Tải bản đầy đủ (.docx) (40 trang)

ĐÁNH GIÁ đáp ỨNG của UNG THƯ hạ HỌNG GIAI đoạn MUỘN SAU điều TRỊ hóa CHẤT TIỀN PHẪU THUẬT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (349.14 KB, 40 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

PHAN ĐỨC CHÍNH

ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG CỦA UNG THƯ HẠ HỌNG
GIAI ĐOẠN MUỘN SAU ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT
TIỀN PHẪU THUẬT

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

PHAN ĐỨC CHÍNH

ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG CỦA UNG THƯ HẠ HỌNG
GIAI ĐOẠN MUỘN SAU ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT
TIỀN PHẪU THUẬT
Chuyên ngành: Tai Mũi Họng
Mã số: 60720155
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Lê Minh Kỳ



HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC



DANH MỤC HÌNH


5

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC): ung thư hạ họng là ung thư
xuất hiện theo 3 vùng: xoang lê, vùng sau nhẫn phễu và vùng thành sau hạ
họng, là khối u ác tính xuất phát từ lớp biểu mô Malpighi của niêm mạc bao
phủ hạ họng
Tỉ lệ mắc bệnh rất khác nhau ở các nước và ngay cả các vùng, các tỉnh
trong cùng một nước cũng khác nhau. Ở Việt Nam, ung thư hạ họng đứng thứ
3 sau ung thư vòm, ung thư mũi xoang trong phạm vi ung thư vùng Tai Mũi
Họng. Theo thống kê của Pháp và Ân Độ thì ung thư hạ họng ở các nước này
cũng là loại ung thư hay gặp, chiếm từ 12-15% tổng số các loại ung thư của
đường ăn và đường thở trên, chiếm 1% trong các loại ung thư hay gặp ở Pháp
(Viện Gustave Roussy) [1].
- Về tuổi: Ở Việt Nam hay gặp nhất từ độ tuổi 50-65 (chiếm khoảng
75%) còn trước 50 và sau 65 tuổi chiếm khoảng 25%.
- Về giới tính: Ở Việt Nam cũng như một số nước khác (Pháp, Ý, Trung
Quốc, Hoa Kỳ...) ung thư hạ họng chủ yếu gặp ở nam giới, riêng ung thư
vùng miệng thực quản thì ở Anh và Canada lại hay gặp ở nữ giới (2/1).
Xu hướng ung thư hạ họng ngày tăng lên ở nam giới (98%) nhưng cũng
đồng thời tăng lên ở nữ giới do có sự lien quan tới các yếu tố nguy cơ: một số

yếu tố có liên quan hay gặp nhất là ở những người vừa nghiện rượu và thuốc
lá, ngoài ra các yếu tố kích thích niêm mạc họng như các khí, hơi, bụi mang
tính nghề nghiệp của những người hay tiếp xúc với các chất này.Theo báo cáo
của một số tác giả ở Anh thì loại ung thư miệng - thực quản hay gặp trên
những bệnh nhân có hội chứng Kelly-Paterson.
Ung thư hạ họng vẫn có tiên lượng xấu mặc dù đã có những tiến bộ về chẩn
đoán hình ảnh, về điều trị phẫu thuật, tia xạ và hiệu quả của điều trị hóa chất.


6

Phương pháp điều trị trước đây, giai đoạn còn phẫu thuật được thường
tiến hành cắt hạ họng thanh quản toàn phần hoặc 1 phần cho kết quả tương
đối khả quan. Tuy vây, bệnh nhân phải mất thanh quản và mang lỗ thở suốt
đời, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Giai đoạn không mổ được chủ yếu
điều trị hóa chất hoặc xạ trị nhằm giảm nhẹ triệu chứng, vớt vát cuộc sống.
Trong những thập kỷ qua, các trung tâm nghiên cứu về căn bệnh này đã sử
dụng phác đồ hóa – xạ trị đồng thời trong giai đoạn bệnh không mổ được và
thu được một số kết quả khả quan. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều trị
hóa chất tuy chưa làm tăng, cũng như chưa cải thiện được nhiều tỉ lệ sống sót
sau điều trị, nhưng lại cho phép có thể làm giảm thể tích khối u để bảo tồn
những trường hợp lan rộng vào thanh quản, hạ thấp giai đoạn bệnh, tạo thuận
lợi cho phẫu thuật, xạ trị đảm bảo chất lượng cuộc sống, cũng như giảm tỷ lệ
di căn và ung thư thứ hai.
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, đã có những quan điểm mới về
phối hợp hóa trị với xạ trị trong điều trị các ung thư đầu cổ giai đoạn muộn.
Hóa trị liệu làm tăng đáp ứng của tế bào u với xạ trị và làm giảm liều xạ trị
đối với u nguyên phát. Ngoài ra, sử dụng hóa trị liệu còn có thể giúp cho bảo
tồn tổ chức nguyên vẹn (như với ung thư thanh quản). Tại Hội nghị ASCO
năm 2010, phác đồ TCF chính thức được công nhận là phác đồ tân bổ trợ tiêu

chuẩn điều trị HNC giai đoạn không mổ [4]. Một số tác giả đã nghiên cứu thử
nghiệm ngẫu nhiên sử dụng hóa trị tuần tự với phác đồ TCF so sánh với phác
đồ PF, sau đó điều trị chính bằng xạ trị hoặc hóa xạ trị đồng thời đã có các kết
quả đầy hứa hẹn trong nhóm dùng TCF về tỷ lệ đáp ứng, tỷ lệ kiểm soát tại
chỗ/tại vùng và thời gian sống thêm
Tại Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về việc phối hợp hóa
chất đồng thời với xạ trị để điều trị ung thư vòm mũi họng, thanh quản hạ
họng…đã mang lại những tín hiệu đáng mừng của hiệu quả điều trị. Tuy


7

nhiên, việc đánh giá một cách tổng quát hiệu quả điều trị tiền bổ trợ phác đồ
TCF cho ung thư hạ họng ở giai đoạn không có chỉ định phẫu thuật chưa thực
sự được quan tâm một cách thỏa đáng. Với mong muốn không ngừng cải
thiện kết quả điều trị và dần dần triển khai điều trị hóa chất cho các ung thư
biểu mô vảy vùng Tai Mũi Họng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá đáp
ứng của K hạ họng giai đoạn muộn sau điều trị hóa chất tiền phẫu thuật”
với 2 mục tiêu:
1.

Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư hạ họng giai

2.

đoạn T3,4 (N0,1,2,3 – M0).
Đánh giá kết quả điều trị qua đáp ứng, thu gọn tổn thương thực thể và
thu gọn chỉ định phẫu thuật của ung thư hạ họng giai đoạn T3,4
(N0,1,2,3 – M0) theo phác đồ TCF.


Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử nghiên cứu về ung thư hạ họng
Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX Isamber và Klishaber đã bắt
đầu phân loại khối u ở bên trong và bên ngoài của thanh quản [2].


8

Năm 1878, Cheever người đầu tiên thực hiện phẫu thuật mở họng
đường bên kết hợp với việc cắt xương hàm dưới lấy u vùng hạ họng [3].
Năm 1901, Most mô tả hệ thống bạch huyết vùng họng là cơ sở cho việc
nạo vét hạch cổ trong các ung thư vùng đầu cổ (vùng hạ họng và thanh quản) [4].
Năm1904, Sebileau phát triển kỹ thuật mở họng phía sau bên sụn giáp
lấy u để điều trị ung thư hạ họng [3].
Năm 1906, lần đầu tiên thực hiện việc lấy bỏ hạch bạch huyết vùng cổ
cả khối trong ung thư di căn hạch cổ được Crile mô tả. Việc thực hiện phẫu
thuật này được biết như là một phẫu thuật nạo vét hạch cổ tiệt căn.
Năm 1913, Trotter phát triển thêm một bước kỹ thuật mở họng đường
bên lấy u vùng hạ họng [2] [3].
Năm 1960 Ogura và cộng sự đưa ra kết luận rằng các khối u ở vùng hạ
họng tuy nhỏ nhưng cũng phải cắt bỏ rộng rãi do tính chất xâm lấn của u [5].
Năm 1962, Andre, Pinel, Laccourreye mô tả kỹ thuật cắt thanh quản hạ họng bán phần phía trên sụn nhẫn để điều trị ung thư hạ họng.
Năm 1965 Mallen báo cáo kết quả sống 5 năm ở những bệnh nhân ung
thư hạ họng được điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn [30]. Ogura phát triển thêm
kỹ thuật cắt thanh quản - hạ họng bán phần mở rộng.
Năm 1992 Kirchner và owen đánh giá kết quả vị trí thường gặp và giai
đoạn T của bệnh nhân ung thư hạ họng.
Năm 1996 Laccourreye và cộng sự đánh giá kết quả phẫu thuật của 167
bệnh nhân ung thư xoang lê [26].

1.2. Giải phẫu hạ họng và các cấu trúc bị lan rộng trong ung thư hạ họng
giai đoạn III, IV [6] [3]
1.2.1. Giải phẫu hạ họng
Hạ họng nằm ở tầng dưới cùng của họng, là ngã tư của đường hô hấp
và tiêu hoá. Hạ họng ở giữa thanh quản và cột sống, về chiều cao nó đi từ bờ
trên của xương móng, nếp thanh thiệt tương ứng với bờ dưới đốt sống cổ 3
đển bờ dưới của sụn nhẫn tương ứng với đốt sống cổ 6.


9

Hình 1.1. Giải phẫu họng
Hình 1.2. Hạ họng
1. Vòm mũi họng, 2. Họng miệng, 3.
(nhìn từ phía sau)
Họng thanh quản (hạ họng), 4. Mặt
trước của họng miệng (ảnh ảo)
Hạ họng được chia thành ba vùng giải phẫu: phía trước là vùng sau sụn
nhẫn (post -cricoid region), phía sau là thành sau họng (posterior pharyngeal
wall) cũng là phần mềm phủ mặt trước các đốt sống từ cổ 4 đến cổ 6, hai bên
là máng họng - thanh quản và xoang lê (pyriform sinus)
1.2.1.1. Máng họng thanh quản

Hình 1.3. Rãnh họng - thanh quản (xoang lê) nhìn mặt sau
Giới hạn: Đi từ đầu trên của hạ họng - ngang tầm vùng trên xương
móng đến miệng thực quản. Gồm hai phần:
- Phần dưới của máng họng thanh quản, còn có tên là tầng sụn, chiếm
1/3 dưới của xoang lê. Đây là một cái nghách hẹp nằm giữa hai thành sụn,
thành bên ngoài là sụn giáp, thành bên trong là sụn nhẫn, ung thư ở đây thuộc
loại biểu mô rất biệt hoá có tính chất thâm nhiễm ít nhậy cảm với tia xạ.

- Phần trên của máng họng thanh quản còn có tên là tầng màng. Thành
trong của máng là nẹp phễu thanh thiệt, thành ngoài là màng giáp móng. Ung


10

thư ở đây thường xuất phát từ góc trước của máng hoặc ở thành trong của
máng (tức là mặt ngoài của nẹp phễu thanh thiệt) hoặc từ thành ngoài của
máng. Ung thư ở đây thường là thể sùi [7]
-Nó có các cấu trúc và liên quan quan trọng sau :
+ Ở thành trước có các cấu trúc ở bờ (lề) của lối vào thanh quản và mặt
sau của thanh quản.
+ Ở thành bên có cơ khít họng dưới và xoang quả lê. Xoang này có
được giới hạn ở giữa bởi nếp phễu - thanh thiệt và ở phía bên bởi mặt trong
của sụn giáp và màng giáp - móng
+ Liên quan trực tiếp với hạ họng ở mức thanh quản gồm có động
mạnh cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh X, còn liên quan
của thành sau hạ họng ngoài cơ khít họng còn có cân trước cột sống và thân
của các đốt sống cổ từ C3 đến C6.
- Biểu mô lót là biểu mô vảy xếp lớp không sừng hoá [8]
1.2.1.2. Xoang lê
Định nghĩa:[4] Xoang lê liên tiếp với máng bên họng miệng, hạ họng
thanh quản, là một vùng hõm xuống do niêm mạc ở khoảng hạ họng chũng
xuống tạo thành, xoang lê ở kèm hai bên của hệ thống thanh quản.
Đây là một vùng khó phân giới hạn, xoang lê nằm ở khoảng giữa của
máng họng thanh quản, máng này đi từ đáy lưỡi đến miệng thực quản.


11


Hình 1.4. Xoang lê: Các liên quan của xoang lê với thanh quản
Xoang lê có giới hạn như sau:
Ở trên, giới hạn là bờ dưới của nếp họng - thanh thiệt, nếp này đi từ mặt
bên của họng đến bờ ngoài của thanh thiệt, vào khoảng gặp nhau của hai phần
ba trên và phần ba dưới của bờ ngoài thanh thiệt.
Ở dưới, giới hạn là bờ dưới của nếp nhẫn - họng betz đi từ mặt bên của
họng (về phía dưới) cho đến bờ ngoài sụn nhẫn: nếp này nhìn rõ nhiều hay ít
tuỳ theo từng độ phát triển của các bờ dưới niêm mạc.
Nói chung, giới hạn của xoang lê có thể rõ rệt nhiều hay ít mà có khi rất
khó định một giới hạn thật chính xác. Ngoài ra, hai xoang lê phải và trái
không giống nhau hoàn toàn, thường một bên to, bên nhỏ (thường bên trái to
và rõ hơn).
Kích thước xoang lê: Là hai khoảng rỗng hình quả lê vòng khung ở hai
bên thanh quản, đầu dưới nhỏ như một ống, đầu trên mở thông với họng miệng.
Xoang lê có hình tháp tam giác:
- Đỉnh ở phía dưới bị cắt cụt.
- Đáy hướng lên trên mở rộng.
- Mặt sau mở ra phía sau thông với hạ họng và miệng thực quản.
1.2.1.3. Vùng sau nhẫn phễu và miệng thực quản


Vùng sau nhẫn phễu
Tương ứng với mặt sau thanh quản, niêm mạc phủ từ cao xuống thấp

gồm: mặt sau sụn phễu, cơ liên phễu và mặt sau của mặt nhẫn. Niêm mạc
vùng này tương đối dầy và có nhiều nếp nhăn. Niêm mạc ở giữa sụn phễu ít
khi là nơi xuất phát của u [4],[ 9]


Mệng thực quản

Tương ứng với bờ dưới sụn nhẫn, ngang tầm đốt sống cổ 6. Miệng thực


12

quản nối tiếp với phần dưới của hạ họng và là gianh giới hạ họng với thực
quản, có cơ vòng tương ứng với cơ nhẫn họng, cơ này chỉ mở ra khi nuốt.
Theo trường phái Anh thì ung thư miệng thực quản thuộc phạm vi hạ
họng. Về giải phẫu học vùng sau sụn nhẫn (post - cricoid area) còn gọi là
gianh giới họng thực quản (UICC 1978) bao gồm từ miệng thực quản đến
phần dưới hạ họng, bắt đầu từ phía trước là sụn phễu đến các nẹp, ra đến phía
sau là các khớp nhẫn phễu [10] [11.
1.2.2. Thành sau hạ họng
Là phần liên tiếp với thành sau họng đi xuống được tính từ vùng tương
ứng với đỉnh của thanh thiệt tới cơ nhẫn họng ở ngang tầm sụn nhẫn phễu.
Gianh giới bên được xác định không rõ ràng, coi như là vùng nối với thành
sau họng với hai bên và có một phần nhỏ thành họng bên ở phía sau của
xoang lê.
Phần nối giải phẫu rõ ràng được xem là gianh giới sau của thành bên
xoang lê. Thành sau hạ họng phân cách với cột sống bởi dây chằng trước cột
sống và khoảng sau họng. Là phần niêm mạc phủ phía trước cột sống đi từ cổ
3 đến cổ 6. Hai bên chỉ cách bó mạch cảnh bởi các cơ xiết họng [24].


13

1.2.3. Liên quan hạ họng [12]

Hình 1.5. Thành trước của họng (nhìn từ sau)
9. Hạnh nhân khẩu cái; 10. đáy lưỡi; 11. lồi của sừng lớn xương móng; 12.

Thượng thiệt (thanh thiệt); 13. Lồi của sừng nhỏ xương móng; 15. Xoang
lê;16. Sụn phễu; 17. Lồi sụn nhẫn; 20. Nếp phễu - thanh thiệt; 21. Lồi của
thần kinh thanh quản trên; 22. Thực quản; 23. Khí quản [7].
Hạ họng là tầng dưới cùng của họng, là ngã tư của đường hô hấp và
tiêu hoá, nó nằm ở phía sau thanh quản và trước cột sống cổ, chiếm một
khoảng từ bờ trên chỗ nắp thanh môn tới bờ dưới sụn nhẫn (về chiều cao, nó
đi từ xương móng đến bờ dưới của sụn nhẫn). Từ đó liên quan với thực quản.
- Mặt trước của hạ họng gồm hai phần:
+ Phần trên là lỗ thanh quản hay tiền đình thanh quản bị bao vây ở phía
trước bởi thanh thiệt, hai bên bởi hai nẹp phễu thanh thiệt, phía sau bởi hai
sụn phễu và mép sau. Nẹp phễu thanh thiệt là gianh giới giữa thanh quản và
hạ họng.
+ Phần dưới là mặt sau của sụn phễu và sụn nhẫn.


14

Hai thành bên: Là phần niêm mạc được nâng đỡ bởi xương móng,
màng giáp móng và mặt trong sụn giáp, là hai cái máng để đứng, đi từ nẹp
họng thanh thiệt xuống đến bờ trên sụn nhẫn. Máng gồm có hai bờ, bờ ngoài
là cánh của sụn giáp, bờ trong là thành bên của thanh quản. Hai máng này
mang tên là máng họng thanh quản hay xoang lê. Tiền đình thanh quản được
ngăn cách với xoang lê bởi nẹp phễu thanh thiệt, xoang lê là vị trí hay gặp ung
thư nhất. Thành sau liên tiếp với thành sau họng miệng nằm phía trước ba đốt
sống cổ 4, 5, 6.
Hạ họng là một cái ống mềm, bình thường xẹp và chỉ phình ra khi nào
có thức ăn đi qua. Hạ họng được nối liền với thực quản bằng một cái eo hẹp
gọi là miệng thực quản ngang mức đốt sống cổ 6. Dưới niêm mạc của xoang
lê có nhánh trong của thần kinh thanh quản trên đội niêm mạc lên, tạo nên nếp
thần kinh thanh quản [13]

- Ở trên liên tiếp với phần họng miệng.
- Ở duới tiếp nối với thực quản và là chỗ hẹp nhất của hầu.
Ung thư hạ họng 80 - 85 % là xuất phát từ xoang lê. Các khối u đi theo
máng họng – thanh quản lan lên đáy lưỡi, hố lưỡi thanh thiệt, khẩu cái mềm,
Amydal. Thành trong của xoang lê là nẹp phễu thanh thiệt, qua nẹp này khối
u dễ xâm lấn vào thanh quản (khoảng cạnh thanh môn, dây thanh, băng thanh
thất, hạ thanh môn, thanh môn, tiền đình thanh quản). Thành ngoài xoang lê là
màng giáp móng và khung sụn. U có thể xâm lấn vào sụn giáp, màng giáp
móng, cuống mạch thần kinh thanh quản, dây thần kinh thanh quản, dây quặt
ngược, da, tổ chức dưới da. Đỉnh xoang lê liên tiếp với miệng thực quản vì
vậy khối u ở vùng này có thể lan xuống miệng thực quản. Khi khối u đã xâm
lấn tới miệng thực quản thì khả năng phẫu thuật là rất hạn chế.


15

1.2.4. Phân nhóm hạch bạch huyết vùng cổ ứng dụng trong ung thư taimũi- họng [14] [15]

Hình 1.6. Tam giác bạch huyết Rouviere [ 8 ]
Vùng cổ có khoảng 200 - 600 hạch bạch huyết, chiếm khoảng 30%
tổng số hạch trong cơ thể. Hệ thống hạch bạch huyết ở vùng cổ chia thành hai
chuỗi: chuỗi hạch sâu và chuỗi hạch nông.
1.2.4.1. Chuỗi hạch sâu
Chuỗi hạch sâu còn gọi là chuỗi cảnh sâu, trải dài từ nền sọ cho đến bờ
trên xương đòn và được chia thành 3 nhóm: trên , giữa, dưới.
- Nhóm cảnh trên: Nhận những dẫn lưu bạch huyết từ khẩu cái mềm,
amidal, cung lưỡi khẩu cái và cung họng khẩu cái, mặt sau lưỡi, đáy xoang lê,
thanh quản (phần trên thanh môn), những nhóm hạch nông hơn ở phần cao
của vùng đầu mặt cổ (thành sau họng, nhóm hạch cạnh dây XI, tuyến mang
tai, hạch dưới hàm).

- Nhóm cảnh giữa nhận dẫn lưu từ thanh quản, phần thấp của xoang lê.
Nhóm này nhận dẫn lưu thứ phát của nhóm cảnh sâu phía trên và những hạch
thấp của vùng thành họng sau.
- Nhóm cảnh dưới nhận dẫn lưu từ tuyến giáp, khí quản, thực quản cổ.
Nhận dẫn lưu thứ phát từ nhóm cảnh trên, hạch quanh khí quản.


16

1.2.4.2. Chuỗi hạch nông [14] [15]
Chuỗi hạch nông là chạm dẫn lưu thứ phát như đã nói ở nhóm hạch
cảnh sâu. Nhóm hạch nông là nhóm dưới cằm, cổ nông, dưới hàm, nhóm dây
XI, nhóm trước cơ nâng vai.
Có nhiều cách phân loại hạch nhưng để đơn giản hoá, tiện ích trong áp
dụng phẫu thuật cũng như hiệu quả cao trong điều trị. Nhóm tác giả Memorial
Sloan- Ketery đã đưa ra cách phân loại theo vùng hiện được áp dụng rộng rãi
trên toàn thế giới. Hạch cổ được chia làm 6 nhóm:

Hình 1.7. Phân nhóm hạch bạch huyết vùng cổ [14],[15]
- Nhóm I: Nhóm dưới cằm và dưới hàm.
+ Nhóm Ia: Tam giác dưới cằm, giới hạn bởi bụng trước cơ nhị thân và
xương móng.
+ Nhóm Ib: Tam giác dưới hàm, giới hạn bởi bờ xương hàm dưới, bụng
trước và sau cơ nhị thân.
- Nhóm II: Nhóm hạch cảnh trên. Giới hạn:
+ Phía trước: bờ ngoài cơ ức móng.
+ Phía sau: Bờ sau cơ ức đòn chũm.
+ Phía trên: nền sọ.
+ Phía dưới : ngang mức xương móng (mốc lâm sàng), hoặc mức phân
đôi của động mạch cảnh chung ( mốc phẫu thuật).



17

Nhóm II được phân ra làm 2 nhóm nhỏ: IIa và IIb bởi dây thần kinh XI
(thần kinh phụ). Mốc lâm sàng phía trên cơ nhị thân và xương móng, mốc
phẫu thuật chỗ chia đôi của động mạch cảnh chung.
- Nhóm III: Hạch cảnh giữa. Giới hạn:
+ Phía trước: Bờ ngoài cơ ức móng.
+ Phía sau: Bờ sau cơ ức đòn chũm.
+ Phía trên: Ngang mức xương móng (mốc lâm sàng) hoặc phân đôi
của động mạch cảnh chung (mốc phẫu thuật).
+ Phía dưới: Ngang mức khớp giáp nhẫn (mốc lâm sàng), cơ vai móng
(mốc phẫu thuật).
- Nhóm IV: Nhóm hạch cảnh thấp. Giới hạn:
+ Phía trên: Ngang mức khớp nhẫn giáp (mốc lâm sàng) hoặc cơ vai
móng (mốc phẫu thuật).
+ Phía dưới: Xương đòn.
+ Phía trước: Bờ ngoài cơ ức móng.
+ Phía sau: Bờ sau cơ ức đòn chũm.
- Nhóm IV chia làm hai nhóm IVa và IVb.
+ Nhóm IVa: Dọc tĩnh mạch cảnh trong và nằm sâu dưới đầu ức của
cơ đòn chũm.
+ Nhóm IVb: Nằm sâu dưới đầu đòn của cơ ức đòn chũm.
- Nhóm V: Tam giác cổ sau (có 6 đến 10 hạch) giới hạn:
+ Phía trước: Bờ sau cơ ức đòn chũm.
+ Phía sau: Bờ trước cơ thang.
+ Phía dưới: Xương đòn.
Nhóm V được chia làm hai nhóm: Nhóm Va và Vb.
+ Nhóm Va: Gồm các hạch ở phần trên tam giác cổ sau, gồm các hạch

chạy dọc thần kinh phụ.


18

+ Nhóm Vb: Gồm các hạch chạy dọc theo động mạch cổ ngang, về
mặt giải phẫu hai nhóm được phân ra bởi bong dưới cơ vai móng.
- Nhóm VI: Nhóm hạch Delphian, nhóm hạch trước khí quản, trước sụn
nhẫn, quanh khí quản, hay còn gọi là khoang cổ trứơc. Giới hạn:
+ Phía ngoài: Bao cảnh.
+ Phía trên: Xương móng.
+ Phía dưới: Hõm xương ức
1.3. Chẩn đoán
Chẩn đoán ung thư hạ họng bao gồm chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoán
hình ảnh, chẩn đoán mô bệnh học và chẩn đoán giai đoạn.
1.3.1. Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào các triệu chứng cơ năng, thực thể, toàn thân.
1.3.1.1. Cơ năng
- Cảm giác khó chịu một bên họng, đặc biệt khi nuốt nước bọt.
- Đau họng một bên, lan lên tai, nuốt đau nhói lên tai.
- Nuốt vướng, nuốt khó, tiến triển tăng dần với chất đặc.
- Khản tiếng khi ung thư lan vào thanh quản.
- Ho, khạc đờm lẫn máu.
- Tăng tiết nước bọt.
- Hôi miệng.
1.3.1.2. Thực thể
Soi thanh quản - hạ họng trực tiếp: Đánh giá vị trí khối u, độ lan rộng,
kích thước đại thể, sự di động, hướng lan tràn, bề mặt của u sùi hay loét, liên
quan với các tổ chức xung quanh.
- Khám hạch cổ: Tỉ mỉ từng bên, đánh giá các đặc tính về vị trí, số

lượng, kích thước, mật độ, độ di động của hạch.
- Nội soi đường hô hấp- tiêu hoá trên tìm vị trí ung thư thứ hai, khoảng
10-15% bệnh nhân.


19

1.3.1.3. Toàn thân
- Bệnh nhân bị ảnh hưởng sớm do bệnh nhân không ăn uống được dẫn
tới gầy sút nhanh.
1.3.1.4. Phân loại TNM trong ung thư hạ họng (theo phân loại của UICC 2002) [3] [2] [16],[17]
* Khối u nguyên phát (T = Tumor).
T1 Khối u giới hạn ở một vị trí của hạ họng và kích thước < 2cm.
T2 Khối u xâm lấn hơn một vị trí của hạ họng hoặc chỗ liền kề, kích
thước từ 2- 4 cm, chưa cố định nửa thanh quản.
T3 Khối u kích thước > 4cm, cố định nửa thanh quản (sụn phễu). T4
T4a Khối u xâm lấn tuyến giáp, sụn nhẫn, xương móng, tuyến giáp,
thực quản, dưới da vùng cổ trước, phần mềm vùng cổ trước, của cổ.
T4b Khối u xâm lấn cân trước sống, động mạch cảnh trong,cấu trúc
trung thất. Giai đoạn này không có chỉ định phẫu thuật [16]
* Hạch lympho (N = Node)
Nx hạch lympho vùng không thể xác định được. N0 Không có dấu hiệu
lan tràn hạch.
N1 Di căn một vị trí hạch cùng bên kích thước < 3cm.
N2 Di căn một vị trí hạch cùng bên, có kích thước > 3cm nhưng < 6cm,
hoặc di căn nhiều hạch nhưng kích thước < 6cm.
N2a Di căn một vị trí hạch, cùng bên, kích thước > 3cm và < 6 cm N2b
Di căn nhiều vị trí hạch cùng bên kích thước < 6cm.
N2c Di căn hạch hai bên hoặc hạch đối bên, kích thước < 6cm. N3 Di
căn hạch kích thước > 6cm.

* Di căn xa (M= Metastasis) M0 Không có di căn xa. M1 Có di căn xa.
* Giai đoạn (Stage)
Giai đoạn S1: T1NoMo
Giai đoạn S2: T2NoMo


20

Giai đoạn S3: T3NoMo hoặc T1-3N1M0
Giai đoạn S4: T4No, N1Mo
Bất kỳ T N2, N3Mo Bất kỳ T, bất kỳ N, M1.
1.3.2. Chẩn đoán hình ảnh
Hạ họng là một khoang ảo khó đánh giá được hết các tổn thương ở các
vị trí khác nhau, cũng như là kích thước, độ xâm lấn các tổ chức xung quanh
bằng các phương pháp thông thường. Bởi vậy các phương pháp chẩn đoán
hình ảnh rất quan trọng trong việc đánh giá các tổn thương ác tính trong ung
thư hạ họng.
- Chụp X- quang cổ nghiêng để sơ bộ đánh giá tình trạng khối u
và thanh quản, phần mềm trước cột sống.
- Chụp cắt lớp vi tính vùng hạ họng
+ Đánh gía vị trí, kích thước của khối u, độ lan rộng sang các cơ quan
kế cận, đặc biệt một số vùng thăm khám lâm sàng không thể đánh giá được
như khoang giáp móng thanh thiệt, khoang quanh thanh môn, sụn giáp.
+ Đánh giá vị trí, kích thước, số lượng của hạch nhất là ở những trường
hợp hạch nằm ở sâu, bệnh nhân béo, cổ ngắn, sau xạ trị khó phát hiện hạch
qua sờ nắn trên lâm sàng.
+ Tiêu chí để đánh giá sự lan tràn hạch trên CT Scaner: Kích thước lớn
hơn 15mm ở lát cắt trục, có giảm tỷ trọng ở vùng trung tâm hạch.
- Siêu âm vùng cổ: Giúp so sánh với khám lâm sàng trong việc đánh giá
hạch cổ và theo dõi điều trị ở những bệnh nhân có ung thư đường hô hấp, tiêu

hoá trên, giúp định hướng cho việc chọc hút tế bào làm xét nghiệm tế bào học.
1.3.3. Chẩn đoán xác định
- Dựa vào các triệu chứng LS, CLVT
- Giải phẫu mô bệnh học: Là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán quyết định.


21

1.3.4. Chẩn đoán phân biệt
- Với các u ác tính vùng hạ họng: U lympho ác tính (Hodgkin, không Hodgkin), các hạch di căn từ nơi khác.
- Các u lành tính: U bạch mạch, u máu, u xơ thần kinh, u sụn, u cơ, u tổ
chức liên kết, lao, giang mai.
1.4. Điều trị
Điều trị ung thư hạ họng
Chỉ định điều trị phụ thuộc vào týp mô bệnh học, giai đoạn bệnh(cụ thể
là sự lan rộng của u, tình trạng di căn hạch vùng và di căn xa), tuổi, tình trạng
toàn thân (thể trạng, bệnh lý mãn tính, bệnh lý kèm theo).
Điều trị bao gồm điều trị u và hạch. Hiện nay có ba phương pháp điều
trị chính là: Phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, sử dụng đơn thuần hoặc phối hợp.
Ngoài ra còn có các liệu pháp trị liệu bổ trợ, như là liệu pháp miễn dịch và
đang nghiên cứu liệu pháp gien. Ung thư hạ họng phần lớn có týp mô bệnh
học là ung thư tế bào vẩy (carcinoma squamous cell), loại tế bào ít nhậy cảm
với xạ trị, hóa trị lên phẫu thuật vẫn là một điều trị −u tiên. Xạ trị và hóa trị ít
có chỉ định điều trị đơn thuần mà thường phối hợp phẫu thuật với xạ trị, phẫu
thuật với hóa trị hoặc phối hợp cả ba phương pháp. Xạ trị và hóa trị có thể
được dùng trước hoặc sau phẫu thuật. Xu hướng hiện nay là kết hợp cả ba
phương pháp phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.
1.4.1. Các phương pháp phẫu thuật hiện nay đang được áp dụng với ung
thư hạ họng là
- Cắt hạ họng bán phần (partial hypopharyngectomy): U còn nhỏ

T1,T2, giai đoạn S1, S2.
- Cắt thanh quản hạ họng bán phần (partial laryngohypopharyngectomy):
Được chỉ định với các khối u còn nhỏ, khu trú, giai đoạn S1, S2.
-

Cắt thanh quản hạ họng toàn phần (total laryngohypopharyngectomy):


22

Được chỉ định cho các trường hợp ung thư hạ họng lan rộng chiếm 2/3
chu vi của hạ họng, u lan rộng tới thành họng sau, u xâm lấn tối thiểu tới
miệng thực quản, u vùng sau sụn nhẫn ( giai đoạn S2, S3, S4).
- Cắt thanh quản hạ họng toàn phần + cắt đoạn thực quản
(laryngohypopharyngoesophagectomy): Được chỉ định khi khối u lan rộng
xuống miệng thực quản. Việc nạo vét hạch cổ chọn lọc, chức năng, tiệt căn
một bên hoặc hai bên trong ung thư hạ họng sẽ phụ thuộc vào giai đoạn bệnh.
1.4.2 Điều trị tia xạ
Tia xạ đơn thuần cho các tổn thương nhỏ khu trú đã có kết quả ngang
với phẫu thuật mà lại bảo tồn được cấu trúc giải phẫu.
Ở giai đoạn u tiến triển tại chỗ thường phẫu thuật với tia xạ hậu phẫu,
hoặc hóa chất tiêng bổ trợ - phẫu thuật – tia xạ hậu phẫu. tịa xạ trên diện tích
đã phẫu thuật cấn phân đồng đều liều tia trên diện cắt u nhắm tránh biến
chứng da và vùng tủy cổ. Các thử nghiệm lâm sàng đã được ứng dụng với các
máy tia xạ có điều biến liều, phân nhỏ liều, áp dụng công nghệ cao tia theo
không gian 3 chiều sẽ giảm được độc tính cho mô lành kế cận và tăng khả
năng thoái triển u
1.4.3 Điều trị hóa chất
Ngay từ những năm 1960 đã sử dụng đơn hóa chất với
Cyclophosphamide (endoxan) nhưng cho kết quả rất thất thường. Hóa chất

tiếp theo Methotrexate phối hợp với acid folinique và thuốc giải độc
(antidote) bằng đường tĩnh mạch hoặc đường động mạch đã cho kết quả khả
quan hơn. Vào những năm 1970 thị trường thuốc điều trị ung thư xuất hiện
thêm Bleomycine - kháng sinh điều trị ung thư cũng cho kết quả khá tốt. Giai
đoạn thứ 2, đã xuất hiện đa hóa trị liệu (polychimiotherapies), thường là sự
phối hợp của hai loại thuốc: Methotrexate, Oncovin, Bleomycine. Từ đó mở
ra một hướng điều trị khá hiệu quả đó là: phối hợp đồng thời của hai loại hóa
chất trên hai hướng tác dụng diệt tế bào ung thư khác nhau (Cisplátin với 5


23

FU). Cùng với đường đưa thuốc và cách thức truyền thuốc theo thời gian đã
cho phép làm giảm sự xâm lấn khối u, trong một số trường hợp có thể tiêu
diệt khối u đó là: đường truyền liên tục . Hiện nay có ba phương pháp điều trị
hóa chất chủ yếu:
- Hóa chất tân bổ trợ (Neoadjuvant therapy).
- Hóa xạ trị đồng thời
- Hóa chất bổ trợ sau phẫu thuật
1.5. Điều trị hóa chất tiền bổ trợ trong ung thư hạ họng
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, đã có những quan điểm mới về
phối hợp hóa trị với xạ trị trong điều trị các ung thư đầu cổ giai đoạn muộn.
Hóa trị liệu làm tăng đáp ứng của tế bào u với xạ trị và làm giảm liều xạ trị
đốivới u nguyên phát. Ngoài ra, sử dụng hóa trị liệu còn có thể giúp cho bảo
tồn tổ chức nguyên vẹn (như với ung thư thanh quản). Tại Hội nghị ASCO
năm 2010, phác đồ TCF chính thức được công nhận là phác đồ tân bổ trợ tiêu
chuẩn điều trị HNC giai đoạn không mổ [4] (20) . Một số tác giả đã nghiên
cứu thử nghiệm ngẫu nhiên sử dụng hóa trị tuần tự với phác đồ TCF so sánh
với phác đồ PF, sau đó điều trị chính bằng xạ trị hoặc hóa xạ trị đồng thời đã
có các kết quả đầy hứa hẹn trong nhóm dùng TCF về tỷ lệ đáp ứng, tỷ lệ kiểm

soát tại chỗ/tại vùng và thời gian sống thêm. Và từ ngày 28/9/2007, Cơ quan
quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chính thức công nhận áp dụng
nhóm Taxanes vào điều trị HNC.
Tại Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về việc phối hợp hóa
chất đồng thời với xạ trị để điều trị ung thư vòm mũi họng, thanh quản hạ
họng…đã mang lại những tín hiệu đáng mừng của hiệu quả điều trị
1.5.1. Định nghĩa
“Hóa chất tiền bổ trợ (Neoadjuvant - Induction therapy) là phương
pháp điều trị trước phương pháp ban đầu làm cho điều trị ban đầu dễ dàng
hơn nhằm làm tăng cơ hội chữa khỏi bệnh” [18],[ 19],[ 20],[ 21],[ 22]


24

HC TBT là bước điều trị đầu tiên bằng truyền từ hai đến ba đợt hóa
chất rồi tiếp tục bước điều trị triệt để bằng phẫu thuật và tia xạ hậu phẫu hoặc
tia xạ triệt để đơn thuần. HC TBT sẽ làm thuận lợi cho các bước điều trị tiếp
theo khi khối u đáp ứng tốt và thoái triệt thể tích u.
Hiện nay, với HC TBT còn được coi như một phương pháp chọn lọc
bệnh nhân cho các bước điều trị tiếp theo: hoặc vẫn tiếp tục phác đồ điều trị
cổ điển, hoặc chỉ cần tia xạ triệt để đơn thuần để nhằm bảo tồn các cơ quan
(như bảo tồn thanh quản trong UTHH đã lan rộng).
1.5.2. Các phương pháp điều trị tiền bổ trợ
Trong ung thư hiện nay thường dùng phương pháp để điều trị tân bổ trợ
sau: điều trị hóa chất, điều trị xạ trị, điều trị nội tiết. Ở một số bệnh ung thư
người ta phối hợp hai hoặc ba phương pháp trên để điều trị tân bổ trợ.
Các phương pháp điều trị tân bổ trợ mới khác đang được nghiên cứu:
thuốc tăng sinh mạch, điều trị hóa chất kết hợp tăng nhiệt độ tại chỗ, điều trị
hóa chất liều cao.
Một số phác đồ HCTBT [22],[23],[24]

- Phác đồ CF (Cisplatin 100 mg/m 2, TM, ngày 1. 5-Fluorouracil
1000mg/m2, TM, ngày 2-5. Chu kỳ 28 ngày).
- Phác đồ TCF (Docetaxel 75mg/m2 hoặc Paclitaxel 175mg.m2, TM
ngày 1> Cisplatin 75mg///m2, TM, ngày 3-6. Chu kỳ 28 ngày).
- Phác đồ Docetaxel (Taxotere) 100mg/m2, TM, 1 giờ, ngày 1. Chu kỳ 21 ngày.
- Phác đồ Paclitaxel (Taxol) 250mg/m2,TM, ngày 1, Chu kỳ 21 ngày.
- Phác đồ Paclitaxel + Cisplatin (Paclitaxel 200mg/m 2, TM ngày 1.
Cisplatin 75 mg/ m2, TM, ngày 2, Chu kỳ 21 ngày.
1.5.3. Liều và thời gian cần thiết của điều trị hóa chất tiền bổ trợ
Các nghiên cứu thường ấn định số đợt HC TBT từ 2 đến 3 đợt, thường
sau 3 chu kỳ điều trị hóa chất được đánh giá bằng nội soi hạ họng để đánh giá
đáp ứng. Một số bệnh nhân đạt thoái lui sau lđợt hóa chất, nhưng phần lớn
bệnh nhân là sau 3 chu kỳ hóa chất.


25

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Mẫu nghiên cứu
Gồm 30 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là Ung thư hạ họng ở
bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viện K, chia làm 2 giai đoạn:
-

Giai đoạn hồi cứu từ tháng 1/2016 - 8/2016
Giai đoạn tiến cứu từ tháng 9/2016-5/2017
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2017
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

- Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương.
- Bệnh viện K (cơ sở Tân Triều, Hà Nội).
2.1.4. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

1 Các bệnh nhân được trị lần đầu.
2 Tuổi dưới 70, cả 2 giới.
(3) Có chỉ số toàn trạng còn tốt: từ 0-2 theo thang điểm của nhóm hợp
tác ung thư phương đông (ECOG: Eastern Cooperation Oncology Group).

4

Có chẩn đoán mô bệnh học tại u là UTBM vảy, có chẩn đoán lâm

sàng, nội soi phóng đại, chẩn đoán hình ảnh (chụp CLVT, chụp ngực thẳng).
Chẩn đoán mô bệnh học: UTBM vẩy, phân độ Grads từ 1 đến 4. Tất cả
các bệnh nhân này đều có chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học là UTBM
vẩy (SCC) tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương.

5

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan thận, tủy sống bình thường.

Các xét nghiệm cờ bản:
+ Bạch cầu > 4 G/L Huyết sắc tố > 125g/l.
+ AST/ALT < 40 UI/1.

Tiểu cầu > 150G/1
Creatinin



×