết của người phụ nữ. Soi BTC đánh giá được sự
sung huyết, phân bố mao mạch, hình ảnh nhẫn hay dầy của niêm mạc TC.
+ Lỗ VTC: quan sát tốt nhất khi làm căng BTC bằng CO2 khi hai sừng
TC không ở sâu quá và niêm mạc TC không dầy. Độ mở của lỗ phụ thuộc vào
áp lực căng BTC. Khi lỗ hé mở, có thể nhìn thấy phần gốc của lòng VTC.
Một nếp niêm mạc hình nhẫn hoặc bán nguyệt bao quanh VTC.
* Hình ảnh bệnh lý BTC
+ Viêm niêm mạc TC: niêm mạc TC có thể bị phá hủy hoàn toàn, hiện
tượng viêm sẽ lan tới cơ TC nhất là ở phụ nữ mãn kinh. Niêm mạc TC sung
huyết, phù nề đỏ sẫm, có những điểm xuất huyết.
+ U xơ TC dưới niêm mạc: là một khối tròn lồi vào trong BTC, niêm
mạc phủ thường là thiểu sản, sáng hơn niêm mạc TC. Các mạch máu ở bề
mặt có thể chảy máu, nhưng biến mất khi áp lực của môi trường tăng hoặc
tiếp xúc với máy soi.
+ Polyp niêm mạc TC: polype cơ năng, thường có kích thước nhỏ,
cuống ngắn và thường khá mềm, màu sắc và các mạch máu giống như là niêm
mạc xung quanh. Polyp thực thể có thể đạt tới kích thước lớn và cuống dài, bị
ép giữa các thành của TC, màu vàng đỏ và thường bị hoại tử, áp lực của CO2
làm nó dính vào thành TC, rất di động lên đầu ống kính soi khó thăm dò mật
độ của nó
+ Quá sản niêm mạc TC
23
- Quá sản đơn thuần: niêm mạc TC dày, có thể tới 20 – 30 mm, bề mặt
nhẵn và lấp lánh đôi khi mấp mô màu hồng nhạt, các mạch máu niêm mạc dễ
bị vụn ra khi tiếp xác với ống soi, nói chung có thể nghi ngờ khi nhìn thấy
hình ảnh niêm mạc không tương ứng với thời điểm trong vòng kinh hoặc khi
ấn đèn soi lên bề mặt niêm mạc thì thấy có rãnh sâu trên 2 mm, chứng tỏ có
quá sản.
- Quá sản dạng polyp: chẩn đoán dễ vì có đặc tính điển hình như niêm
mạc có dạng polype, màu sắc, mật độ của các mạch máu biểu hiện một niêm
mạc tăng sinh kéo dài.
- Quá sản tuyến nang: biểu hiện sự phát triển loạn sản của niêm mạc.
Các tuyến nang có dạng túi màu phớt xanh và trong suốt, chúng phủ dày bề
mặt niêm mạc.
+ Dính BTC: dính xuất hiện như một cái cột có độ dày khác nhau, nối
hai mặt BTC. Phần đáy rộng hơn ở giữa, hình ảnh giống như đụn cát, trục của
dính có thể là trước hoặc sau màu sắc ánh trắng so với phần còn lại của cơ TC,
nhưng các mạch máu tưới không rõ. Nếu dính nhiều và trải rộng sẽ thấy một
loạt các cột có thể dính một phần vào nhau, đôi khi tạo thành một mạng mà
trong đó có các lỗ mở. Hình ảnh này không thể nhầm với đáy TC hay lỗ VTC.
+ Vách ngăn BTC: Soi BTC xác định được mức độ của vách ngăn là
hoàn toàn, một phần hoặc xác định độ dày của vách ngăn; mức độ thiểu sản
TC; sự có mặt của các tổn thương phối hợp.
2.3.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh trên siêu âm
* U phát triển trong cơ TC
- Khối âm vang đậm, có bờ thưa âm vang hơn tổ chức cơ.
- TC to hơn bình thường và thay đổi hình dạng, có chỗ lồi lên.
24
- Đường âm vang niêm mạc TC cong vòng do khối u phát triển làm
biến dạng.
* U dưới niêm mạc TC
- TC to, vùng âm vang đậm âm ở trong buồng TC có ranh giới rõ.
- Vùng âm vang không đều, đoạn dưới TC phình to, trong trường hợp
khối u có cuống phát triển xuống phía dưới.
* Khối u ở CTC
Phần ống cổ TC to lên, bàng quang bị đẩy lên phía trên, âm vang u ở
CTC khối u ở thân TC.
* Quá sản niêm mạc TC
- Vùng âm vang mạnh đồng nhất, bờ đều nhẵn trong BTC có độ dày
trên 12 mm.
- Có thể có những vùng âm vang thưa hay không có âm vang của tổ
chức chảy máu hoặc hoại tử khu trú, hình ảnh này ít gặp thường do viêm nội
mạc TC kết hợp, vì vậy chẩn đoán siêu âm dễ nhầm với viêm niêm mạc TC.
* Polype niêm mạc TC
- Là hiện tượng tăng sinh khu trú của lớp niêm mạc TC và có phản âm
ánh sáng đồng nhất trên siêu âm.
- Ở nửa đầu của chu kỳ kinh nguyệt, có sự khác biệt rõ giữa polype với
phần niêm mạc kế cận thường rất mỏng và có phản âm kém.
- Ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt, toàn bộ niêm mạc TC dày lên và có
phản âm sáng. Siêu âm bơm nước BTC sẽ giúp cho polyp được dễ dàng phát
hiện hơn.
25
2.3.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh trên X quang buồng tử cung
* Hình ảnh bình thường
- Ống cổ TC: hình thoi hay quả ô liu, có bờ khía.
- Eo TC: phần thu hẹp dài từ 10mm đến15mm.
- Buồng TC: hình tam giác khi nhìn thẳng,mỗi cạnh khoảng 5 cm.Nhìn
nghiêng ,nó có hình quả lê và thường gấp về phía trước đối với ống CTC.
* Các hình ảnh bệnh lý
- Các dị dạng bẩm sinh: sự tồn tại của vách giữa một phần hay hoàn
toàn, của một hay hai buồng TC, của một hay hai cổ TC cho phép xếp thành
các loại TC có vách hoàn toàn hoặc một phần, TC hai sừng hai cổ, hai sừng
một cổ.
- Polyp niêm mạc TC: chúng thường có dạng một hình khuyết tròn đều,
có cuống và không ảnh hưởng đến buồng TC.
- Các u xơ dưới niêm mạc TC: không cuống hoặc có cuống, cho các
hình khuyết đều, tròn trong buồng TC.
- Viêm niêm mạc TC: biểu hiện điện quang của chúng không điển hình.
Bờ của buồng TC thì có gai và rải rác những hình khuyết nhỏ. Các tổn thương
VTC thường phối hợp.
- Quá sản niêm mạc TC: các đường bờ của buồng TC hình gợn sóng,
hình răng cưa, thường lan tỏa. Trong các thể tiến triển, người ta thấy nhiều
hình khuyết của bờ.
- Dính BTC: dính cho thấy các hình khuyết, dạng hình dọc, do các vùng
dính niêm mạc trước và sau, thứ phát sau nhiễm khuẩn, chấn thương.
2.4. Kỹ thuật áp dụng
- Dùng ống soi cứng của hãng Karl - Storz với dụng cụ dùng cho soi
BTC phẫu thuật, kích thước của bao soi là 7 mm. Do đó phải nong CTC với
mọi bệnh nhân.