BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HOÀNG MINH HƯƠNG
LỖI THUỐC THƯỜNG GẶP
Ở BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG
VÀ MỘT SỐ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HOÀNG MINH HƯƠNG
LỖI THUỐC THƯỜNG GẶP
Ở BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG
VÀ MỘT SỐ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Nội khoa
Mã số: 60720140
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Hồ Thị Kim Thanh
HÀ NỘI – 2017
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lỗi thuốc là một trong những lỗi phổ biến nhất của lỗi y tế [1]. Người ta
ước tính rằng lỗi thuốc có thể làm mất 500 triệu đôla mỗi năm cho những
ngày phải điều trị thêm ở bệnh viện [2].
Ngày càng nhiều các loại thuốc mới ra đời thì bên canh cải thiên tình
trạng sức khỏe ngày càng được nâng cao, thì các lỗi do thuốc xảy ra càng
nhiều [3]. Lỗi thuốc có thể do nguyên nhân khách quan, do kiến thức y học là
rộng lớn, bệnh lý biến chuyển nhanh, nhân viên y tế không thể làm gì khác;
song cũng có nguyên nhân chủ quan từ phía nhân viên y tế. Nguyên nhân chủ
quan có thể do sự mệt mỏi, do áp lực công việc, do quá tải; do phân tâm, lo
lắng cơm áo vật chất đời thường; do sự chủ quan của thầy thuốc.Lỗi thuốc là
lỗi xảy ra trong các giai đoạn của quá trình dùng thuốc - kê toa, pha chế, quản
lý và giám sát hiệu quả. Đặc biệt ở những người cao tuổi thường mắc nhiều
bệnh man tính, thường có nhiều loại thuốc cần được sử dụng trong ngày thì
việc sai sót về thuốc càng có nguy cơ cao sảy ra [4]. Người cao tuổi có sự
biến đổi về sức khoẻ, khuyết tật, sự thay đổi liên quan đến tuổi tác và liên
quan đến việc đa dạng hóa các khuyến cáo về kê đơn.
Việc sử dụng thuốc ở người lớn tuổi thường không thích hợp và sai lầm,
một phần vì sự phức tạp của kê đơn và một phần do nhiều yếu tố bệnh nhân,
nhà cung cấp và sức khoẻ ảnh hưởng đáng kể đến giá trị điều trị của thuốc ở
người cao tuổi. Một tỷ lệ cao các lỗi về thuốc ở người lớn tuổi dẫn đến sự tích
tụ các yếu tố góp phần gây ra các sai sót về thuốc ở mọi lứa tuổi. Mặt khác,
các khía cạnh cụ thể của người cao tuổi đóng một vai trò trong những sai sót
về thuốc. Bao gồm các thay đổi về dược lý liên quan đến tuổi tác, thiếu các
bằng chứng cụ thể về hiệu quả và tính an toàn của thuốc, không sử dụng đánh
giá người cao tuổi, ít sử dụng các dạng thuốc cung cấp liều lão khoa, và sự hài
hoà không đầy đủ các khuyến cáo ở người lớn trên khắp Châu Âu. Sự khan
hiếm các liệu pháp lâm sàng cho người cao tuổi và các dịch vụ dược lâm sàng
gây khó khăn. Có những khoảng trống trong nghiên cứu và thực hành lâm
sàng dẫn đến những sai sót về thuốc ở người cao tuổi, điều này phải được giải
5
quyết bằng các nghiên cứu trong tương lai và các biện pháp điều chỉnh để hỗ
trợ việc sử dụng thuốc không đúng và thích hợp ở những người này.Số người
giàtrên toàn thế giới ngày càng tăng, hiện tại chiếm khoảng 8,3% dân số thế
giới. Dự kiến lên đến 30% vào năm 2050 [5].
Một nghiên cứu về lỗi thuốc của Maki Muroi, M.S., RNa, Jay J. Shen,
Ph.D. năm 2016 chỉ ra rằng: Lỗi thuốc là một trong những nguyên nhân chính
gây ra sai sót trong bệnh nhân nội trú, dẫn đến ít nhất 1,5 triệu vụ kiện bất lợi
có thể ngăn ngừa được mỗi năm tại Hoa Kỳ (ViệnY học [IOM], 2006). Lỗi
trong quá trình sử dụng thuốc có thể gây hại. Bệnh nhân đáng kể và thậm chí
có thể dẫn đến tử vong. Nó đã được báo cáo có tới 98.000 người tử vong do
lối thuốc mỗi năm tại Hoa Kỳ Các quốc gia (Kohn, Corrigan, & Donaldson,
2000). Mặc dù quản lỳ an toàn thuốc đã nhận được sự quan tâm đáng kể từ
các nhà nghiên cứu và tổ chức chăm sóc sức khoẻ trong hai thập kỷ qua,
nhưng lỗi thuốc vẫn là một vấn đề an toàn bệnh nhân chủ yếu trong chăm sóc
điều dưỡng một nghiên cứu của Vương quốc Anh đã phát hiện ra rằng:12%
trong số tất cả các bệnh nhân chăm sóc ban đầu có thể bị ảnh hưởng bởi kê
toa hoặc theo dõi lỗi trong một năm, tăng lên 38% ở những người từ 75 tuổi
trở lên và 30% ở bệnh nhân dùng 5 thuốc trở lên trong thời gian 12 tháng. [6]
Một nghiên cứu của Mỹ chỉ ra lỗi thuốc gặp ở bênh viên từ 60 tuổi chở lên là
10% trung bình là 5,6 % [7]. Tỷ lệ nam (59%) gặp nhiều hơn ở nữ,độ tuổi
thương gặp là 70-74 tuổi [7]. Trong đó các lỗi thường gặp nhất là sai thời
gian (43%), bỏ sót (30%), sai liều (17%) và thuốc sai chỉ định (4%) [8]
Trong khi đó ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu chính thức nào về lỗi thuốc
gặp trong bênh viên, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Lỗi thuốc
thường gặp ở bệnh viện Lão khoa Trung ương và một số các yếu tố liên
quan” nhằm mục tiêu:
1. Phát hiện các lỗi thuốc thường gặp ở bệnh nhân tai bênh viện Lão
khoa Trung ương.
2. Xác định tỷ lê các thuốc thường gây ra lỗi.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa người cao tuổi
Theo Luật người cao tuổi số: 39/2009/QH12 của Quốc hội Nước CHXHCN
Việt Nam, người cao tuổi là người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên.
1.2. Định nghĩa lỗi thuốc
Lỗi thuốc là môt sự thấy bại trong việc điều trị, dẫn đến hoặc có khả
năng dẫn đến việc gây hại cho bênh nhân. Lỗi có thể xaỷ ra khi quyết định
loại thuốc, liều lượng sử dụng thuốc, lúc viết đơn thuôc (không rõ hàm lượng
thuốc, không rõ tên thuốc dẫn đến nhâm loại thuốc). Trong quá trình dùng
thuốc (sai đường dùng, sai tần số, sai liều lượng, sai thời gian). Lỗi thuốc còn
có thể xảy ra trong quá trình theo dõi điều trị như không thay đổi liệu pháp
điều trị khi có yêu cầu thay đổi [9].
Hình 1.1. Biểu đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa Các phản ứng phụ, ADR
(phản ứng có hại của thuốc) và các sai sót về thuốc men; Kích cỡ của Các
hộp không phản ánh tần suất tương đối của Các sự kiện được minh họa [10]
7
Lưu ý rằng định nghĩa không chỉ rõ người tạo ra lỗi - đó có thể là bác
sĩ, y tá, dược sĩ, người chăm sóc hoặc bệnh nhân; Cũng không xác định người
chịu trách nhiệm ngăn ngừa sai sót.
1.3. Định nghĩa thuốc
Theo FDA (2004), một loại thuốc được định nghĩa là một chất mà được
công nhận bởi dược phẩm chính thức hoặc dược phẩm; Dự định sử dụng chẩn
đoán, điều trị, giảm nhẹ, điều trị, hoặc phòng bệnh. Nhằm tác động đến cấu
trúc hoặc bất kỳ chức năng nào của cơ thể (trừ thực phẩm). Máu, các sản
phẩm của máu và các mô để cấy ghép được loại trừ [11].
Một sự kiện có hại của thuốc (hoặc một kinh nghiệm có hại của thuốc )
làkết quả không thuận tiện xảy ra trong hoặc sau khi sử dụng một loại thuốc,
cho dù tác dụng có hại đó có thể ngăn ngừa hoặc không. Một phản ứng có hại
của thuốc là một sự kiện có hại của thuốc được đánh giá là được gây ra bởi
thuốc [12].
Tổ chức Y tế thế giới đã xác định một phản ứng có hại của thuốc là một
phản ứng với một loại thuốc gây tác động có hại và không lường trước khi
dùng ở liều thường được sử dụng trong con người để dự phòng, chẩn đoán,
hoặc điều trị bệnh [13].
1.4. Phân loại sai sót về thuốc
Cách tốt nhất để hiểu được lỗi của thuốc xảy ra như thế nào và cách ngăn
ngừa chúng là xem xét phân loại của chúng, có thể theo bối cảnh, phương
thức, hoặc tâm lý. Phân loại theo ngữ cảnh đề cập đến thời gian, địa điểm,
thuốc men và những người có liên quan. Phân loại phương thức kiểm tra cách
thức xảy ra lỗi (ví dụ do bỏ qua, lặp lại hoặc thay thế). Tuy nhiên, việc phân
loại dựa trên lý thuyết tâm lý [14] sẽ được ưa thích, vì nó giải thích các sự
8
kiện chứ không chỉ mô tả chúng. Bất lợi của nó là nó tập trung vào con người
chứ không phải là hệ thống các nguồn lỗi [15].
Các nhà tâm lý học xem lỗi là rối loạn hành động cố ý, và họ phân biệt
giữa sai sót trong việc lập kế hoạch hành động và sai sót trong việc thi hành.
Nếu một ý định trước đó để đạt được một mục đích cụ thể dẫn đến hành động,
và hành động dẫn đến mục tiêu, tất cả là tốt. Nếu kế hoạch hành động có chứa
một số lỗ hổng, đó là một 'sai lầm'. Nếu kế hoạch là một kế hoạch tốt nhưng
bị xử lý nặng nề, đó là sự thất bại của kỹnăng.
Cách tiếp cận này mang lại bốn loại lỗi về thuốc (từ 1-4 trong Hình 2)
[15, 16]. Sai lầm có thể được chia thành (i) lỗi dựa trên kiến thức và (ii) các
lỗi dựa trên quy tắc. Sự thất bại của kỹ năng có thể được chia thành (iii) lỗi
dựa trên hành động ('phiếu', bao gồm cả lỗi kỹ thuật) và (iv) lỗi dựa trên bộ
nhớ ('lapses').
Việc phân loại sai sót về thuốc dựa trên phương pháp tiếp cận tâm lý [17]
Sai sót dạng hoạt động (active errors): Sai sót có ảnh hưởng ngay lên
bệnh nhân
9
Sai sót dạng tiềm ẩn (latetent errors): Có ảnh hưởng trì hoãn, thường dễ
xác định, vì vậy có thể điều chỉnh được khi tái xuất hiện.
10
1.5. Các loại lỗi thuốc thường gặp tại bệnh viện
1.5.1. Viết nhầm tên thuốc
Hiện nay, có đến hàng trăm ngàn tên thuốc gốc và biệt dược, trong đó
nhiều tên thuốc khi đọc lên nghe na ná nhau Ví dụ: Celebrex, Cerebyx. Đã có
những sai lầm nghiêm trọng về dùng thuốc do sự cố tên thuốc gần giống
nhau, chẳng hạn có trường hợp tử vong do bác sĩ cho thuốc Amrinone (gây
giãn mạch) mà lẽ ra phải cho Amiodarone (chống loạn nhịp tim).
1.5.2. Thiếu hiểu biết
Hầu hết những sai lầm trong kê đơn là do thầy thuốc không chú ý đến
chống chỉ định và sự tương tác của thuốc. Ví dụ Celecoxib có tác dụng phụ là
gây dị ứng; Nếu sơ ý kê đơn thuốc này cho bệnh nhân mẫn cảm với
Sulfonamid thì kết quả sẽ xảy ra dị ứng nghiêm trọng. Nhiều thuốc có chống
chỉ định hoặc phải dùng thận trọng ở một số bệnh nhân đang có trạng thái
bệnh lý nào đó, như Metformin không nên dùng cho bệnh nhân suy thận;
Không dùng thuốc chẹn beta cho bệnh nhân hen...
1.5.3. Nhầm lẫn về liều lượng
Cũng là vấn đề rất thường gặp. Theo một nghiên cứu ở Mỹ, trong số
những lỗi về liều lượng thuốc, cho quá liều chiếm 41,8%, cho không đủ liều
chiếm 16,5%. Với một số thuốc như Digoxin thì liều lượng cần dựa trên trọng
lượng cơ thể lý tưởng, nhưng với nhiều thuốc khác như Heparin thì liều lượng
phải căn cứ vào trọng lượng cơ thể thực sự. Nếu bệnh nhân bị dư cân mà cho
Digoxin với liều lượng tính theo trọng lượng cơ thể thực sự thì có khả năng
quá liều. Dùng kháng sinh Gentamycine cho bệnh nhân thuộc diện béo phì
thì nên điều chỉnh liều lượng theo công thức: (trọng lượng cơ thể lý tưởng +
0,4 x trọng lượng cơ thể thực sự).
Dùng thuốc quá liều lượng có thể đe dọa đến tính mạng, còn dùng không
đủ liều thì việc điều trị không kết quả. Nhiều sai lầm khác về liều lượng cũng
11
có thể xảy ra khi lấy liều dùng cho người trưởng thành dùng cho trẻ em hoặc
người cao tuổi; Với những bệnh nhân này cần điều chỉnh liều lượng theo tầm
vóc, khả năng chuyển hóa và đào thải của thuốc.
1.5.4. Đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc
Có thể gây hậu quả nghiêm trọng, ví dụ Digoxin 0,125mg lại viết nhầm
là 1,25mg (tăng liều lượng thuốc lên 10 lần); viết Terbutaline 2,5mg tiêm dưới
da thay vì phải kê 0,25mg, sở dĩ ghi nhầm vì Terbutaline còn có dạng viên với
hàm lượng 2,5mg.
1.5.5. Không nhận định đúng về dạng hàm lượng thuốc
Các dạng hàm lượng của thuốc có tác dụng sinh học và dược động học
khác nhau, do đó nếu nhầm lẫn về dạng hàm lượng thuốc có thể dẫn đến
những tác dụng trị liệu khác nhau. Ví dụ Hydralazine là thuốc hạ huyết áp có
dạng ống tiêm và viên uống; Khi chuyển dạng tiêm tĩnh mạch sang dạng
uống, cần nhớ rằng dạng uống chỉ có tác dụng sinh học vào khoảng 30-50%
so với dạng tiêm tĩnh mạch, cho nên liều uống cần cao hơn mới thu được tác
dụng như liều tiêm.
1.5.6. Nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày
Mặc dù dạng hàm lượng của một số thuốc quy định khoảng cách dùng
thuốc trong ngày, nhưng vẫn có thể có lỗi không thận trọng của thầy thuốc, ví
dụ cao dán Clonidine chỉ dùng mỗi tuần một lần, nhưng lại ghi là “mỗi ngày”.
Làm như vậy đã thay đổi tính chất dược lý và dược động học của thuốc.
Nhiều thuốc cần tôn trọng nghiêm ngặt số lần dùng trong ngày hoặc giờ dùng
thuốc, ví dụ Tetracycline 500mg cần uống 4 lần trong ngày, thuốc tránh thai
cần uống vào một giờ nhất định...
1.5.7. Viết chữ quá khó đọc, quá tháu và không thận trọng khi dùng các chữ
viết tắt
Đây là lỗi rất phổ biến. Một nghiên cứu về vấn đề này đã thống kê có
đến hơn 50% số đơn thuốc không đọc được tên thuốc, liều lượng và cách
12
dùng. Nhiều thầy thuốc chữ viết đã khó đọc lại viết rất tháu. Tuy viết tắt giúp
tiết kiệm thời gian nhưng xem ra “lợi bất cập hại” vì có nguy cơ gây nhầm
lẫn. Liều lượng thuốc có khi tính theo đơn vị quốc tế (viết tắt là IU) nhưng vì
vội thầy thuốc đã viết chữ U thành chữ O, làm cho liều lượng tăng lên 10 lần;
Không được viết tắt microgram là mg vì có thể nhầm với mg. Trình bày đơn
thuốc rõ ràng với những lời căn dặn cẩn thận chính là sự thể hiện ý thức trách
nhiệm của bác sĩ đối với người bệnh.
1.5.8. Không chú ý đến tương tác thuốc
Muốn tránh sai sót này, cách tốt nhất là thầy thuốc phải luôn nâng cao
hiểu biết về thuốc. Không kê quá nhiều thứ thuốc không cần thiết. Nên biết
rằng dùng đồng thời từ 2 Loại thuốc trở lên hoặc dùng thêm một loại thuốc
vào chế độ thuốc đã ổn định đều có nguy cơ gây ra tương tác thuốc. Hậu quả
có thể gặp là làm thay đổi tính chất dược lý, làm thuốc độc hơn hoặc triệt tiêu
mọi tác dụng có lợi của thuốc mới thêm vào. Dùng kháng sinh ở phụ nữ đang
dùng thuốc tránh thai có thể làm giảm hiệu quả tránh thai và dẫn đến có
thai ngoài ý muốn. Cần chú ý đến tương tác thuốc giữa Theophylline và
Erythromycine, Digoxin và Quinidine, Rifampin và thuốc tránh thai. Tương
tác thuốc cũng có thể xảy ra do cách dùng thuốc, ví dụ cho Phenytoin và
Ciprofloxacin qua ống thông dạ dày để nuôi bệnh nhân sẽ làm giảm tác dụng
hấp thu của thuốc.
1.5.9. Không chú ý điều chỉnh liều lượng
Cần căn cứ vào chức năng thận, gan hay tim mạch của người bệnh để
điều chỉnh liều lượng thuốc phù hợp. Phần lớn kháng sinh được đào thải qua
thận và do đó có thể bị tích tụ ở bệnh nhân suy thận. Mặc dù dùng quá liều
kháng sinh có thể đem lại tác dụng diệt khuẩn cao nhưng cũng có thể gây ra
những ảnh hưởng xấu không hồi phục. Những thuốc dễ sai sót khi kê đơn là
thuốc kháng sinh (39,7%), thuốc tim mạch (17,5%).
13
1.5.10. Không quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc:
Thiếu sót này có thể dẫn đến nhiều tai biến nghiêm trọng về tương tác
thuốc. Chẳng hạn bệnh nhân hen nhạy cảm với Aspirine, vì vậy cho dùng
thuốc giảm đau chống viêm không có nhân steroid để chữa đau lưng có thể
dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng; Cũng như không được tiêm Penicilline
cho người đã từng bị dị ứng với thuốc kháng sinh này [18].
1.5.11. Những lỗi thuốc có thể xẩy ra trong thực hiện y lệnh thuốc và giám
sát thực hiện thuốc
- Sai sót bỏ lỡ:
+ Thất bại trong việc đưa thuốc đến bệnh nhân theo y lệnh
+ Không bao gồm các trường hợp
● Bệnh nhân từ chổi sử dụng thuốc
● Không sử dụng do phát hiện chống chỉ định
● Các nguyên nhân rõ ràng khác (bệnh nhân vắng mặt,hết thuốc )
- Sai thời gian: Cho bệnh nhân sử dụng thuốc không đúng thời gian theo
y lệnh
- Dùng thuốc ngoài phạm vi cho phép bao gồm cả: sai thuốc, liều thuốc
không đúng bệnh nhân, thuốc không có trong y lệnh, choy lệnh thuốc không
có trong phác đồ
- Sai liều:
+ Cho bệnh nhân sử dụng thuốc liều cao hơn hoạc thấp hơn, hoặc số
lần sử dụng không theo y lệnh.
+ Không bao gồm: Các sự chênh lệch được cho phép (như thuốc phụ
thuộc vào thân nhiệt bệnh nhân hoặc mức đương huyết); các thuốc sử dụng tại
chỗ không ghi liều.
- Sai cách chuẩn bị thuốc: Pha loãng thuốc sai,trộn lẫn thuốc không phù hợp
14
- Sai đường sử dụng: Thuốc đúng nhưng sai đường sử dụng. Bao gồm cả
sai đường sử dụng so với y lệnh.
- Dùng thuốc giảm chất lượng: Thuốc hết hạn hoặc bị thoái biến (do bảo
quản,.. )
1.5.12. Sai sót do bệnh nhân
Bệnh nhân có hành vi không phù hợp vời thuốc đã cho y lênh.
1.5.13. Các sai sót khác: Các sai sót không thuộc những sai sót đã phân loại trên
1.6. Phân độ sai sót trong sử dụng thuốc:
1.7. Các yếu tố nguy cơ làm gia tăng sai sót trong sử dụng thuốc
- Các ca trực ngày thường ghi nhân các sai sót thuốc nhiều hơn
- Nhân viên không có kinh nghiệm và không được huấn luyện phù hớp
sẽ dễ có sai sót thuốc cao hơn
15
- Dịch vụ y tế: Nhóm bệnh nhân cần dịch vụ chăm sóc đặc biệt có tần
suất chịu sai sót cao hơn như nhi khoa, lão khoa, ung thư
- Số lượng y lệnh trên bệnh nhân: Bệnh nhân có số lượng thuốc theo y
lệnh cao hơn có tần suất chịu sai sót cao hơn
- Yếu tố môi trương: Bao gồm các yếu tố như ánh sáng, nơi làm viêc
không đầy đủ làm việc trong môi trường ồn ào. Công việc bị ngắt quãng dễ
làm phát sinh các sai sót
- Nhân viên y tế làm việc trong điều kiện quá tải và mệt mỏi dễ ra sai sót hơn
- Hạn chế giao tiếp giữa các nhân viên y tế với nhau sẽ dễ gây ra sai sót hơn
- Rạng thuốc tiêm dễ gặp sai sót, và các sai sót cũng thường nghiêm
trọng hơn
- Điều kiện bảo quản thuốc không đảm bảo
- Các thuốc dễ nhầm lẫn với nhau như tên gọi tương tự nhau, hình thức
đóng gói giống nhau, dán nhãn tương tự nhau, dễ tạo cho sai sót suất hiện
- Phân nhóm thuốc: Những thuốc kháng sinh, thuốc tim mạch dễ gây sai
sót thuốc
- Chứ viết tay của bác sỹ khó đoc là điều kiện thuận tiện tạo ra các sai
sót thuốc
- Các y lệnh miệng đơn thuần khiến các sai sót thuốc dễ nảy sinh hơn
- Làm việc không theo quy trình, hay quy trình không hiệu quả cũng làm
các sai sót trong sử dung thuốc dễ nảy sinh hơn.
16
17
18
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương,
không phân biệt giới tính
- Tất cả các bác sĩ, điều dưỡng viên tại khoa lâm sàng và dược sĩ tại khoa
Dược của Bệnh viện Lão Khoa trung ương
2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các sai sót thuốc xảy ra trên bệnh nhân nội trú điều trị ở khoa
lâm sàng tại bệnh viện Lão khoa Trung ương trong khoảng thời gian từ
10/2017 đến ngày 08/2018.
- Công đoạn kê đơn/ra y lệnh, sao chép, cấp phát thuốc
2.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Báo cáo liên quan đến các trường hợp tự tử, thử test phản ứng kháng Sinh
- Các báo cáo không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không mô
tả biểu hiện triệu chứng liên quan đến sự cố về thuốc được xếp vào nhóm
không đủ điều kiện đánh giá.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: tháng 10/ 2017 đến tháng 08/ 2018.
- Địa điểm: Bệnh viện Lão khoa Trung ương.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.4.2. Cách chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ.
19
Cỡ mẫu được tính theo công thức: n =
p.(1-p)
n: cỡ mẫu nghiên cứu
α: mức ý nghĩa thống kê, với α = 0,05 thì hệ số Z1- α/2 = 1,96
- Phương pháp thu thập số liệu: đối với nhân viên y tế là thông qua quan
sát trưc tiếp và bộ câu hỏi tự điền
+ Bộ câu hỏi được thiết kế bao gồm câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu hỏi
Có/Không và câu hỏi thăm dò.
+ Bộ câu hỏi đảm bảo bí mật tên người trả lời, không phân biệt giữa các
khoa lâm sàng.
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Xin anh/chị vui lòng trả lời các câu hỏi sau:
1. KIẾN THỨC
Xin anh/chị cho biết:
20
Mã
K1
Nội dung
Phản ứng có hại của thuốc là:
1.Phản ứng độc hại có định trước
2. Phản ứng độc hại không được định trước
3. Xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng
Đúng
Sai
bênh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một
chức năng sinh lý.
4.Ý kiến khác (xin ghi rõ):………………………………
Phản ứng có hại của thuốc (ADR) có thể gây ra bởi
các nguyên nhân:
1. Chất lượng thuốc
2. Quá liều
K2 3. Lạm dụng thuốc
4. Sử dụng thuốc không đúng chỉ định
5. Sử dụng thuốc với chỉ định không ghi trong tờ hướng dẫn
sử dụng thuốc
6. Ý kiến khác (xin ghi rõ):………………………………
Báo cáo phản ứng có hại của thuốc là trách nhiệm của:
1. Bác sĩ
2. Dươcc̣ si
K3 3. Điều dương viên
4. Hô c̣sinh viên
5. Kỹ thuật viên
6. Côngc̣ đồng
Tầm quan trongc̣ cua báo cáo phản ứng có hại của thuốc la:
1. Rất quan trongc̣
K4
2. Quan troṇg
3. Không quan trongc̣
Anh/chị quan tâm tơi bao cao phan ưng co haịcua thuốc
vơi mục đích:
1.Xác định và phát hiện ADR mới
K5 2.Chia sẻ thông tin ADR với đồng nghiệp
3. Là một phần của công việc đang làm
4.Đảm bảo an toàn cho bệnh nhân
5.Xác định vấn đề liên quan an toàn thuốc
6.Xác định tần suất gặp ADR
Loại phản ứng có hại của thuốc nào cần được báo cáo:
1.Nghiêm trọng, không mong muốn và nghi ngờ
2.Bất cứ ADR nào của các thuốc cũ
21
22
2. THÁI ĐỘ
Mã Nội dung
Có
A. Anh/chị có quan tâm tới nguy cơ phản ứng có hại của một
Không
thuốc trong quá trinh điều tri c̣ cho bênḥ nhân. Nếu có, anh/chị
quan tâm tới nguy cơ phản ứng có hại nào sau đây:
1.
Nghiêm trọng, không mong muốn và nghi ngờ
2.
Bất cứ ADR nào của các thuốc cũ
3.
Bất cứ biến cố bất lợi nào
4.
ADR của thuốc mới
5.
Chỉ những ADR đã được công nhận
6.
Tất cả các trường hợp trên
7.
Không trường hợp nào
8.
Không biết
9.
Khác (xin ghi rõ): ..........................................................
Nếu không, anh/chị cho biết lýdo:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10
Việc báo cáo không ảnh hưởng đến phác đồ điều trị
Mất thời gian
Thiếu kinh phí
Phản ứng này đã được biết quá rõ
Không có sẵn mẫu báo cáo
Không biết cách báo cáo
Phản ứng nhẹ không đáng kể để báo cáo
Sợ bị qui kết trách nhiệm
Không biết
Ý kiến khác (xin ghi rõ): ............................................
3. THỰC HÀNH
23
Mã
Nội dung
Anh/chị đã gặp bệnh nhân có những biểu hiện của phản ứng
Có Không
có hại của thuốc. Nếu có, anh/chị đã :
Ghi nhâṇ lại các biểu hiêṇ lâm sang va câṇ lâm sàng bất
1.
P1
thường trên ngươi bệnh vao bệnh án hoăcc̣ sổ báo cáo
ADR
2. Kiểm tra laị tất cả các thuốc người bệnh đã sử dụngc̣
3. Trao đổi với các đồng nghiệpc̣
4. Ghi lại thông tin về thuốc nghi ngờ
5. Kiểm tra chất lươngc̣ cam quan mẫu thuốc được lưu laị
Nếu không anh/chị vui lòng trả lời tiếp các câu hỏi từ câu P2
Anh/chị có gặp khó khăn nào sau đây khi xác định một phản
ứng có hại của thuốc? (Có thể chọn nhiều hơn 1 phương án)
1. Khó xác định thuốc nghi ngờ
2. Không có thời gian
3. Khó tiếp cận hồ sơ bệnh án
4. Mẫu báo cáo phức tạp
Khó xác định mức độ nghiêm trọng của phản ứng có
P2
5. hại của thuốc
6. Thiếu kiến thức lâm sàng
7. Không có khó khăn nào
8. Ý kiến khác (xin ghi rõ):............................................
Trong thực hành nghề nghiệp, anh/chị đã từng báo cáo phản
ứng có hại của thuốc. Nếu có, anh/chị vui lòng trả lời các câu
hỏi tư P4 tới P10. Nếu không, xin anh/chị nói rõ lý do
1. Việc báo cáo không ảnh hưởng đến phác đồ điều trị
2. Mất thời gian
3. Thiếu kinh phí
P3
4. Phản ứng này đã được biết quá rõ
5.Không có sẵn mẫu báo cáo
6. Không biết cách báo cáo
7. Phản ứng nhẹ không đáng kể để báo cáo
8. Sợ bị qui kết trách nhiệm
9. Không biết
10. Ý kiến khác (xin ghi rõ): ……………………….
Anh/chị đã báo cáo nhưng ADR nào sau đây:
1. Nghiêm trọng, không mong muốn và nghi ngờ
24
P7
P8
Anh/chị đã lấy mẫu báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại:
1.Khoa phòng nơi làm việc
2.Khoa dược
3.Phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện
4.Liên hệ trực tiếp với Trung tâm DI&ADR Quốc gia
5.Online (trang web canhgiacduoc.org.vn)
6. Ý kiến khác (xin ghi rõ):……………………………..
Anh/chị đa tham khao ý kiến đồng nghiệpc̣ trước khi báo cáo
phản ứng có hại của thuốc
Anh/chị có mong muốn nhận được phản hồi khi nộp báo cáo
phản ứng có hại của thuốc hay không?
Anh/chị đa nhâṇ đươcc̣ hinh thưc phản hồi báo cáo:
1.Thư cảm ơn
2.Giao ban toàn viện
3.Bản tin thông tin thuốc
P10
Phản hồi nhanh từ Trung tâm DI&ADR Quốc gia hoặc
4. khu vực
5.Không nhận được bất cứ phản hồi nào
Theo anh/chị, biện pháp nào sau đây giúp nâng cao số lượng
P9
và chất lượng báo cáo phản ứng có hại của thuốc
1.Đào tạo và tập huấn ADR cho cán bộ y tế
P11
2.Phối hợp bac sĩ, dược sĩ và y tá để hỗ trợ báo cáo ADR
3.Gửi phản hồi về kết quả đánh giá ADR đến cán bộ y tế
Xây dựng qui trình hướng dẫn báo cáo ADR của Bộ y
4. tế và bệnh viện
Xin trân trongg̣ cảm ơn sư g̣giúp đỡcủa anh/chị!
Thuật toán Naranjo để phân tích mối quan hệ nhân quả của phản ứng có
hại của thuốc:
Câu hỏi
Có
không
Không
biết
Trước đây đã có báo cáo nào kêt luận về phản ứng
này chưa ?
1
0
0
25
có phải phản ứng có hại xẩy ra ngay sau khi dùng
thuốc nghi ngờ không ?
Khi ngừng thuốc hoặc dùng thuốc đối kháng đặc
hiệu có cải thiên được phản ứng có hại không ?
Sau khi sử dụng loại thuốc đó lại thì phản ứng có
hại có trở lại hay không ?
Có thể có nguyên nhân khác ngoài thuốc nghi ngờ
gây ra phản ứng đó không ?
Có thể phát hiện được nồng độ gây độc của thuốc
trong máu hay trong các dịch của cơ thể hay
không ?
Khi tăng hay giảm liều thì mức độ nguy hiểm của
phản ứng đó tăng hay giảm đi không ?
Trong các trường hợp trước bênh nhân có phản
ứng như vậy với các thuốc khác giống hoặc tương
tự như vậy hay không ?
Phản ứng có hại đó có được khẳng định bởi các
bằng chứng khách quan không ?
Đánh giá tổng điểm
Phản ứng có hại đó là chắc chắn > 9 điểm
Có thể
5-8 điểm
Không chắc chắn
1-4 điểm
Không thể
0 điểm
2
1
0
1
0
0
2
1
0
1
2
0
1
0
0
1
0
0
1
0
0
1
0
0