Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI THIỂU TẠI TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.11 MB, 90 trang )

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ
TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI
THIỂU TẠI TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN
NÚI PHÍA BẮC

Hoàng Cầm
Ngô Thị Phương Lan
Hoàng Anh Dũng
Vũ Thành Long

Nguyễn Văn Giáp

Hà Nội, 2017




CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI THIỂU TẠI
TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Hoàng Cầm
Ngô Thị Phương Lan
Hoàng Anh Dũng
Vũ Thành Long
Nguyễn Văn Giáp

Hà Nội, 2017


LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn các cá nhân và cơ quan quản lý


của huyện Lâm Hà và huyện Lăk ở khu vực Tây Nguyên ; huyện Võ Nhai và
Mai Sơn ở khu vực phía Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành nghiên cứu
này. Xin gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học về những nhận xét quý báu trong
quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện báo cáo. Đặc biệt xin tri ân người dân
địa phương ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, Thái Nguyên và Sơn La những người đã sẵn
lòng chia sẻ với nhóm nghiên cứu các quan điểm và suy nghĩ về những vấn đề
liên quan đến hiện trạng sinh kế và vấn đề nợ thông qua các cuộc phỏng vấn sâu
và trả lời bảng hỏi.
Kinh phí để thực hiện nghiên cứu này do tổ chức Oxfarm Anh tài trợ
thông qua Liên minh Nông nghiệp. Tuy nhiên, các diễn giải, nhận định và các
hạn chế của báo cáo thuộc về trách nhiệm của nhóm nghiên cứu.
Các ý kiến góp ý về bản báo cáo xin gửi đến cho nhóm nghiên cứu theo
địa chỉ: Hoàng Cầm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt nam 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (E-mail:
).

2


MỤC LỤC
I. DẪN LUẬN ......................................................................................................................................................... 4
II. Hành vi sinh kế của người nông dân: Lựa chọn duy lý VS. kinh tế duy tình .................................. 8
III. PHƯƠNG PHÁP LUẬN ............................................................................................................................ 13
3.1. Nghiên cứu định tính ............................................................................................................................. 13
3.2. Khảo sát định lượng ............................................................................................................................... 14
3.3. Phân tích tài liệu văn bản...................................................................................................................... 15
3.4. Tham vấn chuyên gia ............................................................................................................................. 15
3.5. Hạn chế của nghiên cứu ........................................................................................................................ 15
IV. BỐI CẢNH HOÁ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 16
4.1. Con người và không gian sinh tồn ..................................................................................................... 16

4.2. Sinh kế cổ truyền ở các tộc người thiểu số: nền kinh tế duy tình ............................................. 21
5.3. Chuyển đổi sinh kế ............................................................................................................................ 28
5.3.1. Chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp .................................................................................. 29
5.3.2. Tính hiện đại và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng........................................................... 43
VI. TÍN DỤNG Ở CÁC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
CÁC HỆ QUẢ ...................................................................................................................................................... 45
6.1. Tín dụng ở Tây Nguyên ................................................................................................................... 45
6.2. Tín dụng ở Thái Nguyên và Sơn La ............................................................................................. 57
6.3. Chiến lược ứng phó và các hệ quả ................................................................................................ 70
6.4 Nguyên nhân của sự khác biệt về hiện tượng nợ ................................................................. 75
VII. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................................................................ 76
7.1. Kết luận...................................................................................................................................................... 76
7.2. Khuyến nghị ............................................................................................................................................. 78
VIII. Tài liệu tham khảo .................................................................................................................................... 84

3


I. DẪN LUẬN
Từ sau Đổi mới 1986 đến nay, sinh kế của các tộc người thiểu số ở nhiều vùng trong cả
nước đã được dần chuyển mô hình sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất nông sản
hàng hoá theo kinh tế thị trường với quy mô lớn và khá toàn diện. Trong diễn ngôn phát triển
mới của nhà nước, được đẩy mạnh từ sau đổi mới 1986, việc chuyển đổi sang thực hành mô hình
sinh kế mới theo hướng phát triển nông sản hàng hoá được coi là bước phát triển tất yếu để
“thoát nghèo và làm giàu”. Chính vì vậy, các cơ quan hữu quan của chính phủ chính quyền ở
cấp địa phương lẫn bản thân người dân ở các vùng miền đã đầu từ cả nguồn lực vật chất và tinh
thần để thúc đẩy sự chuyển đổi này. Sự chuyển đổi đã làm cho một số vùng miền và một hộ gia
đình đạt được những bước phát triển mới về kinh tế. Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới được
thực hiện ở vùng các tộc người thiểu số khác, chẳng hạn như ở vùng các tộc người thiểu số tại
chỗ Tây Nguyên (Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014, Hoàng Cầm và các cộng sự 2015), đã chỉ ra

rằng, sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp tự túc tự cấp sang mô hình sản xuất nông sản
hàng hoá cũng tạo ra nhiều thách thức hệ quả kinh tế, văn hoá và xã hội tiêu cực cho nhiều cộng
đồng. Vượt qua phạm vi của Việt Nam, những hệ quả không mong đợi của sự chuyển đổi cũng
diễn ra ở nhiều vùng miền núi ở các nước khác, chẳng hạn như ở Indonesia như được phân tích
trong một công trình mới đây của Li Tania (2014) hay ở Thái Lan (Yos 2004).
Để hiểu rõ hơn vấn đề chuyển đổi sinh kế và các hệ quả kinh tế- xã hội trong vùng các
tộc người thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu sự
chuyển đổi sinh kế và vấn đề nợ ở các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và phía Bắc. Đây là hai
khu vực địa lý tập trung đông các dân tộc thiểu số của Việt Nam. Qua báo chí và qua mạng lưới
nghiên cứu, chúng tôi chọn huyện Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng, huyện Lắk của tỉnh Đăk Lăk,
huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên, huyện Mai Sơn của tỉnh Sơn La. Các địa điểm nay được
cho là điểm sáng cho việc trồng các loại nông sản hàng hóa, chủ yếu là cây cà phê và ngô lai.
Các loại cây này được cho là cây “thoát nghèo” của các hộ dân tộc thiểu số ở vùng miền núi này.
Điểm chung của 4 cộng đồng này là họ đều tham gia mạnh mẽ vào quá trình sản xuất cùng một
loại cây nông nghiệp hàng hóa (ngô lai và cà phê) ở các cộng đồng này cũng có hiện tượng vay
nợ trong sản xuất.
Câu chuyện về vấn đề chuyển đổi sinh kế và nợ ở khu vực Tây Nguyên tạo cho chúng tôi
ấn tượng hết sức mạnh mẽ và sâu sắc về hiện trạng sản xuất hàng hóa. Như thường lệ, vào
khoảng 8 giờ sáng của một ngày nắng nóng trong đợt điền dã để thực hiện nghiên cứu mà bạn
đọc đang có trên tay, chúng tôi, nhóm nghiên cứu gồm 4 người, lại có mặt ở buôn Biết,1 địa bàn
cư trú lâu đời của người Mnông Rơ Lăm thuộc huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk, cách trung tâm huyện
lỵ khoảng 8 km, để hỏi chuyện, phỏng vấn và điều tra định lượng về các thực hành sinh kế của
người dân. Hiện lên trên con đường dẫn vào buôn đang được hiện đại hoá song còn dang dở từ 2
năm trước, với mặt đường lô nhô gồm những cục đá to cấp phối, chỉ có thể đi bộ hay xe công
nông, là hình ảnh một nhóm khoảng 7-8 người gồm cả phụ nữ và nam giới, thuộc nhiều lứa tuổi
khác nhau, đang trèo lên một chiếc xe công nông cải tiến để đi đổi công gieo ngô cho một gia
đình có rẫy cách buôn khoảng 8-9 km. Trải dài hai bên đường là những ngôi nhà sàn có kiến trúc
1

Tuân thủ nguyên tắc ẩn danh để bảo vệ quyền của người cấp tin trong nghiên cứu định tính, trong báo cáo này,

chúng tôi không sử dụng tên thật của các thông tín viên mà chúng tôi phỏng vấn cũng như tên thật của hai buôn
chúng tôi nghiên cứu.

4


truyền thống nhưng được làm chủ yếu bằng các loại nguyên vật liệu hiện đại, trông khá khang
trang, vững chãi. Ở gần ngay đầu con đường chính dẫn vào buôn, ngay cạnh nhà bác trưởng
buôn, hiện hữu một ngôi nhà nguyện Tin Lành, mới được khánh thành trước đó vài ngày, do
người dân tự đóng góp, có quy mô khá to trong một khuân viên lớn với nhiều cây cối. Cách ngôi
nhà nguyện khoảng 500 mét, ở gần cuối con đường, thấp thoáng một vài đàn bò, mỗi đàn
khoảng 3-4 con, đang cùng chủ nhân, là những học sinh đang nghỉ hè và những người phụ nữ lớn
tuổi với cái túi vải hay gùi đeo trên lưng, cùng tung tăng đi ra cánh đồng phía chân núi nằm ở
cuối làng. Xa hơn nữa trên các sườn núi là các mảng màu xanh lớn nơi các rẫy ngô của các hộ
gia đình đang bắt đầu trong thời kỳ phát triển. Những hình ảnh này, nhìn từ bên ngoài, cùng với
con số về tỉ lệ hộ nghèo khá thấp của buôn mà bác trưởng buôn cung cấp trước đó, gợi lên cho
những người mới đến như nhóm nghiên cứu chúng tôi về một buôn khá trù phú và có nhiều thay
đổi lớn, khác với hình ảnh của nhiều buôn làng người thiểu số miền núi được mô tả trong các
công trình dân tộc học trước đây và chuyển tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông trong
những năm vừa qua.
Theo chỉ dẫn của một người dân gặp trên đường, chúng tôi tìm đến nhà chị Ten, một phụ
nữ 28 tuổi, mới được bầu làm cán bộ phụ nữ buôn khoảng 3-4 tháng trước. Thấy khách đến, Ten
bỏ vội công việc gieo ngô ngay tại vườn nhà, công việc mà, sau khi nói chuyện chúng tôi biết,
được chị và các thành viên khác trong gia đình bắt đầu làm từ lúc 6 giờ sáng. Ấn tượng lớn Ten
để lại cho chúng tôi sau khoảng 2 tiếng trò chuyện, như chúng tôi đã ghi ngay vào sổ tay điền dã
sau khi dời ngôi nhà, là một người giỏi tiếng phổ thông, năng động, hoạt bát, bộc lộ khả năng
tính toán tốt, nhớ khá rõ và chi tiết các khoản chi tiêu và nợ của gia đình mà không cần phải giở
sổ ghi chép. Việc giỏi tiếng phổ thông, khả năng tính toán nhanh và nhớ rõ các con số của Ten,
có lẽ, xuất phát từ thực tế là, so với nhiều người dân khác trong buôn, Ten, có thể nói, là một
người “có trình độ dân trí” cao vì Ten đã tốt nghiệp lớp 10, sau đó ra Hà Nội học một năm sơ cấp

ở một trường dược. Giống như Ten, chồng Ten là một trong số không nhiều thanh niên trong
buôn đã tốt nghiệp trung học cơ sở.
Thông tin từ các cuộc phỏng vấn tại buôn Biết trước đó cũng như theo trải nghiệm cá
nhân của Ten,2 người hiện đang đảm trách công việc quản lý nguồn nợ vay từ ngân hàng chính
sách của các hộ trong buôn, cung cấp một bức tranh hoàn toàn đối ngược với số liệu chính thức
về tỉ lệ hộ nghèo thấp và với hình ảnh khá trù phú nhìn từ bên ngoài. Hiện nay, người dân buôn
Biết đang phải đối mặt với hiện trạng sinh kế, có thể nói, rất bi quan, đặc biệt là vấn đề nợ xấu.
Nợ, đi kèm là tỉ lệ lãi suất cao (một thuật ngữ chỉ mới xuất hiện gần đây trong từ vựng của người
Mơ Nông ở trong vùng), chính vì vậy, theo Ten, trở thành chủ đề nóng nhất mà các chị em phụ
nữ của buôn bàn luận trong các buổi tụ tập ở nhà nguyện Tin Lành vào mỗi sáng chủ nhật hàng
tuần trong nhiều năm qua. Ten cho biết, chưa tính khoản tiền nợ của bố mẹ đang ở cùng, vào thời
điểm chúng tôi phỏng vấn, bản thân hai vợ chồng chị đang phải gánh khoản nợ với tổng số tiền
khoảng 50 triệu đồng chưa tính tiền lãi. 30 triệu trong số này là khoản nợ từ người thân và ngân
hàng chính sách, với lãi suất khoảng 6 % một năm. 20 triệu còn lại là tiền vay gốc từ năm 2009
từ một chủ nợ người Kinh sống ở đầu buôn với lãi suất gần 60% một năm. Tuy có diện tích đất
trồng trọt khá lớn, song đã vài tháng nay, cả gia đình chị với 4 thành viên ít khi có những bữa
cơm được cải thiện bằng cá, hay thịt mà phải thường xuyên chỉ ăn cơm với muối hay rau rừng
trừ bữa. Thậm chí, vào những khoảng thời gian không có lao động làm thuê, các thành viên trong
gia đình thường phải ra đồng nhặt phân bò đem bán để đong từng lon gạo ăn cho qua ngày. Khi
Tuân thủ nguyên tắc ẩn danh để bảo vệ quyền của người cấp tin trong nghiên cứu định tính, trong báo cáo này,
chúng tôi không sử dụng tên thật của các thông tín viên mà chúng tôi phỏng vấn cũng như tên thật của hai buôn
chúng tôi nghiên cứu.
2

5


được hỏi đến khi nào hai vợ chồng tính sẽ trả hết các khoản nợ, chị, giống như nhiều người khác
ở cả buôn Biết, chỉ cười trừ kèm theo những cái lắc đầu khá tuyệt vọng. Tuy nhiên, Ten khẳng
định gia đình chị vẫn sẽ tiếp tục phải vay nếu có thể vay được, cho dù đó là các khoản vay với lãi

suất có thể nói là cao “cắt cổ”, ngoài sức tưởng tượng của nhóm nghiên cứu. Cuộc nói chuyện
cho thấy, Ten nợ rất nhiều và dự định vẫn sẽ tiếp tục vay nợ, hay nói cách khác, gia đình chị ở
vào tình trạng “nợ mà không sợ”.
Các thách thức về kế mưu sinh, đặc biệt là vấn đề nợ với lãi suất cao, của gia đình chị
Ten không phải cá biệt. Tuy không có tài liệu thống kê chính thức về hiện trạng nợ từ các cơ
quan chức năng ở địa phương, cũng như không thể tiếp cận được với sổ ghi nợ của các “con
buôn” ở đầu làng, song hầu hết tất cả các hộ gia đình mà chúng tôi phỏng vấn đều khẳng định
rằng, số gia đình ở buôn Biết, thậm chí là toàn xã Yang Tao của huyện Lăk không phải vay nợ
với số lượng lớn và xấu như gia đình nhà Ten chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hiện trạng nợ lớn và nợ
xấu như vậy cũng phổ biến hầu hết các gia đình ở buôn Ban, một thôn buôn của người Cơ Ho và
người Mạ, nằm cách xa buôn Biết khoảng 150 km, thuộc một huyện của tỉnh Lâm Đồng, mà
chúng tôi chọn làm điểm nghiên cứu để so sánh. Rộng hơn nữa, theo một nghiên cứu mới hoàn
thành của Lê Hồng Lý và các cộng sự (2014), vấn đề nợ với lãi suất cao cũng phổ biến ở hầu
hết các buôn làng người dân tộc thiểu số tại chỗ của 5 tỉnh Tây Nguyên.3
Nhiều nghiên cứu dân tộc học, văn hoá học và sử học đã chỉ ra rằng, trong lịch sử của các
cộng đồng buôn làng ở Tây Nguyên, vấn đề vay/ nợ không phải là một hiện tượng mới mẻ trong
đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá của các tộc người thiểu số tại chỗ ở địa bàn (Bùi Minh Đạo
2011, Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014). Tuy nhiên, tính chất và mức độ vay nợ, đặc biệt là việc
sẵn sàng vay các khoản nợ với lãi suất rất cao, của hầu hết tất cả các gia đình như trường hợp của
vợ chồng Ten và hàng nghìn hộ gia đình tộc người thiểu số tại chỗ khác, có thể nói, là hiện tượng
mới chỉ diễn ra khoảng chục năm gần đây. Thú vị hơn, nếu so sánh hành vi kinh tế đầy rủi ro này
với triết lý sinh kế truyền thống của người nông dân Tây Nguyên nói riêng và ở châu Á nói
chung như Jame Scott (1976) đã chỉ ra thì đây là điều khá “bất thường”. Bởi vì, theo Jame Scott
trong cuốn sách nổi tiếng The Moral Economy of the Peasants [Nền kinh tế duy tình của người
nông dân], người nông dân, dù là nhóm tộc người nào, dù sinh sống ở miền núi hay đồng bằng,
những người sống cận kề ở ngưỡng sinh tồn, đều tuân thủ nguyên lý “an toàn là trên hết” (safety
first) trong hoạt động sinh kế của gia đình và cộng đồng. Theo đó, người nông dân luôn có xu
hướng tìm cách tránh bất cứ hành vi nào, chẳng hạn như du nhập giống cây mới có giá trị kinh tế
cao hay vay nợ với lãi suất để sản xuất cao, những hành vi có thể tạo ra sự rủi ro về an ninh
lương thực, đẩy tình trạng kinh tế của gia đình xuống dưới ngưỡng sinh tồn.

Các cuộc phỏng vấn sâu và điều tra hộ cho thấy, hiện tượng vay nợ nói riêng và sự khó
khăn về kinh tế nói chung ở buôn Biết và các buôn khác mà chúng tôi nghiên cứu không thể giải
thích như là hệ quả trực tiếp của việc “không biết tính toán làm ăn”, “lười biếng” bởi nhiều
người có khả năng tính toán tốt, có sức khoẻ và chăm chỉ trong lao động sản xuất, ví dụ như
trường hợp của vợ chồng Ten, vẫn phải gánh một khoản nợ khá lớn. Vấn đề nợ ở đây cũng
Gần đây, hiện trạng nợ xấu và sự phổ biến của vấn đề này ở vùng các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên cũng
đã được một số báo phản ánh, chẳng hạn như: /> /> /> (báo giấy)
3

6


không thể là hệ quả trực tiếp của các thực hành văn hoá “gây lãng phí”, bởi 97% số hộ dân ở
buôn Biết đều theo đạo Tin Lành và vì vậy việc uống rượu, hút thuốc hay các thực hành văn hoá
tín ngưỡng đòi hỏi cần những chi phí lớn về tiền bạc hầu như bị cấm.
Tư liệu thực địa, bao gồm các phỏng vấn sâu và điều tra định lượng cho thấy, khác với
Tây Nguyên, vấn đề nợ, đặc biệt là nợ xấu không ở vào hiện trạng trầm trọng. Thêm vào đó, tỉ lệ
nợ xấu, nợ không có khả năng chi trả ở Thái Nguyên và Sơn La cũng khác nhau. Trong báo cáo
này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày và phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này.
Chúng tôi cho rằng, những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt giữa các vùng nằm ở chỗ, trong
quá trình chuyển đổi, các tộc người thiểu số ở Sơn La và Thái Nguyên vẫn có được những điều
kiện để các dàn xếp văn hoá, xã hội và kỹ thuật của nền kinh tế đạo đức (moral economy) trong
các chiến lược tránh rủi để đảm bảo sự tồn tại trên ngưỡng sinh tồn. Dàn xếp kỹ thuật quan
trọng nhất ở hai cộng đồng tại Thái Nguyên và Sơn La là mô hình đa dạng sinh kế để “lấy ngắn
nuôi dài”, và “mất cái này còn được cái kia”. Ở khía cạnh dàn xếp văn hoá và xã hội, tuy cả hai
cộng đồng đều tham gia một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường, song các hình thức tương
trợ/trợ giúp xã hội trong hoạt động sinh kế cổ truyền vần còn có vai trò nhất định trong các hoạt
động sinh kế. Thêm vào đó, cấu trúc thị trường, điều kiện và môi trường tự nhiên cũng như các
chính sách hỗ trợ phát triển của chính quyền địa phương ở hai địa bàn này cũng làm cho sự
chuyển đổi sinh kế diễn ra thuận lợi hơn so các vùng tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu 5 vấn đề nghiên cứu sau: 1) Tại sao
các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc lại thực hiện các hành vi sinh kế đầy rủi
ro, đặc biệt là vay nợ với lãi suất cao? 2) Hiện trạng nợ của các gia đình, bao gồm mức độ, loại
hình, khả năng chi trả, vv... đang như thế nào? 3) Các chiến lược chi trả của họ là gì? (4) Và
quan trọng hơn, việc vay nợ dẫn đến hệ quả kinh tế- xã hội và văn hoá nào? (5) Tại sao lại có sự
khác biệt về bản chất nợ ở hai đia bàn nghiên cứu
Tại Tây Nguyên, tư liệu phỏng vấn định tính và khảo sát định lượng được tiến hành trong
tháng 6 năm 2015 cho thấy, vấn đề nợ của các gia đình đang ở mức khá trầm trọng, với các
khoản nợ không thể trả khá lớn. Khác với các diễn ngôn chính thống, nợ xấu ở các tộc người
thiểu số tại chỗ địa hai địa bàn nghiên cứu không phải do “người dân tộc không biết tính toán
làm ăn” mà là hậu quả của sự chuyển đổi sinh kế từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất nông
nghiệp hàng hoá kinh tế thị trường. Khác với các hoạt động sinh kế ‘duy tình” cổ truyền được
vận hành theo “đạo lý tự cấp tự túc” với hàng loạt các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật đi
kèm nhằm đảm bảo sự chủ động trong sản xuất, việc chuyển sang trồng cà phê và ngô đã làm
cho người dân bị phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường bên ngoài cả ở khía cạnh đầu vào và đầu ra
của sản phẩm. Với xuất phát điểm là những người nông dân không có tích luỹ về tài chính, và
trong bối cảnh hệ thống tín dụng của nhà nước không hỗ trợ được nhiều, để có thể trồng ngô,
trồng cà phê và lúa lai, các hộ gia đình đã phải tìm đến các hệ thống tín dụng phi chính thống với
lãi suất cao để có vốn sản xuất. Tỉ lệ lãi suất cao từ các khoản vay bắt buộc cho đầu vào, sự rủi ro
của thời tiết, cùng với sự bị động, phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài cho đầu ra của sản
phẩm, đã tạo ra sự mất cân bằng giữa giá trị kinh tế thu được từ cà phê và ngô so với chi phí phải
bỏ ra để mua phân bón và các loại đầu vào khác. Sự mất cân đối này đã làm cho tình trạng nợ
của gia đình, kể cả đối với các hộ có ít hoặc nhiều đất sản xuất, tích tụ, dồn từ năm này sang năm
khác.
Tại phía Bắc, tư liệu thực địa, bao gồm các phỏng vấn sâu và điều tra định lượng cho
thấy, khác với Tây Nguyên, vấn đề nợ, đặc biệt là nợ xấu không ở vào hiện trạng trầm trọng.
Thêm vào đó, tỉ lệ nợ xấu, nợ không có khả năng chi trả ở Thái Nguyên và Sơn La cũng khác
7



nhau. Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày và phân tích những nguyên nhân dẫn
đến sự khác biệt này. Chúng tôi cho rằng, những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt giữa các
vùng nằm ở chỗ, trong quá trình chuyển đổi, các tộc người thiểu số ở Sơn La và Thái Nguyên
vẫn có được những điều kiện để các dàn xếp văn hoá, xã hội và kỹ thuật của nền kinh tế đạo đức
(moral economy) trong các chiến lược tránh rủi để đảm bảo sự tồn tại trên ngưỡng sinh tồn. Dàn
xếp kỹ thuật quan trọng nhất ở hai cộng đồng tại Thái Nguyên và Sơn La là mô hình đa dạng
sinh kế để “lấy ngắn nuôi dài”, và “mất cái này còn được cái kia”. Ở khía cạnh dàn xếp văn hoá
và xã hội, tuy cả hai cộng đồng đều tham gia một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường, song
các hình thức tương trợ/trợ giúp xã hội trong hoạt động sinh kế cổ truyền vần còn có vai trò
nhất định trong các hoạt động sinh kế. Thêm vào đó, cấu trúc thị trường, điều kiện và môi trường
tự nhiên cũng như các chính sách hỗ trợ phát triển của chính quyền địa phương ở hai địa bàn này
cũng làm cho sự chuyển đổi sinh kế diễn ra thuận lợi hơn so các vùng tộc người thiểu số tại chỗ
ở Tây Nguyên.

II. Hành vi sinh kế của người nông dân: Lựa chọn duy lý VS. kinh tế duy tình
Sinh kế, theo nghĩa đơn giản nhất, là “cách kiếm sống”. Vì vậy, thuật ngữ này hàm chỉ
các khả năng, tài sản, và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (Chambers và Conway 1991: 5-6).
Với nghĩa là cách thức mưu sinh, sinh kế không chỉ thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế
học mà còn là chủ đề được nhiều ngành khoa học xã hội khác tìm hiểu, đặc biệt là nhân học,
ngành học nghiên cứu về tính toàn diện và sự đa dạng của con người trên các khía cạnh khác
nhau. Với việc nghiên cứu và miêu tả các phương thức mưu sinh để từ đó tìm ra các tương đồng
hay dị biệt trong sinh kế của các dân tộc, tìm hiểu lịch sử phát triển của chiến lược tìm kiếm thực
phẩm của con người hay tìm ra các quy luật gắn với dạng thức kinh tế này (Lewis Henry
Morgan, Leslie White, Julian Steward). Các phương thức sinh kế của các dân tộc trên thế giới
vào thời tiền công nghiệp rất đa dạng, bao gồm săn bắt hái lượm, nông nghiệp quảng canh, nông
nghiệp thâm canh, và chăn nuôi. Đây là các cơ sở kinh tế hình thành nên các đặc trưng văn hóa –
xã hội tương ứng của các tộc người. Các hình thức tổ chức xã hội dựa trên các loại hình kinh tế
này tiếp tục cho đến thời hiện đại và sự tương tác của chúng với sự tiến bộ khoa học của thời đại
lại trở thành một khuynh hướng nghiên cứu phổ biến. Do vậy, không ngạc nhiên khi các công
trình nghiên cứu về sinh kế chủ yếu tập trung vào các cộng đồng nông dân (theo nghĩa peasants),

các bộ lạc chăn nuôi trồng trọt hay các nhóm người sống bằng săn bắt hái lượm trong quá khứ và
hiện tại (xin xem Oswalt 1976, Fitzhugh and Habu 2002, Morrison and Junker 2002, Burling
1965, Winterhalder and Smith 1981, Chou 2003, Swift 1965, Potter, Diaz và Foster 1967).
Đóng vai trò là cơ sở nền tảng cho các đặc trưng xã hội, đặc biệt là ở các xã hội đang hay
chậm phát triển, các xã hội chưa phụ thuộc nhiều vào khoa học công nghệ để thích nghi với tự
nhiên, sinh kế cũng là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu phát triển bắt đầu thời kỳ sau
chiến tranh thế giới lần II. Trong giai đoạn đầu của các nghiên cứu phát triển, khi nghiên cứu các
cộng đồng bị ngoài lề hóa, đối tượng của các chương trình phát triển, các nghiên cứu thường tập
trung tìm hiểu các điều kiện của các cộng đồng này thông qua việc bị “tước đoạt” các khía cạnh
văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế, và thể chế. Tuy nhiên hướng tiếp cận này lại bị chỉ trích là bỏ
qua năng lực chủ thể (agency) khi xem các cộng đồng bị ngoài lề hóa này đơn thuần chỉ như là
những nạn nhân của các quá trình toàn cầu. Hướng tiếp cận sinh kế được xem là khuynh hướng
có thể khắc phục được vấn đề này. Một trong những đặc điểm quan trọng của hướng tiếp cận
8


sinh kế là tập trung vào tài sản (assets) của con người bao gồm vốn thể lý (tài sản cố định hữu
hình như máy móc, nhà xưởng, phương tiện…), tự nhiên, tài chính, con người, xã hội và chính
trị. Hướng tiếp cận này xem xét con người sử dụng các loại tài sản này để giải quyết các vấn đề
của họ như thế nào (Eswarappa 2007:13).
Trong các khuôn khổ nghiên cứu phát triển, hướng tiếp cận sinh kế bền vững là một chủ
đề trung tâm. Sinh kế bền vững được hiểu là có khả năng đối phó với và phục hồi sau những đợt
khủng hoảng và các cú sốc, duy trì và tăng cường các khả năng và tài sản và cung cấp các cơ hội
sinh tồn bền vững cho thế hệ sau và góp phần cho lợi ích thực của các sinh kế khác ở cấp độ địa
phương và toàn cầu ngắn hạn và dài hạn (Chamber và Conway 1991:6). Nhóm tác giả đã cho là
sinh kế bền vững là một khái niệm thực tiễn của thế kỷ 21. Khái niệm bền vững được xem xét cả
ở lĩnh vực môi trường và xã hội. Phân tích trong khuôn khổ sinh kế bền vững, Frank Ellis (1999)
với mối quan tâm về sự đa dạng sinh kế như một chiến lược sinh tồn của các hộ nông dân ở vùng
nông thôn của các nước đang phát triển. Theo tác giả, chiến lược này không thường được các nhà
chính sách phát triển quan tâm trong khi đây là chiến lược bền vững theo thời gian vì nó là một

sự thích nghi tích cực với các hoàn cảnh thay đổi. Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý là sự đa dạng
sinh kế này chỉ tác dụng mạnh trong bối cảnh có sự thay đổi theo mùa cao, rủi ro cao, vắng bóng
thị trường, cơ sở hạ tầng kém, diện tích canh tác suy giảm, và các yếu tố bất lợi tương tự. Tiến
trình phát triển từ mức sống thấp lên mức sống cao cũng dẫn đến với sự chuyển từ đa dạng sang
chuyên môn hóa. Tuy nhiên hai trạng thái này không đối lập với nhau mà tùy theo ở cấp độ cá
nhân, hộ gia đình hay tổ chức xã hội lớn hơn. Ashley and Carney (1999) cho là sinh kế bền vững
là cách suy nghĩ về mục tiêu, phạm vi, và các ưu tiên cho phát triển để gia tăng tiến triển trong
giảm nghèo.
Do sinh kế là một cách thức đảm bảo sự sinh tồn cho con người nên một khi thay đổi sinh
kế sẽ ảnh hưởng đến sự sinh tồn này. Vì vậy, sự thay đổi sinh kế này một khi kết quả chưa thể
lường trước được hay chưa được bảo đảm, thử nghiệm thì nó đồng nghĩa với hành vi chấp nhận
rủi ro.
Trong các ngành khoa học xã hội, được biết đến rộng rãi trong ngành nhân học và xã hội
học, có hai quan điểm tiếp cận chính để lý giải các về hành vi chấp nhận rủi ro trong sinh kế của
người làm nông. Quan điểm thứ nhất cho là nông dân là những người chấp nhận rủi ro. Dựa trên
quan điểm của kinh tế học tân cổ điển (neoclassic economics) về bản chất tối đa hóa lợi nhuận
của con người, các nhà thuyết sự chọn lựa duy lý (rational choice) cho là hành vi của con người
bao giờ cũng có mục đích, đó là hướng tới việc tối đa hóa lợi ích bản thân, giảm thiểu chi phí, và
quan tâm đến xác suất thành công của những hành động khác nhau. Lý thuyết này về sau được
áp dụng và phổ biến trong các ngành khoa học xã hội khác chẳng hạn như nhân học, xã hội học
và khoa học chính trị để giải thích về hành vi của con người qua một số lý thuyết như social
choice (lựa chọn xã hội), public choice (sự lựa chọn chung), và game theory (thuyết trò chơi).
Tiền đề quan trọng của thuyết sự chọn lựa duy lý đó là (a) những chủ thể hành động bị chi phối
bởi sự tối đa hóa lợi ích cá nhân không bị cản trở bởi những yếu tố khác và những quy tắc xã hội;
(b) các chủ thể hành động không tình cảm (emotional), không phi lý (irrational), không bốc đồng
(impulsive), và không quen thói (habitual) trong chọn lựa mà họ luôn hành động một cách duy lý
[Zey 2001, tr.12751].
Áp dụng lý thuyết này vào trường hợp Việt Nam, công trình The Rational Peasant (1979)
của Samuel Popkin với cách tiếp cận political economy (kinh tế chính trị) xem nông dân Việt
Nam là những người luôn sẵn sàng nắm bắt cơ hội và chấp nhận rủi ro để tăng mức sinh tồn

9


(subsistence) mặc dù là họ nghèo và sống cận với mức sinh tồn và luôn “quan tâm đến sự sinh
tồn của họ” [Popkin 1979, tr.18-20]. Nông dân là những cá nhân tư lợi (self-interested) [Popkin
1979, tr. 29]. Popkin cho là nông dân “thường sẵn sàng đánh cuộc vào các cải tiến khi vị trí của
họ được đảm bảo không bị thất bại và khi thành công đó có thể cải thiện vị trí của họ một cách
có thể đo lường được” [Popkin 1979, tr. 21]. Lý do họ tham gia thị trường không phải vì đây là
giải pháp cuối cùng mà nó là một đáp ứng với “những cơ hội mới” vì thị trường và sự can thiệp
của chính quyền trong một số tình huống có thể gia tăng phúc lợi của nông dân tầng lớp thấp.
Những cơ hội này vốn trước đây là đặc quyền của các địa chủ lớn và những người bảo trợ
[Popkin 1979, tr.33]. Trong quan điểm kinh tế chính trị của Popkin, khái niệm tư lợi được mở
rộng hơn so với kinh tế học tân cổ điển khi cho là các cá nhân không chỉ đơn thuần quan tâm đến
hàng hóa vật chất hay thu nhập tiền bạc. Tính duy lý đó là “các cá nhân đánh giá các kết quả có
thể theo từng chọn lựa của họ dựa trên những giá trị và sở thích của họ”. Họ sẽ chọn lựa quyết
định nào mà họ tin là sẽ “tối đa hóa lợi ích mong đợi của họ” một cách tư lợi mà mối quan tâm
hàng đầu của nông dân là sự “thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình” [Popkin 1979, tr.
31].
Trái với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho là nông dân là những người tránh rủi
ro. Kinh tế học nông nghiệp của Ellis và Kinh tế đạo đức (Moral economy) của Scott điển hình
cho hướng tiếp cận này. Kinh tế học nông nghiệp khi nghiên cứu về hành vi chấp nhận rủi ro của
nông dân đã quan tâm đến những điều kiện chi phối quá trình tối đa hóa lợi nhuận của họ. Theo
đó, rủi ro và bất ổn là những điều kiện quan trọng. Quan điểm này cho là “ở các nước đang phát
triển, mức độ bất ổn cao là đặc trưng đời sống của các hộ gia đình nông dân” [Ellis 1993, tr.82].
Các mối bất ổn này bao gồm thời tiết, thị trường, thông tin, và chính sách nhà nước. Tình trạng
bất ổn này có thể dẫn đến những bối cảnh: không có sự đối đa hóa lợi ích, không sẵn lòng hay
chấp nhận cải tiến (tính bảo thủ của nông dân), nguyên nhân tồn tại nhiều hoạt động nông nghiệp
cùng lúc chẳng hạn như đa canh như là một hình thức để đáp ứng với sự bất ổn, và củng cố phân
hóa xã hội giữa nông dân nghèo và nông dân khá giả... [Ellis 1993, tr. 82-83]. Do vậy, cách tiếp
cận này tập trung vào chủ đề tránh hiểm họa như là mục tiêu trung tâm của nông dân hơn là sự

tối đa hóa lợi ích trong bối cảnh ổn định [Ellis 1993, tr.86]. Trên cơ sở cho là đặc trưng xã hội
của nông dân có nhiều bất ổn, cách tiếp cận kinh tế học nông dân thường tập trung chủ yếu vào
vấn đề nông dân tránh rủi ro và những chính sách cần thiết khắc phục tình trạng này để gia tăng
hiệu quả sản xuất [Ellis 1993, tr. 95-96].
Khác với cách tiếp cận duy lý của Popkin (1979) và cùng quan điểm nông dân là những
người tránh rủi ro với Ellis (1993), Jame Scott (1976) với cách tiếp cận moral economy (kinh tế
đạo đức) cho là những nông dân sống ở cận ngưỡng sinh tồn là những người tránh rủi ro. “Sống
cận ngưỡng sinh tồn và phụ thuộc vào sự thất thường của thời tiết và sự đòi hỏi của người bên
ngoài, hộ nông dân không có cơ hội cho sự tính toán tối đa hóa lợi ích theo truyền thống của kinh
tế học tân cổ điển truyền thống” [Scott 1976, tr. 4]. Sống dưới mức sinh tồn không chỉ là “vấn đề
là có nguy cơ chết đói mà về mặt văn hóa và xã hội nó là sự chịu đựng một mất mát sâu sắc về vị
trí trong cộng đồng và có thể mãi mãi sống trong tình trạng phụ thuộc” [Scott 1976, tr.9]. Chính
vì sống cận ngưỡng sinh tồn nên nỗi sợ thiếu lương thực là nguồn gốc tồn tại của “subsistence
ethic” (đạo đức sinh tồn). Cách sử dụng kỹ thuật (canh tác nhiều loại giống, kỹ thuật canh tác và
hoạch định thời gian) và các dạng thức xã hội (các hình thức tương hỗ, tính hào phóng bắt buộc,
đất công, và sự chia xẻ công việc đều có cùng mục đích giúp nông dân có thu nhập ổn định và
giúp họ vượt qua những lúc khó khăn, đảm bảo mức sinh tồn tối thiểu [Scott 1976, tr. 2-5].

10


Theo hướng tiếp cận của Scott, trong ví dụ về trường hợp Việt Nam, cộng đồng làng xã
tiền tư bản được nhìn nhận như một thiết chế để “giảm thiểu rủi ro” trong bối cảnh kỹ thuật hạn
chế và thiên nhiên thất thường [Scott 1976, tr.9]. Nguyên tắc của nông dân đó là an toàn là trên
hết. Với nguyên tắc này nông dân thích một tình huống có thu nhập thấp nhưng đủ và an toàn
hơn là một tình huống có xác suất thu nhập cao nhưng lại có nguy cơ rơi xuống dưới ngưỡng
sinh tồn. Chẳng hạn như, những người luôn quan tâm đến sự sinh tồn thì sẽ ưa thích mức thuế và
thuê ruộng có thể linh động được hơn là mức cố định mà sẽ nặng nề vào những năm thất bát
[Scott 1976, tr. 46-50]. Sản xuất nông nghiệp cho thị trường có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn
là sản xuất tự cung tự cấp nhưng cũng gia tăng khả năng rơi xuống ngưỡng nguy hiểm nên sản

xuất sinh tồn vẫn là ưu tiên của người nông dân [Scott 1976, tr. 23]. Theo Scott, nguyên tắc an
toàn trên hết không có nghĩa là nông dân không bao giờ chấp nhận rủi ro. Khi nào những cải tiến
về mùa màng, hạt giống, kỹ thuật canh tác hay sản xuất cho thị trường mà chứng tỏ có lợi nhiều
hơn nhưng ít hoặc không có rủi ro tới an ninh sinh tồn thì người nông dân sẵn sàng tham gia. Vì
vậy, quan điểm kinh tế học sinh tồn của Scott chỉ áp dụng đối với “những nông dân có thu nhập
rất thấp, ít đất đai, gia đình đông đúc, hoa lợi biến động cao, và chỉ có ít cơ hội bên ngoài”
[Scott 1976, tr. 24-25). Những nông dân này có thu thập thấp và ở cận ngưỡng sinh tồn vì thế chỉ
một rủi ro nhỏ đối với thu nhập của họ cũng đủ đe dọa cuộc sống của họ. Nguyên tắc của những
nông dân này là “an toàn là trên hết” và “tránh rủi ro”. Đối với những nông dân “có thu nhập
cao, đất đai nhiều, quy mô gia đình nhỏ, hoa lợi ổn định, và nhiều cơ hội bên ngoài” thì nguyên
tắc an toàn trên hết và những dạng thức xã hội dựa trên đạo đức sinh tồn sẽ không phù hợp.
Như vậy, theo cách tiếp cận đạo đức, đối với nông dân sống cận ngưỡng sinh tồn thì nhu
cầu sinh tồn là mối quan tâm quan trọng nhất. Nhu cầu này là nền tảng chi phối hành vi của nông
dân, khiến cho họ không chấp nhận rủi ro. Nhiều công trình khác nghiên cứu về nông dân Việt
Nam và Đông Nam Á cũng chia sẻ quan điểm này.
McElwee (2007) xuất phát từ những tiền đề của Kinh tế đạo đức của Scott (1976) đã tái
khẳng định những nhận định của Scott khi nghiên cứu về nông dân Việt Nam trong bối cảnh thị
trường thế giới. Những thay đổi theo lịch sử đặc biệt là chính sách “giải tập thể”, nền kinh tế tân
tự do và thị trường thế giới dễ đưa đến dự đoán là các nông dân “tối đa hóa sản xuất hàng hóa
của họ một cách duy lý” để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Nhưng kết quả nghiên cứu của McElwee
về người nông dân Hà Tĩnh lại cho thấy là họ “dường như vẫn có những quyết định ‘phi lý’ về
việc họ sẽ trồng cái gì. Quyết định đưa ra của nông dân về vấn đề này không dựa trên giá cả của
cây trồng hay năng suất mà dựa trên việc “họ thích ăn cái gì và cái gì đã trồng từ trước đến giờ”
[McElwee 2007, tr. 58]. Đa số nông dân quyết định không chuyển từ trồng lúa có năng suất thấp
sang trồng bắp lai vốn hứa hẹn một thu nhập cao hơn. Tính toán của nông dân vùng Cẩm Xuyên,
Hà Tĩnh đó là “lúa là loại cây họ biết rõ nhất phải canh tác ra sao, luôn có thị trường do nhà nước
đảm bảo, và là thứ mọi người thích ăn nhất” [McElwee 2007, tr.78]. Cho nên, mặc dù gặp khó
khăn trong sản xuất lúa và một tiềm năng có nhiều thu nhập khi sản xuất mùa màng thương mại
(cash crop) nhưng cây lúa vẫn chiếm vị trí độc tôn đối với người dân ở Cẩm Xuyên. Theo
McElwee, đây có thể xem là hành vi kinh tế phi lý như Scott đã đề cập vì so với những nguồn

thu nhập khác như chăn nuôi, lâm sản, rau màu thì trồng lúa tại đây thu nhập không cao. Quan
điểm của Scott đó là nông dân ưa thích “vụ mùa để ăn hơn là vụ mùa để bán, thiên về áp dụng
nhiều chủng loại hạt giống để phân tán rủi ro, thích sự đa dạng trong trồng trọt tuy năng suất
không cao nhưng ổn định” [McElwee 2007, tr.23]. Do vậy, tại Cẩm Xuyên tồn tại nhiều khía
cạnh của kinh tế đạo đức thể hiện trong quan hệ xã hội địa phương và quyết định kinh tế. Nông
dân trong công trình này là những người “chi hầu như mọi thứ họ kiếm được, và đa số sống rất
cận ngưỡng nghèo” [McElwee 2007, tr.66]. Chính vì vậy “tương hỗ là hành động xã hội”, “tái
11


phân phối thu nhập là nghĩa vụ xã hội”, “tránh rủi ro là chiến lược xã hội”, “phụ thuộc vào đất
công là quyền xã hội” là những đặc trưng của cộng đồng nông dân Hà Tĩnh [McElwee 2007,
tr.68-86].
Tương tự như vậy, liên quan đến mối quan hệ giữa mức sinh tồn và hành vi chấp nhận rủi
ro, Wharton (1971, 1971a) trong công trình nghiên cứu của mình cho là mức sống sinh tồn tối
thiểu rất quan trọng đối với nông dân trong việc quyết định liệu họ có chấp nhận rủi ro hay
không, cụ thể là việc áp dụng các cải tiến kỹ thuật trong canh tác. Theo Wharton, người nông
dân càng ở cận ngưỡng sinh tồn thì sẽ càng bảo thủ và cải tiến được đưa ra càng xa lạ thì họ càng
dè dặt [Wharton 1971, tr.571] và họ chỉ chấp nhận cải tiến khi được thuyết phục là phương thức
cải tiến mới không chỉ tốt hơn mà còn đáng tin cậy hơn, và kết quả dù có tiêu cực của nó vẫn
khiến cho nông dân có kết quả tốt hơn so với phương pháp cũ thì họ mới chấp nhận cải tiến. Do
vậy, Wharton cho là phân tích này có thể giải thích cho sự phân hóa trong việc tiếp cận cải tiến
kỹ thuật giữa các nông dân, hiệu ứng hàng xóm không có tác dụng, có sự đa dạng trong canh tác
giữa lương thực chính và lương thực phụ và cải tiến kỹ thuật chỉ áp dụng ở lương thực phụ (đặc
biệt là sản xuất thị trường), cho mùa màng thương mại,và cho những loại cây trồng mới trong khi
vẫn duy trì kỹ thuật truyền thống đối với lương thực chính đã có tính ổn định [Wharton 1971, tr.
572-573], [Wharton 1971a, tr.170]. Như vậy, trong nghiên cứu của Wharton, tiêu chuẩn sinh tồn
tối thiểu là yếu tố quan trọng dẫn đến hành vi chấp nhận rủi ro.
Như vậy, cách lý giải về hành vi chấp nhận rủi ro trong hoạt động sinh kế của người nông
dân châu Á giữa Scott và Popkin dựa trên những tiền đề khác nhau về bản chất hành vi của nông

dân. Mỗi cách tiếp cận đã có cách lý giải riêng biệt. Công trình của Popkin được xây dựng dựa
trên việc bác bỏ quan điểm kinh tế đạo đức của Scott về hành động chính trị của nông dân Việt
Nam. Cách mạng là một hành động tập thể có tính rủi ro. Đối với Scott, cuộc nổi dậy của nông
dân Việt Nam là một hành động tự vệ do chủ nghĩa tư bản đã vi phạm đến “subsistence right”
(quyền sinh tồn) mà nông dân có được với các thiết chế trong xã hội tiền tư bản [Scott 1976,
tr.6]. Người nông dân trong công trình của Scott là những người tránh rủi ro do họ ở cận ngưỡng
sinh tồn; và khi họ ở cận ngưỡng sinh tồn có tồn tại một đạo đức sinh tồn đảm bảo cho cuộc sống
của họ không bị chết đói; và khi quyền sinh tồn của họ bị vi phạm họ thì họ sẽ chấp nhận rủi ro
để bảo vệ quyền sinh tồn này. Trong khi đối với Popkin, cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam
được coi như kết quả tổng hợp hành động của các cá nhân duy lý trên sự tính toán cho lợi ích cá
nhân. Các yếu tố người lãnh đạo chính trị (political entrepreneurs), các hệ thống khích lệ
(incentive systems), vấn đề người không làm mà hưởng (free-riders) và rủi ro là những yếu tố
quan trọng dẫn đến kết quả hành động tập thể đó [Popkin 1979, tr.245].
Đối với việc xem xét hành vi sinh kế và vấn đề nợ của các tộc người thiểu số tại chỗ Tây
Nguyên và phía Bắc, chúng tôi thấy cách tiếp cận của cả Jame Scott trong đó nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của việc xem xét hành vi sinh kế của người nông dân trong bối cảnh kinh tế, chính trị
và xã hội [ở một khía cạnh nào đó là văn hoá] cụ thể nơi họ đang sống là khá phù hợp. Hành vi
sinh kế của người Tây Nguyên, như sẽ phân tích ở các phần tiếp sau, trong xã hội trước đây cũng
như trong đời sống đương đại, đều bị ràng buộc bởi các điều kinh kinh tế và xã hội cụ thể. Nếu
như trong xã hội trước đây, do thời tiết và điều kiện môi trường cụ thể ở địa bàn có thể đẩy họ
xuống dưới ngưỡng sinh tồn, và vì vậy, họ đã phải xây dựng các cách ứng xử cụ thể để duy trì
mức sống trên ngưỡng này, thì trong bối cảnh đương đại, nơi không cho phép họ thực hành các
mô thức sinh kế truyền thống đề đảm bảo an ninh lương thực cho gia đình, thì việc chuyển đổi
sang hệ cây trồng mới cũng có thể coi là một cách ứng xử có bản chất tương tự.

12


III. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu

chính để thu thập tư liệu, bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp giữa phỏng vấn
sâu và thảo luận nhóm và điều tra định lượng hộ gia đình. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng
phương pháp phân tích tư liệu để đối chiếu, so sánh. Trong quá trình viết báo cáo, nguồn tư liệu
thực địa, bao gồm phỏng vấn định tính và điều tra định lượng hộ gia đình, được coi là nguồn tư
liệu ưu tiên. Tại Tây Nguyên, ngoài tư liệu định tính được thu thập từ đợt nghiên cưú được tiến
hành từ ngày, 28/6 đến ngày 14 tháng 7 năm 2015, chúng tôi cũng sử dụng tư liệu từ các cuộc
phỏng vấn tại buôn Ban được thực hiện trong hai năm 2013-2014.
Tuân thủ nguyên tắc mang tính phương pháp luận là tìm các cộng đồng có sự tham gia
mạnh mẽ vào quá trình sản xuất nông sản hàng hóa để nghiên cứu, chúng tôi làm việc với chính
quyền cấp huyện để tìm hiểu về bức tranh sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại địa phương và qua
các thông tin của cán bộ huyện cung cấp, chúng tôi chọn các xã nghiên cứu có các đặc điểm: có
sự chuyển đổi từ nông nghiệp canh tác nương rẫy với đặc trưng là năng suất thấp sang sản xuất
nông nghiệp hàng hóa và có vay nợ để sản xuất.
Ở bốn tỉnh được lựa chọn, sau khi tham khảo tư vấn của cán bộ chuyên trách cấp tỉnh,
nhóm nghiên cứu lựa chọn tại mỗi tỉnh một huyện để đưa vào mẫu nghiên cứu. Tương tự như
vậy, ở cấp huyện, sau khi phỏng vấn cán bộ và tra cứu thông tin tổng hợp từ các báo cáo, nhóm
nghiên cứu lựa chọn một xã để tiến hành điều tra thực địa. Tại mỗi xã, hai thôn sẽ được lựa chọn
đưa vào mẫu nghiên cứu dựa trên tiêu chí có đặc điểm đặc thù về dân số, xã hội và kinh tế của
xã.
3.1. Nghiên cứu định tính
Đối với phương pháp nghiên cứu định tính, điền dã dân tộc học, kết hợp giữa phỏng vấn
sâu, thảo luận nhóm và quan sát tham gia, đã được sử dụng để thu thập tư liệu. Với mục đích đa
dạng hoá nguồn thông tin, trong quá trình nghiên cứu thực địa tại Tây Nguyên, nhóm nghiên cứu
đã tiến hành phỏng vấn sâu 42 người, bao gồm 16 người M’nông, 10 K’ho, 9 Châu Mạ và 7
người Kinh thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Tại phía Bắc, nhóm nghiên cứu đã tiến hành
32 cuộc phỏng vấn sâu và trao đổi phi chính thức ở cả hai cộng đồng, bao gồm 12 người Dao, 15
người Thái và 5 người Kinh.
Nguyên tắc tiến hành phỏng vấn định tính của chúng tôi là sau khi đã có các cuộc phỏng
vấn chiến lược với các cấp chính quyền liên quan và cấp thôn, chúng tôi tiến hành các cuộc
phỏng vấn với những người am hiểu về phong tục tập quán và lịch sử của cộng đồng để có cái

nhìn khái quát về lối sống, quan niệm sống của người dân, và lịch sử quá trình chuyển đổi sinh
kế của cộng đồng. Trên cơ sở đã nắm thông tin tổng quan về cộng đồng, chúng tôi tập trung vào
tìm hiểu các thông tin về quá trình thực hành sinh kế của các hộ gia đình, chú trọng đến vấn đề
tín dụng của hộ gắn với quá trình này. Chúng tôi chọn các hộ có sự khác biệt về diện tích canh
tác và về thực hành tín dụng để phỏng vấn. Theo đó, nhóm đối tượng thứ nhất là các cán bộ có
liên quan trực tiếp đến các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là cán bộ tín dụng và
các nhà kinh tế nông nghiệp cấp ở cấp huyện, cấp xã và cấp thôn/buôn. Ngoài việc tìm hiểu về
hiện trạng chính sách phát triển kinh tế- xã hội đã và đang triển khai ở địa phương, các cuộc
phỏng vấn nhóm đối tượng này cũng tập trung tìm hiểu về quan điểm cá nhân và thông tin về
vấn đề nợ tại địa bàn.
Một nhóm đối tượng quan trọng khác được lựa chọn phỏng vấn là những người dân của
các buôn làng và các thôn. Đối với các đối tượng này, nhóm nghiên cứu tiến hành cả phỏng vấn
13


sâu và thảo luận nhóm, sử dụng các câu hỏi đóng và mở. Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các
đối tượng này tập trung vào những vấn đề liên quan vấn đề đầu tư trong sản xuất nông nghiệp,
những biến đổi trong thực hành văn hoá xã hội nói chung và lối sống nói riêng. Ngoài ra, nhóm
nghiên cứu cũng tìm hiểu những quan điểm, đề xuất, nguyện vọng của chính người dân đối với
vấn đề tín dụng nói riêng và chính sách của nhà nước và địa phương trong phát triển kinh tế nói
chung tại địa bàn.
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng phổ thông. Các cuộc trao đổi và phỏng
vấn người dân không thông thạo tiếng Kinh được thực hiện thông qua sự giúp đỡ của các thông
dịch viên là thành viên của chính các cộng đồng đó.
Việc lựa chọn các đối tượng phỏng vấn được tiến hành theo phương pháp "bóng tuyết
lăn", theo đó những người phỏng vấn trước sẽ giới thiệu các thông tín viên phù hợp cho các cuộc
phỏng vấn tiếp theo. Mỗi cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thường kéo dài khoảng từ 45
đến 90 phút. Các cuộc phỏng vấn đều được ghi chép và ghi âm với sự đồng ý của những người
cung cấp tin. Bên cạnh các bản ghi chép, toàn bộ số băng phỏng vấn sâu sau đó được gỡ để phục
vụ phân tích và viết báo cáo. Tên của thông tín viên sẽ được mã hóa để đảm bảo nguyên tắc ẩn

danh.
3.2. Khảo sát định lượng
Hợp phần định lượng của nghiên cứu kết hợp phương pháp chọn mẫu có chủ định và
ngẫu nhiên đơn giản. Dựa trên danh sách các hộ gia đình của các thôn/bản, mẫu nghiên cứu đựa
lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Để đủ số mẫu cho khảo sát định lượng, tùy vào tổng số lượng các
hộ có tại mỗi thôn chúng tôi chọn từ một đến hai thôn để khảo sát. Cụ thể, tại huyện Lâm Hà
chúng tôi chọn buôn Biết của xã Phú Sơn, tại huyện Lắk chúng tôi chọn buôn Ban của xã Yang
Tao, tại huyện Võ Nhai, chúng tôi chọn thôn Ba Nhất của xã Phú Thượng và tại huyện Mai Sơn,
chúng tôi chọn thôn Phiêng Khoài và Huổi Khoang. Nội dung bảng hỏi bao gồm thông tin cơ bản
về tình hình hộ, lịch sử các khoản vay nợ của hộ trong năm qua, lý do vay nợ và tình trạng của
khoản vay, thông tin về đầu tư và sản xuất của hộ, thông tin về tiêu dùng và phúc lợi của hộ.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu có chủ
đích.
Đối với cuộc khảo sát định lượng, chúng tôi mời đại diện các hộ dân đến theo giờ đã hẹn
tại nhà văn hóa của mỗi thôn hay tại nhà cán bộ hội phụ nữ của thôn để thu thập thông tin tổng
quan về hộ gia đình như nhân khẩu học, tình hình sản xuất, các loại tín dụng, các chính sách hỗ
trợ người dân đang thụ hưởng….
Theo đó, tại Tây Nguyên, 56 hộ người Cơ Ho và Mnông được lựa chọn điều tra định lượng.
Trong các mẫu phỏng vấn định lượng, quy mô hộ gia đình trung bình 6 người/ một hộ. Trong số
các hộ được khảo sát có 77% có chủ hộ là nam. Trình độ học vấn của các hộ này rất thấp với tỷ
lệ 91% chỉ học hết cấp 1 trong đó 33% chưa bao giờ đi học. Lực lượng lao động của các hộ
được khảo sát chiếm 54%, đa số làm trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tại phía Bắc, định mức lựa chọn mẫu hộ gia đình ở mỗi địa bàn cụ thể là 100 hộ gia đình
cho mỗi xã, tương ứng với 50% tổng số hộ ở hai thôn tại Thái Nguyên và 70% tổng số hộ ở hai
thôn tại Sơn La. Với mỗi hộ gia đình được lựa chọn và mời vào mẫu nghiên cứu, điều tra viên
phỏng vấn trực tiếp một thành viên trên 18 tuổi trong hộ có mặt ở nhà tại thời điểm nghiên cứu.
Kết thúc thực địa, tổng số hộ gia đình được tiếp cận và phỏng vấn thành công tại Thái Nguyên là
90, tại Sơn La là 102.

14



Ở cả hai tỉnh Thái Nguyên và Sơn La, có tổng cộng có 192 hộ gia đình tham gia trả lời
bảng câu hỏi, trong đó có 102 hộ tại Sơn La và 90 hộ tại Thái Nguyên. Gần 60% số người trả lời
là nam, hơn 40% là nữ. Độ tuổi trung bình của người trả lời là 38 tuổi. Khi tách riêng hai địa bàn,
độ tuổi trung bình của người trả lời ở Thái Nguyên là khoảng 41 tuổi, ở Sơn La là khoảng 36
tuổi. Số khẩu trung bình của các hộ tham gia nghiên cứu vào khoảng 4,6 người mỗi hộ, trong đó
có khoảng 2,8 người hiện đang tham gia lao động, và khoảng 1,5 trẻ em. Không có sự khác biệt
về cơ cấu nhân khẩu trong hộ gia đình khi so sánh giữa hai địa bàn. Hầu hết các hộ gia đình ở cả
hai địa bàn nghiên cứu ở phía Bắc đều đã sinh sống tại địa phương từ lâu đời (chỉ có 1% cho biết
mới chuyển đến địa phương sinh sống trong khoảng thời gian ít hơn 5 năm). Ở Thái Nguyên, tỷ
lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn đáng kể so với tại Sơn La. Cụ thể là 20,2% số hộ ở Thái
Nguyên cho biết họ thuộc diện hộ cận nghèo (tỷ lệ này ở Sơn La là 7,8%), 15,7% số hộ ở Thái
Nguyên cho biết họ thuộc diện hộ nghèo (tỷ lệ này ở Sơn La là 9,8%).
Toàn bộ số hộ tham gia phỏng vấn tại Sơn La thuộc nhóm dân tộc Thái, và hầu hết
(91,1%) số hộ tham gia nghiên cứu tại Thái Nguyên thuộc nhóm dân tộc Dao. Xét bình quân về
trình độ học vấn, ở Sơn La, tỷ lệ hộ gia đình có trình độ học vấn cao nhất là phổ thông trung học
(47.1%) cao hơn hẳn so với ở Thái Nguyên (21,1%).
Toàn bộ số bảng câu hỏi sau khi được thu thập đầy đủ thông tin đã được nhập liệu theo
khuôn nhập liệu được xây dựng trên phần mềm SPSS phiên bản 20. Việc làm sạch và phân tích
số liệu cũng được thực hiện trên phần mềm này.
3.3. Phân tích tài liệu văn bản
Bên cạnh tài liệu điền dã, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thu thập và phân tích các bài
báo, tạp chí và nhiều tài liệu đã xuất bản khác liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài. Trong
các chuyến điền dã tại địa bàn, việc thu thập các báo cáo tổng kết năm và báo cáo công tác thực
hiện kế hoạch của các địa phương từ tỉnh đến xã cũng được chú ý thực hiện.
3.4. Tham vấn chuyên gia
Bản thảo của báo cáo, với nội dung phân tích các kết quả nghiên cứu chính từ tư liệu thứ
cấp và tư liệu thực địa được trình bày tại hai cuộc toạ đàm để thu thập các ý kiến đóng góp của
các chuyên gia đến từ trung ương và địa phương. Bản thảo này cũng đã được gửi cho một số

chuyên gia có chuyên môn liên quan đọc và góp ý. Trong qua trình tham vấn, tất cả các ý kiến
nhận xét, góp ý đều được ghi chép và được sử dụng trong quá trình hoàn thiện bản thảo.
3.5. Hạn chế của nghiên cứu
Vấn đề nợ cũng như tín dụng đen ở vùng Tây Nguyên và phía Bắc là một vấn đề khá
nhạy cảm và khó tiếp cận, đặc biệt là đối với các chủ nợ tư nhân. Việc lấy thông tin, đặc biệt là
thông tin liên quan đến con số, một cách chính xác trong khoảng thời gian phỏng vấn từ 1,5-2
tiếng từ người dân, cũng không phải là chuyện dễ dàng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thức
được rằng, số lượng mẫu khảo sát định lượng chủ đủ lớn để có được một sự phân tích chính xác.
Do gặp một số khó khăn như vậy, những trình bày và phân tích của báo cáo có thể chưa phản
ánh được hết các khía cạnh liên quan đến vấn đề nợ của người dân.

15


IV. BỐI CẢNH HOÁ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
4.1. Con người và không gian sinh tồn
Để khảo sát sự chuyển đổi sinh kế từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường
cũng như hệ quả kinh tế- xã hội của sự chuyển đổi này ở các cư dân tại chỗ Tây Nguyên và phía
Bắc, chúng tôi chọn hai cặp hai buôn/ thôn đặt trong bối cảnh so sánh đối chiếu. Hai cặp buôn
buôn được lựa chọn để nghiên cứu xuất phát từ các lý do mang tính phương pháp luận: 1) Có mô
hình sinh kế truyền thống khá tương đồng, song hiện nay có sự khác biệt về cơ cấu cây trồng; 2)
Khác nhau về mặt không gian tự nhiên, bối cảnh sinh tồn và thành phần tộc người – tôn giáo.
Theo đó, tại Tây Nguyênchúng tôi chọn một buôn chúng tôi đặt tên là buôn Ban của
huyện Lắk, Đắk Lắk và buôn Biết của huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Hai buôn này đáp ứng hai
tiêu chí phương pháp luận chúng tôi đặt ra. Cư dân của hai buôn là dân tộc tại chỗ ở Tây
Nguyên: ở buôn Ban là tộc người K’ Ho theo đạo Công giáo và người Mạ theo Tin Lành và ở
buôn Biết là tộc người M’nông theo đạo Tin lành. Buôn Ban là buôn chuyển từ canh tác rẫy sang
cà phê và buôn Biết là từ rẫy sang trồng bắp lai. Về đường giao thông đi lại, so với buôn Biết,
buôn Ban khó tiếp cận hơn do đường xá đi lại còn khó khăn và ở xa trung tâm hành chính xã.
Tại phía Bắc, chúng tôi chọn thôn Ba Nhất, xã Phú Thượng, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái

Nguyên và thôn Huổi Khoang và Phiên Khoài của xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn. Cư dân của
địa điểm khảo sát ở tỉnh Thái Nguyên và Sơn La là các dân tộc tại chỗ ở phía Bắc. Ba Nhất là
thôn chuyển từ canh tác nương rẫy sang trồng ngô lai và hiện nay sang trồng ché và Huổi
Khoang và Phiên Khoài là thôn chuyển từ nhiều loại cây trồng và gần nhất là trồng mía sang
trồng cà phê Arabica. Trong hai địa bàn nghiên cứu này, thôn Ba Nhất có đường giao thông đi lại
khó khăn hơn và ở xa trung tâm hành chính xã.
Buôn Ban
Theo thống kê của xã Phú Sơn năm 2014, buôn Ban có tổng số 354 hộ (1.448 nhân khẩu
– trung bình 4 khẩu/ hộ), trong đó có 297 hộ thường trú và 57 hộ tạm trú dài hạn.4 Cơ cấu tộc
người của thôn đa dạng, với 8 dân tộc khác nhau, trong đó 121 hộ dân tộc tại chỗ (65 hộ người
K’Ho và 56 hộ người Mạ, chiếm 448 người), 220 hộ người Kinh và số còn lại (13 hộ) là người
các dân tộc khác (Tày, Nùng, Hoa, Mường, Dao). Người dân buôn Ban sinh sống khá rải rác; tập
trung ở giữa thôn khoảng 200 hộ, số còn lại sinh sống rải rác ở những dọc các tuyến đường
quanh thôn, có hộ cách trung tâm buôn tới 10 km. Buôn được xếp hạng thôn vùng 3 (thôn nghèo)
của xã. Trong 297 hộ đăng ký thường trú có 18 hộ được xếp hạng nghèo, 33 hộ cận nghèo, 231
hộ trung bình và 15 hộ khá.
Nằm cách xa trung tâm của xã Phú Sơn khoảng 7 km, việc tiếp cận buôn từ ngoài đường
nhựa khá khó khăn, nhất là trong mùa mưa, do là đường đất dẫn vào buôn cắt ngang qua những
ngọn đồi, nhiều nơi bị nước xói mòn tạo thành những chỗ lồi lõm khó đi. Trong buôn có trường
tiểu học và trung học cơ sở, 2 phân trường mẫu giáo, 1 trạm y tế, 1 nhà sinh hoạt cộng đồng.
Người dân cư trú dọc theo hai bên con đường chính của thôn và các con đường nhỏ chia cắt thôn.
Về hành chính, thôn bao gồm hai khu cư trú riêng biệt chia cắt bởi một con suối. Khu dân cư ở
phía trung tâm của thôn là nơi cư trú chủ yếu của người K’ Ho và khu bên kia suối là của tộc

4

Con số thống kê của UBND xã chỉ bao gồm 297 hộ thường trú trong thôn chứ không có hộ tạm trú

16



người Mạ và các dân tộc khác5. Người Kinh sống xen kẻ với các tộc người tại đây. Người Kinh
chủ yếu làm các nghề buôn bán tạp hóa cùng với kinh doanh cà phê tươi hay nhân. Dọc theo hai
bên đường, trải dài trên các ngọn đồi, xung quanh nhà của các cư dân tại đây là những vườn cà
phê được trồng theo hàng lối, có những vườn cà phê đã rất cỗi.
Sinh kế truyền thống của các cư dân ở đây là trồng lúa và chăn nuôi trong khi hiện nay
sinh kế của các tộc người ở đây chủ yếu dựa vào việc trồng cây cà phê, một phần trồng lúa và
làm công trong nông nghiệp, và chăn nuôi nhỏ lẻ (lợn và gà) phục vụ nhu cầu thực phẩm gia
đình. Trước đây, người K’Ho và Mạ có nuôi trâu bò như một hình thức biểu hiện tài sản và tích
lũy của cải. Trâu bò được chăn thả tự do. Chuồng trâu bò được làm cách xa làng cả cây số. Hiện
nay người dân phát triển trồng cây cà phê nên không nuôi bò nữa vì sợ trâu bò phá cà phê. Nhà
hộ K’T là người bán trâu bò cuối cùng trong thôn vào năm 2010.
Trước đổi mới, hoạt động sinh kế chính của người dân là canh tác nương rẫy. Hiện nay,
thu nhập chính của người dân trong thôn từ cây cà phê, chiếm trung bình khoảng 80- 90% tổng
thu cả năm của thôn. Năng suất cà phê thấp, khoảng 2 tấn/ ha/ năm, do cà phê già cỗi và giống
cũ. Bên cạnh đó người dân thiếu vốn để đầu tư tăng năng suất cà phê và hệ thống đường xá kém
phát triển nên giá thu mua cà phê tại thôn thấp. Nguồn thu thứ hai của thôn là lúa nước với tổng
diện tích là 85ha lúa, trong đó 30ha có thể canh tác hai vụ và số còn lại chỉ canh tác được một vụ.
Lúa nước tập trung ở 122 hộ trong thôn, chủ yếu là người dân tộc tại chỗ. Nguồn thu thứ 3 đến từ
phí chi trả môi trường rừng với số tiền trung bình là 2,5 triệu một quý/hộ.
Buôn Biết
Buôn Biết thuộc xã Yang Tao, huyện Lắk tỉnh Đăk Lăk, có 349 hộ với 1.491 khẩu, trong
đó có 340 hộ là người Mnông và 9 hộ người Kinh. Người Mnông ở buôn Ban là nhóm Mnông
Rlăm. So với buôn Ban, buôn Biết có tỉ lệ hộ nghèo cao hơn, là 70 hộ nghèo và 50 hộ cận nghèo.
Thành phần dân tộc ở buôn Biết thuần dân tộc Mnông, chỉ có một số hộ người kinh di cư đến
giai đoạn sau này (Giai đoạn 2012 vẫn có người Kinh di cư vào buôn sinh sống). Người Kinh tại
buôn Biết sống bằng làm các nghề dịch vụ như buôn bán nhỏ lẻ, sửa xe, thợ hàn trong khi người
Mnông canh tác các loại cây nông sản như bắp, mì, lúa, ca cao. Do là vùng nằm trong khu vực
thung lũng và có nhiều vùng đồng cỏ nên ở đây bò được nuôi phổ biến. Con bò không chỉ là một
biểu hiện của giá trị tài sản mà còn đóng vai trò quan trọng cho việc đem đến nguồn tiền mặt để

chi tiêu hàng ngày cho người dân.
Theo người dân ở buôn Ban, họ đến đây vào những năm 1960 do chương trình lập ấp
chiến lược của chính quyền Mỹ - Diệm. Vùng đất ở gốc của họ là ở Buôn Đak của huyện Lăk,
giáp với tỉnh Lâm Đồng. Vào lúc đó, có khoảng 40 hộ của buôn cũ bị di dời đi đến vùng đất hiện
nay. Cộng đồng tại đây theo đạo Tin lành từ thời Pháp. Sinh kế truyền thống của cư dân là khai
phá đất rừng để trồng rẫy. Khi được di dời xuống đây, họ được chính quyền Mỹ- Diệm cấp đất ở
(lấy đất từ buôn khác). Khi đến vùng đất này, chính quyền (Mỹ - Diệm) định cư cho 40 hộ ở trên
6 ha. Mỗi hộ được khoảng 200 m2 đất ở. Do quan niệm sinh sống trên đất của người khác nên
các hộ ở đây đưa 1 con trâu con cho hộ đã cho mình đất ở để cám ơn. Đến năm 1975, cộng đồng
Khu dân cư của người Mạ hay còn gọi là làng Yalu được cho là vùng đất trước đây của người K’ho. Khi nhóm
người Mạ từ Đăk Lăk về đây theo chính sách định canh định cư của Nhà nước tập trung để thành lập nông trường.
Sau này khi không làm nông trường nữa thì Nhà nước cấp lại cho các hộ người Mạ sinh sống và canh tác
5

17


người M’nông ở buôn Biết có khoảng 80 hộ với hơn 300 nhân khẩu.6 Hiện nay, tại buôn có một
nhà thờ vừa được xây dựa trên tiền đóng góp từ dân chúng tại chỗ và một số nhà hảo tâm. Trong
buôn hoạt động mạnh nhất, theo đánh giá của người dân, vẫn là hội phụ nữ và tổ tự quản, theo
nghĩa đây là những nơi người dân nhận được các nguồn hỗ trợ từ nhà nước như nguồn vay từ
ngân hàng chính sách và là nơi họ nhận các thông tin từ chính quyền địa phương ví dụ như việc
vận động đi chích ngừa cho trẻ em, các thông tin khuyến nông hay như khi chúng tôi đến là
chương trình tuyển lao động đi xuất khẩu lao động.
Như vậy, hai buôn có đặc điểm chung đều là buôn có đông cư dân tại chỗ sinh sống. Các
cư dân tại chỗ hiện nay đều theo các tôn giáo lớn trên thế giới. Ở hai buôn ít nhiều đều có sự đan
xen cư trú của người Kinh và một số tộc người từ phía Bắc di cư vào. Điều này phản ánh bức
tranh toàn cảnh của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Nguyên trong thời gian
qua.Tuy nhiên, liên quan đến chủ đề sinh kế, hai buôn này khác nhau chủ yếu về yếu tố thổ
nhưỡng vốn quy định loại cây trồng tham gia thị trường hiện nay ở mỗi buôn. Kết quả khảo sát

định lượng của chúng tôi cho thấy nếu đo thang đo độ màu mỡ của đất theo thang đo từ 1 đến 5
với 1 là đất xấu nhất và 5 là đất tốt nhất thì có đến 84% cư dân ở buôn Biết cho là đất của họ
không tốt (cho điểm từ 1 đến 2), 13.3% cho độ phì nhiêu của đất ở độ trung bình. Trong khi đó ở
buôn Ban chỉ có 28,2% người dân cho là đất của họ không được tốt (cho điểm 1 và 2). Nguồn
gốc đất canh tác chủ yếu là đất tự khai phá và được cấp. Do vậy, hiện trạng giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hiện nay của các cư dân phản ánh quá trình chuyển đổi từ không gian rừng
sang không gian rẫy định canh. Kết quả khảo sát định lượng cho thấy diện tích đất nông nghiệp
trung bình hộ ở buôn Biết là 8.369 m2 và buôn Ban là 12.275 m2. 90% số hộ khảo sát có đất có
nguồn gốc từ khai phá rừng, chỉ có 9% là do nhà nước cấp. Trong đó, nguồn gốc đất tự khai
hoang ở buôn Ban là 96% trong khi ở buôn Ban chỉ có 69,2%. Điều này có thể được lý giải do
quá trình lịch sử cộng đồng tộc người ở mỗi buôn khác nhau. Buôn Ban được hình thành dựa
trên chính sách định canh định cư các tộc người tại chỗ. Họ đã có quá trình cư trú tại vùng đất họ
sinh sống trong thời gian dài. Trong khi buôn Biết được hình thành trong thời kỳ thành lập ấp
chiến lược của chính quyền Sài Gòn. Họ được đưa đến vùng đất cư trú hiện thời nơi đã có các
cộng đồng tộc người khác sinh sống. Do vậy, đất đai của họ chủ yếu được chia cấp dựa trên sự
san sẻ của cộng đồng khác. Và sau giải phóng năm 1975, cộng đồng cư dân buôn Biết này lại
được chính quyền chia cấp lại để có hiện trạng nguồn gốc đất đai như hiện nay. Theo đó, nguồn
gốc đất được nhà nước cấp ở buôn Biết có nhiều hơn ở buôn Ban.
Thôn Ba Nhất của tỉnh Thái Nguyên
Thôn Ba Nhất nói riêng và xã Phú Thượng nói chung sống chủ yếu bằng nônng nghiệp.
Năm 2015, kinh tế nông nghiệp của xã chiếm 87,06%.7 Thôn Ba Nhất cách trung tâm xã khoảng
9 km. Thôn được chia làm hai xóm, xóm Ba Nhất và xóm Đồng Lạt. Hai xóm có sự khác biệt về
đầu tư đường giao thông. Xóm Ba Nhất được tính từ đầu xã đến nhà văn hóa thôn được đặt ngay
trung tâm thôn. Xóm dài khoảng 10 km, trong đó 10 km có thể đi bằng ô tô còn 5km còn lại chỉ
có thể đi bằng xe máy. Đường trục xóm được bê tông hóa dài khoảng 5 km, rộng khoảng 2,5 mét
bắt đầu từ đầu thôn đến đến nhà văn hóa mới của thôn nằm ở giữa thôn nằm giữa thôn. Con
6

Phỏng vấn ông Y’T, nguyên là trưởng thôn của buôn Biết vào thời chính quyền Việt Nam cộng hòa.


Ủy ban nhân dân xã Phú Thượng. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mụcc
tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới xã Phú Thượng giai đoạn 2011-2015, ngày 25 tháng
9 năm 2015.
7

18


đường chạy xuyên suốt qua thôn, một bên con đường là đồi núi trong khi bên kia là thung lũng.
Trải dài bên đường đi phía đồi núi là các ngôi nhà cách nhau bởi các cánh đồng ngô hay chè, một
bên đường bên phía thung lũng là các cánh đồng lúa và ngô, và xa xa phía chân các ngọn đồi nơi
giao nhau giữa các cánh đồng và các ngọn đồi là các ngôi nhà nằm cách nhau bởi những khoảnh
vườn chè. Các ngôi nhà bằng gỗ được cất khang trang từ tiền thu nhập từ trồng ngô và trồng chè.
Từ nhà văn hóa thôn đi vào phía trong thôn là địa phận của xóm Đồng Lạt. Đường rất khó đi,
mặt đường chủ yếu là các hòn đá tự nhiên to nhỏ khác nhau xếp chồng lên nhau trải dài theo con
đường, lúc thì lên dốc, lúc thì xuống dốc. Đường này dù được miêu tả là có thể đi xe máy nhưng
thực tế có những đoạn người dân phải xuống dắt xe đi qua các viên đá to nằm chồng lởm khởm
lên nhau. Trước khi đến khu Đồng Lạt, đoạn đường này cắt ngang bởi một con suối, người dân
có thể chạy xe qua con suối được. Đi xe máy đoạn đường 5 km này mất hơn 1/2 giờ đồng hồ.
Hai bên trục đường chính chạy xuyên qua khu Đồng Lạt này không có nhiều nhà người dân ở.
Người dân ở tập trung ở khu cuối của thôn nơi giáp với thôn Đông Bo của xã Tràng Xá cùng
huyện. Nơi đây có 1 nhà trẻ, đường đi lại trong xóm là đường đất tương đối dễ đi hơn với đoạn
đường đá nối với khu trung tâm của thôn. Nhà của người dân chủ yếu được làm bằng gỗ theo
kiểu ba gian, mái lợp ngói hay fidroximang.
Người dân tại đây tự gọi mình là tộc người Dao Lô Gang hay Dao sơn đầu.8 Theo những
người lớn tuổi trong cộng đồng kể lại, những người đầu tiên đến đây là nhóm 7 hộ gia đình có
nguồn gốc từ Trung Quốc sang cách đây khoảng hơn 200 năm. Khi mới sang định cư ở Việt
Nam họ ở khu vực nay thuộc Làng Mười, xã Dân Tiến thuộc huyện Võ Nhai cách nơi ở hiện nay
không xa lắm. Do khu vực thôn Ba Nhất hiện nay lúc đó là khu vực rừng nguyên sinh nên những
hộ đầu tiên thuộc dòng họ Triệu (4 hộ) và Đặng (3 hộ),vốn có quan hệ dòng họ và thân tộc với

nhau đã rủ nhau đến khai phá và lập nghiệp, dần dần tạo nên cộng đồng người Dao đông đúc như
hiện nay.
Sinh kế của người Dao gắn với việc khai phát rừng để làm rẫy nên ở cộng đồng người
Dao tồn tại rất nhiều các miếu thờ các ma và thần. Đình và miếu là các thiết chế tín ngưỡng tôn
giáo gắn với cộng đồng dựa trên sự phân chia dựa vào địa vực cư trú và dòng họ. Do vậy, khi các
cộng đồng người này được phân nhóm vào các tổ chức hành chính, việc thực hành tín ngưỡng
này cụ thể là việc phân chia cúng ở các đình và miếu này vẫn trên cơ cở các cộng đồng cộng cư.
Trong làng có đình thờ 3 vị tiền hiền khai khẩn (Triệu Tiến Phúc, Triệu Dương Tiến, và Đặng
Xuân Hiện) vào lập làng và thờ con trâu và con khỉ và thần núi (san tảo miên) và một năm cúng
hai lần vào ngày 3 tháng 3 (tết hàn thực) và 22 tháng 12 âm lịch. Khỉ và trâu được thờ do đây là
hai con vật phá hoại mùa màng ngô và lúa của người Dao nhất. Đình trước được xây bằng gỗ sau
được xây kiên cố vào năm 2011. Tuy thôn có gần 200 hộ nhưng việc thực hiện cúng ở Đình này
chỉ có khoảng gần 100 hộ của xóm Ba Nhất chia làm 3 tổ thay nhau thực hiện, còn cư dân của
khoảng 62 hộ ở khu Đồng Lạt thì tham gia vào việc cúng Miếu cũng vào ngày tết hàn thực. Các
hộ dân khác tham gia vào việc cúng đình và miếu ở các cộng đồng lân cận khác. Cái tên Ba Nhất
có từ hồi thành lập hợp tác xã vào khoảng những năm 1960.
Tại thời điểm nghiên cứu được thực hiện, thôn Ba Nhất có 199 hộ dân với 172 hộ người
Dao, 7 hộ người kinh, và 20 họ là Tày Nùng. Tuy nhiên trong quá trình khảo sát của chúng tôi có
những hộ gia đình tuy được tính là hộ gia đình người Dao nhưng trong đó thật ra lại có chồng là
người Dao và vợ là người Kinh. Trước đó người Dao ở đây được gọi là người Dao Suối Lú. Ba
Hiện nay chỉ còn những người lớn tuổi thực hiện phong tục sơn đầu vào những dịp lễ tết. Tục sơn đầu trước
đây là các cô thiếu nữ người Dao đến tuổi cập kê đều sơn đầu bằng sáp ong. Mỗi lần sơn để tóc từ 3-4 tháng,
nếu tóc bị bẩn thì dùng chanh chà lên tóc để làm sạch. Sơn đầu là một trong những tiêu chuẩn để các chàng
trai tìm vợ.
8

19


xóm người Dao được gộp vào thành một hợp tác xã Ba Nhất. Ở đây phổ biến các họ Triệu Long,

Triệu Nho, Triệu Mốc, Đặng, Lý.
Diện tích tự nhiên của thôn là 2.000 ha, trong đó 40,34 ha đất trồng lúa, diện tích bãi soi
và đất trồng ngô là 80 ha, diện tích đất trồng chè là 50 ha, diện tích rừng tự nhiên là 240 ha còn
lại là diện tích rừng trồng (chủ yếu trồng cây keo và một số loại cây lấy gỗ). Đất ruộng ở đây là
những bãi đất bằng phẳng được người dân đắp bờ lên làm ruộng thường nằm ven sông hay suối;
bãi đất bồi hay còn gọi là bãi soi là nơi thường được dùng trồng ngô. Người dân trong thôn sống
chủ yếu bằng nông nghiệp trước là canh tác lúa và ngô nương, sau là lúa nước và ngô lai và từ
năm 2012-2013 chuyển sang trồng chè do đất đai cằn cỗi, chẳng hạn như trước đây 1 kg ngô
giống thu hoạch được từ 4 đến 5 tạ trong khi hiện giờ chỉ thu hoạch được từ 1 đến 2 tạ/ sào, bãi
soi là 2,5 tạ/ sào. Hiện nay, do chè có giá nên diện tích trồng chè tại thôn hiện nay ngày càng gia
tăng. Mỗi năm tăng thêm 10 ha.
Toàn thôn có hai quán bán tạp hóa. Dân trong thôn thường đi chợ ở thị trấn Đình Cả bằng
cách điện thoại cho người bán ngoài chợ (thường là thịt hay cá) gửi hàng đem về và gửi người
trong thôn đi chợ ở thị trấn Đình Cả đem về treo ở hai quán tạp hóa này với mảnh giấy đề tên
người mua để họ tự ra lấy. Việc mua bán này thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa các cư dân của
thôn với nhau và giữa cư dân thôn với cư dân thị trấn lân cận. Mối quan hệ này được thiết lập từ
lâu đời, được hình thành do nhiều người của thôn chuyển ra thị trấn buôn bán sinh sống và mối
quan hệ giao thương hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của cư dân thôn. Chăn nuôi
của thôn truyền thống là chăn nuôi gắn với nông nghiệp, theo đó các vật nuôi là lợn, gà, vịt, trâu
và bò. Vào giữa những năm 1990, lợn gà được chăn nuôi nhiều để phát triển kinh tế. Tuy nhiên
bắt đầu từ giữa những năm 2000, chăn nuôi giảm do dịch bệnh và giá cả bấp bênh. Nhà cửa được
xây dựng khang trang được cho là chủ yếu do tiền thu được từ giai đoạn trồng ngô.
Thôn Huổi Khoang và Phiên Khoài của tỉnh Sơn La
Thôn/ bản Huổi Khoang và Phiêng Khoài. Huổi Khoang nằm cách trung tâm xã Chiềng
Ban (vốn là nơi tập trung đông người Kinh) khoảng 1 km và cách thị trấn hát lót của huyện Mai
Sơn 25 km. Đây là hai trong 26 bản của xã Chiềng Ban. Xã Chiềng Ban đạt chuẩn nông thôn mới
vào năm 2015. Đây là một trong ba xã của tỉnh Sơn La đạt chuẩn nông thôn mới. Chiềng Ban
cũng là xã thí điểm xây dựng chương trình nông thôn mới của tỉnh và của huyện. Tổng kinh phí
đầu tư cho xã gần 57,6 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp gần 17 tỷ đồng, hàng nghìn ngày
công lao động và trên 20.000m2 đất xây dựng các công trình phục vụ đời sống, sản xuất. Đời

sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên, năm 2014, thu nhập bình quân đầu
người đạt 19,6 triệu đồng. Nhờ vào chương trình nông thôn mới, cơ sở hạ tầng của bản Huổi
Khoang thuận lợi, đáp ứng nhu cầu đi lại, chuyên chở nông sản của người dân. Trục đường giao
thông chính trong bản đã được bê tông hóa nhờ vào sự đóng góp của các hộ dân trong chương
trình nông thôn mới.9
Các hộ gia đình trong thôn Huổi Khoang sống tập trung dọc theo trục đường chính này,
xen kẽ những ngôi nhà được cất theo kiểu nhà sàn truyền thống làm bằng gỗ của người Thái là
những vườn cà phê hay các loại hoa màu (susu, bí xanh, bí đỏ, rau cải…). Đằng sau các ngôi nhà
trước khi tiếp giáp với phía chân đồi là các khoảng ruộng lúa và ao cá. Vườn cà phê thường nằm
Theo Bí thư xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, (xã có 26 bản trong đó có 21 bản người Thái, 5
bản người Kinh), trong chương trình nông thôn mới của xã, người dân đóng góp 17 tỷ. Tại
thôn Huổi Khoang, mỗi nhân khẩu đóng góp cho chương trình nông thôn mới tại thôn tổng
cộng là 1.400.000 đồng
9

20


ở những vùng đất đồi. Huổi Khoang cũng được người dân chia ra thành hai xóm: xóm Huổi
Khoang lấy nhà văn hóa thôn làm trung tâm và xóm Nong Pinh. Xóm Nong Pinh là “xóm gốc”
của người Thái ở đây. Vào thời Pháp thuộc, người Thái cư trú chủ yếu ở xóm này sau mới mở
rộng đến xóm Huổi Khoang vào khoảng từ năm 1945. Lúc chuyển ra chỉ khoảng có 3-4 hộ. Bản
Huổi Khoang có 70 hộ dân với 324 khẩu, 100% dân số là người Thái. Diện tích tự nhiên của Bản
là 100 ha, trong đó diện tích nông nghiệp là 54 ha. Diện tích trồng cây cà phê là 40 ha, diện tích
lúa 9,8 ha, còn lại là ao thả cá và đất ở, diện tích rừng núi đá 46 ha, mỗi hộ được 200 m2 đất thổ
cư. Ngoài ra, bản còn có 1,4 ha đất cộng đồng bản, là ao và ruộng để đấu thầu. Số tiền thu được
từ việc cho thuê này (8 triệu/ năm) được thôn dùng để tổ chức sinh hoạt tổng kết cuối năm của
thôn.
Bản Phiêng Khoài có 70 hộ với 290 khẩu với 100% là người Thái đen (Tai đăm), nằm
cách trung tâm xã 5 km. Bản có diện tích tự nhiên là 100 ha, diện tích đất nông nghiệp là 60 ha,

trong đó diện tích đất trồng cà phê là 50 ha; còn lại là diện tích đất ở và ao thả cá; diện tích rừng
là 40 ha, diện tích trồng ngô là 1,5 ha, và không có diện tích ruộng trồng lúa. Cư dân trong bản
cư trú dọc theo đường trải nhựa chạy xuyên qua bản, và các con đường tẻ vào các khu khác trong
bản cũng được bê tông hóa theo chương trình nông thôn mới. Khác với bản Huổi Khoang,
Phiêng Khoài này có nhiều hộ dân ngoài việc sơ chế phơi khô hạt cà phê thu hái của nhà mình
còn tổ chức thu mua cà phê của các nơi khác về sơ chế và sấy khô để làm cà phê nhân. Do vậy,
vào mùa chế biến cà phê nhân, đi dọc theo con đường vào trong bản, dòng nước thải đen ngòm
từ hai hàng cống thải lộ thiên dọc theo hai bên đường chứa nước thải chảy ra từ các bể nước
ngâm cà phê tươi đã lên men từ các hộ dân bốc lên mùi rất khó chịu bao trùm cả thôn bản.
Hàng năm vào tháng 8 âm lịch, người dân trong bản tổ chức lễ cúng bản (xên bản) quy tụ
tất cả dân trong bản tham gia. Lễ cúng thường được tổ chức ở đầu nguồn nước, nơi có cây đa to
và sau đó thì tập trung ăn uống ở nhà văn hóa bản. Tại hai bản, phổ biến các họ Lò, Hoàng, Hà,
Lường, Vi, Cầm…
4.2. Sinh kế cổ truyền ở các tộc người thiểu số: nền kinh tế duy tình10
Trước khi đi sâu trình bày về hệ thống sinh kế cổ truyền của các tộc người thiểu số ở Tây
Nguyên và phía Bắc, chúng tôi muốn quay trở lại với công trình nghiên cứu kinh điển về đặc
trưng của nền kinh tế cổ truyền của người nông dân của tác giả Jame Scott (1976) đề cập ở đầu
bài viết. Scott cho rằng, sinh kế truyền thống của người nông dân vùng Đông Nam Á, cho dù là
của các cư dân sinh sống ở đồng bằng hay miền núi hay bất luận của cư dân canh nương rẫy hay
ruộng nước, đều chia sẻ một nền kinh tế duy tình (moral economy),11 bị chi phối bởi cái mà Jame
Scott gọi là "đạo lý tự cấp tự túc" (subsistant ethic). Đặc trưng của đạo lý tự cập tự túc, theo tác
giả, là an toàn là trên hết. Theo đó, người nông dân có xu hướng tránh thực hành các hành vi có
thể tạo ra sự rủi ro, đặc biệt là làm cho đời sống kinh tế của gia đình họ rơi vào bên dưới ngưỡng
cho phép của một cuộc sống tự cấp tự túc. Để đảm bảo và duy trì được đạo lý tự cấp tự túc này,
người nông dân luôn có xu hướng tìm cách ngăn chặn hay chống lại các tác động có thể làm cho
họ rơi vào tình trạng bấp bênh về kinh tế từ bên ngoài. Người nông dân, thay vào đó, tìm cách
xây dựng, duy trì và phát triển các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật (socio-cultural and
techinical arrangements) để vấn an ninh lương thực của gia đình được đảm bảo. Các 'dàn xếp
Nội dung phần này được kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Hoàng Cầm, và một phần của nội dung được sử dụng
trong công trình cấp Nhà nước “Văn hoá và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên” (Lê Hồng Lý và các

cộng sự, 2014).
11
Ở Việt Nam, xem thêm Pamela (2013) và Lê Hồng Lý và các cộng sự (2014)
10

21


văn hoá - xã hội bao gồm các mô hình tương hỗ, hệ thống bảo trợ, sở hữu cộng đồng, vần công,
đổi công, hệ thống tôn giáo tín ngưỡng trong quản lý hành vi trong các hoạt động khai thác tự
nhiên, vv. Các dàn xếp kỹ thuật là những "cách thức quản lý sự đa dạng về giống truyền thống
của người địa phương, các kỹ thuật canh tác được xây dựng và phát triển qua hàng thế kỉ thông
qua cơ chế thử - sai để có được những mùa vụ ổn định và bền vững nhất có thể trong các tiểu
môi trường khác nhau'' (trích lại trong Yos 2008: 35-36). Trong bối cảnh của nền kinh tế duy
trình với sự chi phối mạnh mẽ của "đạo lý tự cấp tự túc", những cái có thể bị đánh giá là phi lý
như không vay nhiều vốn để sản xuất, không sẵn sàng chuyển đổi các giống cây trồng phục vụ
cuộc sống tự cấp tự túc sang nông nghiệp hàng hoá, không buôn bán để lấy lãi, vv..., theo tác giả,
có tính hợp lý riêng của chúng nếu đặt trong thể chế kinh tế này. Thể chế kinh tế vận hành theo
nguyên lý "đạo lý tự cấp tự túc", một mặt, có thể không khuyến khích sự tích luỹ và gia tăng của
cải bằng mọi giá. Tuy nhiên, đổi lại, các dàn xếp văn hoá – xã hội và kỹ thuật của thể chế kinh tế
này luôn đảm bảo sự ổn định về lương thực đối với một cuộc sống tự cấp tự túc cho hầu hết tất
cả các thành viên trong cộng đồng.
Các hoạt động sinh kế trong xã hội cổ truyền của các tộc người thiểu số ở địa bàn nghiên
cứu về cơ bản, mang đậm đặc trưng của một nền kinh tế duy tình với hàng loạt các dàn xếp văn
hoá – xã hội và kỹ thuật để đảm bảo triết lý tự cấp tự túc như các cộng đồng nông dân ở vùng
Đông Nam Á khác12. Các dàn xếp này, trước hết, được thể hiện rõ nét trong phương thức canh
tác nương rẫy,13 một hoạt động kinh tế chủ đạo và quan trọng nhất của các tộc người thiểu số tại
chỗ ở các địa bàn nghiên cứu trong xã hội truyền thống. Một trong những dàn xếp kỹ thuật quan
trọng, không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cuộc sống tự cấp tự túc, mà còn có vai trò bảo
vệ sự đa dạng sinh học và môi trường của hệ thống canh tác nương rẫy, là kỹ thuật đa canh và

xen canh. Thông thường, trên một mảnh nương, ngoài loại cây trồng chính là lúa hay ngô, người
dân còn trồng hàng chục loại rau, củ quả như đậu, bí, ớt, khoai môn, đu đủ, các loại cây thuốc
nam, vv...14 Thêm vào đó, trong một mùa vụ, một gia đình cũng thường canh tác cùng một lúc
một vài mảnh rẫy và giống lúa được trồng trên các mảnh rẫy phụ thuộc vào chất đất và các điều
kiện tự nhiên phù hợp với loại giống được chọn. Xét ở khía cạnh đầu ra của sản phẩm, kỹ thuật
đa canh và xen canh, có thể nói, luôn mang lại một sự đảm bảo về lương thực cho gia đình.
Bên cạnh đa canh và xen canh, các tộc người thiểu số tại chỗ còn có chiến lược bảo quản
và sử dụng sự đa dạng về giống. Với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ với hàng trăm năm
tương tác trong điều kiện môi trường cụ thể theo nguyên tắc 'thử - sai', người dân sử dụng các
loại giống khác nhau trên các loại đất và tiểu môi trường khác nhau sao cho năng suất được cao
nhất. Chính vì vậy, mỗi nhóm tộc người có thể sở hữu hàng chục loại giống lúa, hay hàng chục
Xem thêm các dàn xếp kỹ thuật và văn hoá – xã hội của các tộc người thiểu số tại chỗ tại 5 tỉnh Tây Nguyên ở
chương “Văn hoá đảm bảo đời sống” do tác giả Hoàng Cầm viết trong công trình Vai trò của văn hoá và lối sống
trong phát triển bền vững Tây Nguyên (Lê Hồng Lý và các cộng sự, 2014).
13
Mô tả một cách ngắn gọn nhất, nương rẫy có các đặc điểm sau: người dân phát quang một khoảnh rừng trong
phạm vi sở hữu của gia đình, cộng đồng để trồng trọt trong vài năm, hoặc thậm chí là trong chu kỳ một năm. Sau đó,
họ để hoá các mảnh nương cũ đã bạc màu trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từ 10 đến 20 năm đủ để
đất có lại màu rồi sau đó quay lại canh tác chính trên các mảnh nương đó.
14
Ví dụ, theo điều tra thực địa của Bùi Minh Đạo năm 1983, trên một đám rẫy của một gia đình người Ba Na, huyện
Kong Cho Ro, tỉnh Gia Lai, gia chủ trồng tổng cộng 18 loại cây trồng khác nhau, bao gồm: lúa (3 loại), ngô, bo bo,
bông, thuốc lá, ớt, bầu, cà đắng, mướp, dưa gang, dưa bở, sắn, khoai lang, cây họ nghệ để làm thuốc, mào gà, dứa,
và chuối. Nếu so với hình thức canh tác ruộng nước, với sản phẩm đầu ra duy nhất là lúa, thì nương rẫy với kỹ thuật
đa canh đem lại cho người nông dân nhiều sản phẩm hơn, đảm bảo cho cuộc sống tự cấp, tự túc của người dân.
12

22



×