Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Tiểu luận Lãnh đạo Quản lý báo chí (Xã hội hóa truyền hình nhìn từ góc độ quản lý nhà nước)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (825.16 KB, 25 trang )

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA BÁO CHÍ

XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
Tiểu luận môn học

LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG

Hà Nội, tháng 10/2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 2
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ ....................................... 4
1.1 Khái niệm ................................................................................................... 4
1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình 6
2. XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NHÌN TỪ
GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC .................................................................. 7
2.1 Tổ chức hệ thống sản xuất và phát sóng truyền hình tại Việt Nam .............. 7
2.2 Các phƣơng thức hợp tác sản xuất chƣơng trình truyền hình ở Việt Nam ... 8
2.2.1 Hợp tác một phần .................................................................................... 9
2.2.2 Hợp tác toàn phần .................................................................................... 9
2.2.3 Đóng góp kinh phí tài chính .................................................................. 10
2.3 Thực trạng xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình ở Việt Nam ...... 11
2.4 Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xã
hội hóa truyền hình ......................................................................................... 12
2.4.1 Tác động tích cực của xã hội hóa truyền hình ........................................ 14
2.4.2 Tác động tiêu cực của xã hội hóa truyền hình ........................................ 14
2.4.3 Những bấp cập của hệ thống văn bản quản lý ........................................ 16


3. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRUYỀN HÌNH ............................................. 18
3.1 Quan điểm chung về xây dựng chính sách quản lý hoạt động xã hội hóa
truyền hình ..................................................................................................... 18
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xã
hội hóa truyền hình ......................................................................................... 19
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động
xã hội hóa truyền hình .................................................................................... 19
3.2.2 Nâng cao năng lực quản lý của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền
hình đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình ................................................ 21
3.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực sản xuất chƣơng trình cho đối
tác xã hội hóa ................................................................................................ 21
3.2.4 Xây dựng chính sách tài chính rõ ràng, minh bạch và linh hoạt đối với hoạt
động xã hội hóa truyền hình ........................................................................... 21
3.2.5 Kiểm soát số liệu điều tra xã hội học về truyền hình .............................. 22
KẾT LUẬN .................................................................................................... 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 24
1


MỞ ĐẦU
Theo đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm
2025 đƣợc Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) công bố tháng 9/2015, bên
cạnh việc sẽ giảm bớt số lƣợng cơ quan báo chí (báo in), thì một trong những
nội dung quan trọng là đến năm 2020 - 2025, các cơ quan báo chí, trong đó có
các đài truyền hình sẽ phải tự chủ về tài chính, Nhà nƣớc chỉ hỗ trợ, đặt hàng đối
với các kênh, chuyên mục, chƣơng trình, phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên
truyền. Cũng theo đề án, hệ thống phát thanh - truyền hình sẽ đổi mới theo
hƣớng tập trung sản xuất chƣơng trình, bảo đảm các chƣơng trình sản xuất trong
nƣớc đạt tối thiểu 70% tổng thời lƣợng phát sóng. Sự thay đổi này mở ra cơ hội

phát triển mới cho các đài phát thanh - truyền hình, nhƣng cũng đặt ra nhiều
thách thức trong bối cảnh từ trƣớc đến nay, các đài gần nhƣ hoạt động theo cơ
chế bao cấp và ít đài tự sản xuất đƣợc trên 40% trở lên thời lƣợng phát sóng1.
Trƣớc đó, trong vài năm trở lại đây, hệ thống các đài truyền hình, đài phát
thanh - truyền hình từ cơ chế bao cấp hoàn toàn đang từng bƣớc chuyền dần
sang cơ chế tự cân đối thu chi, tự chủ một phần về tài chính. Điều này cho phép
các đài phát huy cao độ nội lực và tính chủ động trong thông qua hoạt động liên
kết, xã hội hóa trong lĩnh vực sản xuất chƣơng trình, nhằm tăng thêm nguồn thu
và huy động các nguồn lực xã hội để làm phong phú và nâng cao thời lƣợng các
chƣơng trình do Việt Nam sản xuất. Hiện, hoạt động xã hội hóa đang ngày càng
phát triển mạnh và hình thành xu thế mới trong hoạt động của các đài phát thanh
- truyền hình, góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao
của công chúng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu điểm, hoạt động xã hội hóa trong sản xuất
chƣơng trình truyền hình thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trong không ít
chƣơng trình, quảng cáo lấn át cả nội dung tuyên truyền, đặc biệt trên các kênh
1

Số liệu Bộ Thông tin và Truyền thông công bố tại “Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2015 và tổng kết
phong trào thi đua lĩnh vực phát thanh - truyền hình năm 2014, một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2015”, ngày
16/3/2015

2


thời sự, chính trị gây phản ứng trong dƣ luận xã hội. Bên cạnh đó, sự phát triển
nóng về số lƣợng các chƣơng trình, kênh chƣơng trình liên kết nhƣng thiếu sự
quản lý phù hợp đã dẫn tới việc xuất hiện không ít chƣơng trình truyền hình có
chất lƣợng thấp chạy theo thị hiếu tầm thƣờng của một bộ phận công chúng,
mang nặng tính thƣơng mại vẫn đƣợc phát sóng. Hoạt động xã hội hóa, trên một

khía cạnh khác còn tạo ra sự mất cân đối trong liều lƣợng thông tin và trong việc
đáp ứng nhu cầu thông tin của khán giả, vì nhiều đài có xu hƣớng ƣu tiên tập
trung vào những lĩnh vực có đầu tƣ tài trợ hoặc bảo trợ về thông tin. Thực tế trên
còn đang làm nảy sinh lo ngại các nhà tài trợ thông qua hoạt động xã hội hóa có
thể tác động, chi phối nội dung một số chƣơng trình của các đài phát thanh truyền hình, vốn là các cơ quan báo chí của quốc gia hoặc địa phƣơng.
Nhƣng hiện nay chƣa có một khung pháp lý đủ mạnh quy định cụ thể, rõ
ràng về vấn đề xã hội hóa trong hoạt động sản xuất chƣơng trình truyền hình.
Điều này đang gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý Nhà nƣớc cũng nhƣ các đài
phát thanh - truyền hình và các đối tác liên kết.
Thực tế trên đòi hỏi cần có một đánh giá tổng quan về hoạt động xã hội
hóa sản xuất các kênh, chƣơng trình truyền hình trong thời gian vừa qua từ góc
độ quản lý Nhà nƣớc về báo chí - truyền thông, để từ đó đề xuất những chính
sách và giải pháp có giá trị pháp lý cao hơn, kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ
và vấn đề phát sinh từ hoạt động này, phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành
truyền hình ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
Từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Xã hội hóa hoạt động sản xuất chương
trình truyền hình nhìn từ góc độ quản lý Nhà nước” làm đề tài cho tiểu luận môn
học Lãnh đạo, quản lý báo chí - truyền thông của mình.

3


1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
1.1 Khái niệm
Dù muốn hay không thì báo chí nói chung và truyền hình nói riêng để có
thể phát triển đƣợc thì vấn đề đầu tiên cần đƣợc giải quyết đó là nguồn kinh phí.
Truyền hình lại là một loại hình truyền thông rất tốn kém nên yêu cầu trên lại
càng trở nên quan trọng. Nhƣng ai sẽ là ngƣời cung cấp tài chính cho truyền
hình? Câu trả lời là phải tham gia vào tiến trình xã hội hóa, trƣớc hết là xã hội
hóa về nguồn kinh phí đầu tƣ cho sản xuất thì truyền hình mới có điều kiện phát

triển. Xu hƣớng này đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu truyền hình ra đời và
đƣợc dự báo là sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Ở đây có hai khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đó là “xã hội
hoá” và “liên kết”. Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Trung tâm từ điển học
Vietlex (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2010) “xã hội hoá” là “làm cho trở thành của
chung của xã hội”, còn “liên kết” là “kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc
tổ chức riêng rẽ”.
Trong truyền hình, khái niệm “xã hội hoá” đƣợc dùng rộng rãi hơn khái
niệm “liên kết” khi chỉ cùng một hiện tƣợng đó là sự tham gia của các tổ chức,
cá nhân khác ngoài các đơn vị đƣợc cấp phép hoạt động truyền hình vào quá
trình sản xuất các chƣơng trình truyền hình. Đơn vị đƣợc cấp phép hoạt động
truyền hình bao gồm các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình vốn là các
đơn vị vừa có chức năng sản xuất chƣơng trình vừa có chức năng truyền dẫn
phát sóng với hệ thống truyền dẫn phát sóng độc lập và các đơn vị có chức năng
sản xuất chƣơng trình song không có chức năng truyền dẫn phát sóng chƣơng
trình (Truyền hình Thông tấn, Truyền hình Quốc phòng, Truyền hình Công an
nhân dân, Truyền hình Nhân dân…).
Trƣớc đây, mọi công đoạn trong sản xuất, phát sóng các chƣơng trình
truyền hình đều do các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình thực hiện.
Song cùng với nhu cầu phát triển rất nhanh của công chúng đối với chất lƣợng,
thời lƣợng các chƣơng trình truyền hình, sự phát triển của công nghệ sản xuất
4


chƣơng trình truyền hình, công nghệ truyền dẫn phát sóng, sức ép tạo nguồn thu
và sự lớn mạnh về nguồn lực của các thành phần xã hội khác đã dẫn tới nhu cầu
phải mở rộng sự tham gia của các thành phần khác vào các công đoạn sản xuất
và phát sóng các chƣơng trình truyền hình. Đến tại thời điểm này, sự độc quyền
trong truyền dẫn, phát sóng các chƣơng trình truyền hình của các đài phát thanh,
truyền hình không còn. Việc tham gia của nhiều đơn vị ngoài hệ thống các đài

truyền hình, đài phát thanh - truyền hình trong việc truyền dẫn phát sóng truyền
hình đã đƣợc xác lập một cách hết sức vững chắc và rõ ràng bởi hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ. Tuy nhiên, đối với hoạt động sản xuất
chƣơng trình truyền hình, cơ sở pháp lý để bảo đảm sự tham gia của các thành
phần xã hội chƣa rõ ràng mà vẫn chỉ là “sự kết lại với nhau” của các thành phần
xã hội với các đơn vị đƣợc cấp phép hoạt động truyền hình để cùng tham gia sản
xuất chƣơng trình truyền hình. Trong đó, các đơn vị đƣợc cấp phép hoạt động
truyền hình vẫn là chủ thể chính, chủ thể quyết định việc “xã hội hoá” sản xuất
chƣơng trình truyền hình.
Nếu xét hoạt động xã hội hoá sản xuất chƣơng trình theo nghĩa rộng,
nghĩa là các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình không trực tiếp thực
hiện việc sản xuất tất cả các chƣơng trình truyền hình trên mọi công đoạn mà
huy động các nguồn lực khác ngoài hệ thống tham gia nhƣ mua bán, trao đổi
chƣơng trình hoàn chỉnh; khai thác tƣ liệu từ các chƣơng trình khác; thuê, hợp
tác làm một số công đoạn trong quá trình sản xuất chƣơng trình (làm hậu kỳ,
viết kịch bản…) thì hầu hết các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình ở
Việt Nam hiện nay đều đã và đang thực hiện rất nhiều hoạt động liên kết - xã hội
hóa trong sản xuất chƣơng trình.
Tuy nhiên, phổ biến nhất hiện nay và nhận đƣợc sự quan tâm nhất của
toàn xã hội, đặc biệt là của cơ quan quản lý Nhà nƣớc đó là những hoạt động xã
hội hoá trao đổi bằng quyền lợi quảng cáo hoặc tài trợ tài chính. Bởi đây là
những hoạt động có khả năng tác động nhiều nhất đến nội dung chƣơng trình
theo hƣớng thƣơng mại, thị trƣờng để tối đa hóa nguồn thu quảng cáo, tài trợ.
5


Đây cũng là hình thức xã hội hoá sản xuất chƣơng trình trình truyền hình phổ
biến nhất hiện nay và góp phần quyết định trong việc hình thành nên một thị
trƣờng truyền thông với hàng trăm doanh nghiệp tham gia hết sức sôi động.
1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền

hình
Văn bản đầu tiên làm cơ sở pháp lý để hoạt động xã hội hóa sản xuất
chƣơng trình truyền hình có thể triển khai thực hiện đó là Quyết định số
767/QĐ-TTg ngày 08 tháng 8 năm 2005 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2010. Quyết định này
cho phép “Tăng cƣờng xã hội hóa việc sản xuất các chƣơng trình truyền hình,
phim truyền hình theo đúng định hƣớng của Đảng và các quy định của Nhà nƣớc;
đẩy mạnh phát triển kênh truyền hình quảng bá song song với phát triển nhanh
chóng các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền” (Điểm 6, mục I, Điều 1). Tuy
nhiên, đây mới chỉ là quan điểm phát triển theo hƣớng “tăng cƣờng xã hội hoá”,
song “tăng cƣờng” thế nào, thực hiện ra sao thì Quyết định số 767/QĐ-TTg chƣa
chỉ ra cụ thể.
Có thể nói, trƣớc tháng 5/2009 gần nhƣ không có văn bản pháp luật nào
điều chỉnh các hoạt động hợp tác đầu tƣ trong lĩnh vực truyền hình. Thậm chí,
nếu nghiên cứu kỹ tinh thần của các văn bản quy định về chính sách khuyến
khích xã hội hóa, từ Nghị quyết số 90-CP ngày 21/8/1997 đến các Nghị định
73/1999/NĐ-CP, 53/2006/NĐ-CP hay Nghị định 69/2008/NĐ-CP của Chính
phủ đều thấy rằng truyền hình không thuộc diện đƣợc Nhà nƣớc khuyến khích
xã hội hóa. Tuy nhiên, phong trào hợp tác đầu tƣ vốn trong lĩnh vực truyền hình
từ đầu những năm 2000 đã bắt đầu rộ lên rất mạnh, điều đó cho thấy nhu cầu
đầu tƣ vào lĩnh vực truyền hình rất cao trong khi khả năng của các đài truyền
hình, đài phát thanh - truyền hinh đã không đáp ứng kịp.
Phong trào xã hội hóa lĩnh vực truyền hình đã đƣợc “cứu nguy” bằng
Thông tƣ 09/2009/TT-BTTTT ngày 28/5/2009 của Bộ TT&TT. Có thể nói, đây
là văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý, đồng thời chấm dứt một thời kỳ hợp tác
6


đầu tƣ “công-tƣ” theo kiểu “tranh tối tranh sáng” trong lĩnh vực truyền hình tại
Việt Nam. Hơn nữa, văn bản này tỏ ra cởi mở khi cho phép các doanh nghiệp

“có tƣ cách pháp nhân và đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” đƣợc
hợp tác với đài truyền hình để sản xuất không chỉ một phần mà toàn bộ kênh
chƣơng trình truyền hình, áp dụng không chỉ truyền hình trả tiền mà cả với
truyền hình không trả tiền, phạm vi điều chỉnh không chỉ truyền hình mà cả với
lĩnh vực phát thanh. Đài truyền hình muốn thực hiện hợp tác chỉ cần làm thủ tục
đăng ký hoặc thông báo với Bộ TT&TT.
Mới đây nhất, ngày 24 tháng 3 năm 2011, Thủ tƣớng Chính phủ đã có
Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý hoạt động truyền
hình trả tiền. Theo đó, hoạt động truyền hình trả tiền nói chung, hoạt động sản
xuất chƣơng trình nói riêng sẽ đƣợc rà soát, cấp phép lại nhằm quản lý ngày
càng chặt chẽ hoạt động truyền hình trả tiền theo hƣớng phân định rõ các lĩnh
vực về nội dung, về dịch vụ và về hạ tầng phát thanh truyền hình. Qua đó sẽ góp
phần phát hiện, xử lý để hạn chế tác động tiêu cực, phát huy những hiệu quả tích
cực của hoạt động liên kết trong sản xuất chƣơng trình phát thanh, truyền hình.
2. XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NHÌN
TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
2.1 Tổ chức hệ thống sản xuất và phát sóng truyền hình tại Việt Nam
Theo số liệu của Bộ TT&TT, tính ngày 25/12/2014, cả nƣớc có 67 đài
phát thanh, truyền hình trung ƣơng và địa phƣơng; trong đó có 02 đài quốc gia,
01 đài truyền hình kỹ thuật số, 64 đài phát thanh, truyền hình địa phƣơng với
105 kênh truyền hình quảng bá. (Từ ngày 27/6/2015, theo Quyết định số
752/QĐ-TTg ngày 02/6/2015của Thủ tƣớng Chính phủ, Đài Truyền hình Kỹ
thuật số VTC chuyển từ Bộ TT&TT sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam).
Ngoài ra, tính đến tháng 10/2015, cả nƣớc còn có 05 đơn vị hoạt động
truyền hình không có hạ tầng phát sóng truyền hình riêng, bao gồm:
- Đài Tiếng nói Việt Nam với Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam
(VOVTV) và Kênh Truyền hình Quốc hội;
7



- Trung tâm Điện ảnh, Phát thanh, Truyền hình Công an nhân dân (Bộ
Công an) với Kênh Truyền hình Công an nhân dân (ANTV);
- Thông tấn xã Việt Nam với Kênh Truyền hình Thông tấn (VNews);
- Trung tâm Phát thanh, Truyền hình Quân đội (Bộ Quốc phòng) với Kênh
Truyền hình Quốc phòng (QPVN);
- Báo Nhân dân với Kênh Truyền hình Nhân dân.
Trong những năm qua, các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình đã
cho ra đời nhiều kênh chƣơng trình mới, đƣa số lƣợng các kênh chƣơng trình
truyền hình quảng bá tại Việt Nam lên 105 kênh, cùng với 73 kênh truyền hình
trả tiền. Trong đó, Đài Truyền hình Việt Nam có số kênh chƣơng trình truyền
hình nhiều nhất với 50 kênh, trong đó có 11 kênh truyền hình quảng bá và 39
kênh chƣơng trình truyền hình trả tiền. Tiếp theo sau là Đài Truyền hình Kỹ
thuật số VTC với 18 kênh chƣơng trình truyền hình, trong đó có 15 kênh truyền
hình quảng bá và 3 kênh truyền hình trả tiền. Vị trí thứ 3 thuộc về Đài Truyền
hình thành phố Hồ Chí Minh với 17 kênh chƣơng trình truyền hình, trong đó có
7 kênh chƣơng trình truyền hình quảng bá, 10 kênh chƣơng trình truyền hình trả
tiền. Cùng đứng vị trí thứ tƣ, với 9 kênh chƣơng trình truyền hình của mỗi đài là
Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội và Đài Phát thanh - Truyền hình Bình
Dƣơng. Các đơn vị còn lại thƣờng có từ 01 đến 02 kênh chƣơng trình.
Với số lƣợng kênh chƣơng trình truyền hình tới 178 kênh có tổng số giờ
phát sóng trong ngày trên 4.200 giờ, nhu cầu về chƣơng trình phát sóng của các
đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình là cực kỳ lớn, trong khi đó năng lực
sản xuất của tự thân các đài không thể đáp ứng. Vì vậy, để bảo đảm yêu cầu phát
sóng các đài phải thực hiện việc khai thác, mua bản quyền các chƣơng trình từ
nƣớc ngoài và thực hiện xã hội hóa, liên kết sản xuất với các đối tác ngoài đài.
2.2 Các phƣơng thức hợp tác sản xuất chƣơng trình truyền hình ở Việt Nam
Hiện, đối tác có thể tham gia hợp tác thực hiện rất nhiều chƣơng trình,
trong đó có sản xuất phim truyền hình, tổ chức sự kiện… nhƣng lĩnh vực
gameshow (trò chơi truyền hình) đƣợc đặc biệt chú ý bởi những chƣơng trình
này thƣờng có số lƣợng ngƣời xem đông nhất. Nhìn chung, có 3 phƣơng thức cơ

bản trong hợp tác sản xuất chƣơng trình truyền hình hiện nay
8


2.2.1 Hợp tác một phần
Với phƣơng thức hợp tác một phần, nguồn lực bên ngoài đóng góp một
phần nào đó trong quy trình sản xuất chƣơng trình truyền hình nhƣ: xây dựng ý
tƣởng và chủ đề chƣơng trình; biên tập và viết kịch bản; tổ chức sản xuất chƣơng
trình; phối hợp với các đài truyền hình để phát sóng… với các chƣơng trình nhƣ:
gameshow, talkshow, phim quảng cáo, phim phóng sự, phim tài liệu…
Ví dụ, BHD là công ty dàn dựng sân khấu cho gameshow Ở nhà chủ nhật
và Ai là ai. Công ty này còn tham gia thực hiện một phần Trò chơi âm nhạc,
Hãy chọn giá đúng, Những chuyện lạ Việt Nam... Hay quizshow Đối mặt đƣợc
nhƣợng bản quyền tại Việt Nam cho Công ty Giải trí và Truyền thông Việt Nam
VEC từ gameshow nổi tiếng Face off của một trong sáu hãng truyền thông đa
phƣơng tiện lớn nhất của Mỹ và thế giới - Twentieth Century Fox. VEC và Đài
Truyền hình Việt Nam cùng phối hợp sản xuất và phát sóng 52 số.
Các đơn vị sản xuất kể trên và nhiều đơn vị khác có chức năng chuyên
môn hóa cao. Có công ty chỉ làm hậu kỳ, kỹ xảo. Có công ty thiết kế sân khấu,
ánh sáng. Có công ty xây dựng kịch bản. Thậm chí, có công ty chỉ sản xuất ý
tƣởng. Nhƣ vậy là cả xã hội làm tham gia truyền hình.
2.2.2 Hợp tác toàn phần
Hợp tác toàn phần trong sản xuất chƣơng trình truyền hình là một xu
hƣớng đúng đắn và tất yếu, vì qua đó, các chƣơng trình truyền hình tận dụng
đƣợc nguồn lực của toàn xã hội. Những công ty, doanh nghiệp hợp tác với nhà
đài lúc này có chức năng nhƣ những tổ chức độc lập sản xuất chƣơng trình
truyền hình. Số lƣợng đài có thể không nhiều nhƣng với cách làm nhƣ vậy sẽ có
hàng trăm, hàng nghìn đơn vị sản xuất truyền hình.
Trƣớc kia, Công ty BHD là một trong những công ty truyền thông tƣ nhân
lớn nhất Việt Nam và cũng là một trong những công ty đầu tiên chuyên sản xuất

các chƣơng trình truyền hình nhƣ: MTV, Hãy chọn giá đúng, Đuổi hình bắt chữ,
Nốt nhạc vui, Phụ nữ thế kỷ 21, Hành trình âm nhạc, Đấu trí…

9


Đến nay, nổi bật trong lĩnh vực xã hội hóa truyền hình là các thƣơng hiệu
BHD, Cát Tiên Sa, Điền Quân, Sóng Vàng, Đông Tây Promotion... với hàng
loạt chƣơng trình truyền hình và gameshow đang ăn khách, có format trong và
ngoài nƣớc đƣợc phát sóng trong các khung giờ vàng của những kênh truyền
hình ăn khách nhất cả nƣớc nhƣ: Cát Tiên Sa với Bước nhảy hoàn vũ, Bước
nhảy hoàn vũ nhí, Cặp đôi hoàn hảo, Nhân tố bí ẩn, Giọng hát Việt, Giọng hát
Việt nhí, Ðiệp vụ tuyệt mật... trên VTV3; Đông Tây Promotion với Người bí ẩn,
Thử thách cùng bước nhảy và Hội ngộ danh hài trên HTV; BHD với Thần
tượng Việt Nam, Tìm kiếm tài năng Việt Nam, Tìm kiếm tài năng châu Á, Vua
đầu bếp, Cuộc đua kỳ thú... trên VTV3; Công ty Multimedia JSC với Người mẫu
Việt Nam, Nhà thiết kế thời trang Việt Nam... trên VTV3; Motion Media với
Giai điệu tự hào, S-Vietnam... trên VTV1…
2.2.3 Đóng góp kinh phí tài chính
Một hình thức hợp tác khác đang diễn ra không kém phần sôi động là các
đơn vị đứng ra tài trợ cho chƣơng trình, nhất là những chƣơng trình ăn khách.
Nhìn chung, tất cả các gameshow đều có những doanh nghiệp đứng sau. Ví dụ,
chƣơng trình Ai là triệu phú? đƣợc E-Media hậu thuẫn bằng việc mua bản quyền
của Celador (Anh). Khán giả yêu thích Đường lên đỉnh Olympia đều đã quen
thuộc với logo của tập đoàn LG (Hàn Quốc)…
Tài trợ cho các chƣơng trình của nhà đài, các doanh nghiệp đƣợc quảng bá
thƣơng hiệu thông qua quảng cáo. Theo Kantar Media, tổng chi phí quảng cáo
trên truyền hình Việt Nam năm 2012 có trị giá gần 900 triệu USD, với mức tăng
trƣởng 30% so với 20112. Số liệu quảng cáo mà đơn vị này ghi nhận đƣợc trên
82 kênh truyền hình, 34 đầu tạp chí, 27 đầu báo in và 1 kênh radio cho tới hết

quý III/2014 đã cho thấy, quảng cáo trên truyền hình và radio tăng hơn 40% và
75% so với cùng kỳ năm trƣớc. Những hãng lớn nhƣ Unilever mỗi năm chi tới
20-30 triệu USD cho quảng cáo trên báo chí và truyền hình. Và bất chấp giá
quảng cáo trên truyền hình ngày càng đội lên cao ngất trời, hàng loạt nhãn hàng
2

Xem: Phương Quyên, Đặng Quý Yên: Sản xuất chương trình truyền hình: Cuộc đua kỳ thú, Báo Doanh nhân
Sài Gòn online, ngày 22/5/2015

10


từ lớn đến bé đua nhau tài trợ (thực chất là tiền để đƣợc quảng cáo) cho những
chƣơng trình gameshow. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp muốn đƣợc tài trợ cho
gameshow hiện nay còn phải đấu thầu mới mong chiếm đƣợc một chỗ.
2.3 Thực trạng xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình ở Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ năm 2013 đến tháng
3/2015, chỉ với riêng Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ này đã cấp 113 giấy chứng
nhận đăng ký chƣơng trình liên kết với các đối tác liên kết. Trong đó, năm 2013,
Bộ cấp 36 giấy chứng nhận đăng ký chƣơng trình liên kết (trong đó có 27
chƣơng trình mới so với năm 2012), sang năm 2014 số chƣơng trình liên kết đã
là 76, tức là tăng 40 chƣơng trình so với năm trƣớc. Còn 3 tháng đầu năm 2015
mới chỉ duy nhất một chƣơng trình đƣợc cấp phép3.
Hiện nay, các đài truyền hình không chỉ xã hội hóa một số chƣơng trình
mà còn xã hội hóa cả kênh. Ví dụ, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện xã hội hóa cả kênh trên 4 kênh chƣơng trình: Kênh HTVC - Mua sắm, tiêu
dùng với Công ty Truyền thông tầm nhìn hai mƣơi mốt; Kênh FNBC - Thông
tin Tài chính - Ngân hàng với Công ty Cổ phần Truyền thông và ứng dụng Công
nghệ thông tin FNBC; Kênh HTVC - Coop - Mua sắm qua truyền hình với Liên
hiệp hợp tác xã thƣơng mại thành phố Hồ Chí Minh; Kênh HTVC+ - Thông tin

Tổng hợp với Công ty Cổ phần Yêu âm nhạc - YAN. Đài Phát thanh và Truyền
hình Bình Dƣơng thực hiện liên kết cả kênh trên 4 kênh chƣơng trình truyền
hình BTV6 - Giải trí dành cho giới trẻ, BTV9 - Văn hóa Phƣơng Đông, BTV10 Thể thao NCM và BTV11 - Giải trí dành cho thiếu nhi với cùng một đối tác là
Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG. Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC
thực hiện liên kết cả kênh chƣơng trình trên kênh VTC10 - Netviet với Công ty
Cổ phần Truyền thông VTCI. Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp thực
hiện liên kết cả kênh chƣơng trình đối với kênh truyền hình THĐT2 - Khoa giáo
và giải trí Miền Tây với Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG. Nhƣ vậy,
tính đến thời điểm này, theo số liệu Giấy chứng nhận đăng ký liên kết hoạt động
3

Xem: Bình Minh: Vì sao các chương trình liên kết của Cát Tiên Sa, BHD không được cấp phép?, Báo điện
tử Infonet, ngày 24/3/2015

11


sản xuất kênh chƣơng trình truyền hình do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp thì
Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG là đơn vị thực hiện liên kết sản xuất
nhiều kênh chƣơng trình nhất.
Tuy nhiên trên thực tế, số lƣợng các kênh chƣơng trình thực hiện xã hội
hóa cả kênh và số lƣợng các chƣơng trình thực hiện liên kết sản xuất lớn hơn rất
nhiều so với số lƣợng đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nƣớc, đó là do các đài
truyền hình, đài phát thanh - truyền hình chƣa thực hiện đăng ký liên kết. Có thể
đƣa ra một số ví dụ nhƣ kênh VTC 7 - TodayTV và VTC9 - LetViet của Đài
Truyền hình Kỹ thuật số VTC với Công ty Cổ phần Quốc Tế Truyền Thông
IMC và Công ty Truyền thông đa phƣơng tiện Latsata. Các kênh chƣơng trình
truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam nhƣ VTVcab5 Giải trí tổng
hợp dành cho phụ nữ với Công ty Cổ phần ADT, VTVcab7 - Thế giới điện ảnh
với Công ty Cổ phần Tập đoàn Truyền thông đa phƣơng tiện Đất Việt VAC,

VTVcab9 InforTV với Công ty CP Truyền thông Đại Dƣơng (Ocean Media)…
Về nội dung, các đối tác tham gia sản xuất đa dạng các chƣơng trình
nhƣng trong đó việc sản xuất chƣơng trình giải trí chiếm số lƣợng lớn với
khoảng hơn 70% tổng thời lƣợng các chƣơng trình liên kết ở các đài. Trong số
đó, phim, trò chơi và ca nhạc truyền hình chiếm đa số. Ngoài ra, còn thực hiện
liên kết sản xuất các bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế, văn hóa, thể thao,
các chuyên mục về âm thực, sức khỏe và gia đình... Hiện nay, để phục vụ nhu
cầu thông tin chuyên sâu của khán giả một số đài đã phối hợp với một số đối tác
xây dựng những kênh giải trí chuyên biệt và thƣờng phát sóng trên hệ thống
truyền hình trả tiền. Thời hạn liên kết sản xuất chƣơng trình thƣờng kéo dài từ 3
tháng đến 01 năm, đối với kênh chƣơng là từ 5 năm đến 10 năm.
2.4 Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động
xã hội hóa truyền hình
Sự phát triển của hệ thống truyền hình gắn với nhu cầu phát triển hoạt
động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình bởi những lý do sau đây:

12


- Tự thân hoạt động sản xuất chƣơng trình của mỗi đài phát thanh - truyền
hình đòi hỏi khai thác một lƣợng nhất định thông tin từ các nguồn khác nhau mà
bản thân đài không tự sản xuất thông qua các phƣơng thức trao đổi, mua bán, và
đƣợc xem nhƣ một dạng của hoạt động xã hội hóa;
- Sự bất cập giữa năng lực truyền dẫn phát sóng với năng lực sản xuất
chƣơng trình của hệ thống phát thanh, truyền hình. Cụ thể, hệ thống truyền dẫn,
phát sóng của phát thanh, truyền hình đang ngày càng có xu hƣớng mở rộng với
công suất các máy phát sóng ngày càng lớn và khả năng phát sóng liên tục 24/24.
Thêm vào đó, tại Việt Nam, trong vài năm trở lại đây đã hình thành nhiều hạ
tầng phát sóng (mặt đất, cáp, vệ tinh) cho phép truyền tải đồng thời nhiều kênh
chƣơng trình. Trong khi đó năng lực sản xuất chƣơng trình của bản thân các đài

còn nhiều hạn chế, nhất là đối với các chƣơng trình giải trí do thiếu nguồn lực
tài chính, con ngƣời và trang thiết bị kỹ thuật;
- Nhu cầu của ngƣời xem truyền hình ngày càng cao, đòi hỏi các chƣơng
trình ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng chuyên biệt của
mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong xã hội;
- Sự phát triển nội tại của các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình
sản xuất chƣơng trình phát thanh, truyền hình với các đơn vị có thế mạnh về
công nghệ kỹ thuật, về tổ chức sản xuất chƣơng trình, về nguồn lực tài chính, về
kinh nghiệm khai thác quảng cáo trên phát thanh, truyền hình;
- Bắt đầu xuất hiện tình trạng số lƣợng các chƣơng trình, các kênh chƣơng
trình nƣớc ngoài quá nhiều so với các chƣơng trình trong nƣớc; đặc biệt là việc
khai thác quá nhiều phim nƣớc ngoài trên các khung giờ có đông khán, thính giả.
Vì vậy, việc thúc đẩy năng lực sản xuất chƣơng trình trong nƣớc để tăng tính
cạnh tranh là phù hợp với xu thế hội nhập đòi hỏi nhu cầu xã hội hóa.
Hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chƣơng trình đang là một nhu cầu
thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển của ngành phát thanh, truyền hình.
Trong khi đó, các quy định của pháp luật về báo chí hiện hành không cấm các
hoạt động này, vì vậy trong một thời gian dài hoạt động xã hội hóa diễn ra một
cách tự phát và không đƣợc kiểm soát chặt chẽ.
13


Từ thực tiễn, hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chƣơng trình truyền hình
đang thể hiện tính 2 mặt tích cực và tiêu cực, trong đó tính tích cực là chủ đạo.
2.4.1 Tác động tích cực của xã hội hóa truyền hình
- Huy động đƣợc các nguồn lực xã hội đầu tƣ vào sản xuất chƣơng trình,
bao gồm nguồn lực về tài chính, về con ngƣời, về kỹ thuật công nghệ;
- Góp phần nâng cao chất lƣợng, thời lƣợng các chƣơng trình phát thanh,
truyền hình; hình thành nhiều kênh chuyên đề đáp ứng nhu cầu ngày càng phong
phú, đa dạng, chuyên biệt của công chúng;

- Tạo ra phong cách mới, phƣơng pháp mới, cách làm mới trong sản xuất
chƣơng trình, nâng cao tính hấp dẫn, tính đổi mới của các chƣơng trình phát
thanh, truyền hình. Trong số các chƣơng trình thực hiện liên kết, nhiều chƣơng
trình có chất lƣợng tốt, tạo đƣợc ấn tƣợng và có sức sống lâu bền trong lòng
ngƣời xem nhƣ: Như chưa hề có cuộc chia ly (VTV), Còn mãi với thời gian
(HTV), Đồ rê mí (VTV), Lục lạc vàng (VTV), Vượt lên chính mình (HTV)…
- Từng bƣớc thu hút ngƣời xem đến với các chƣơng trình của Việt Nam,
giảm bớt ảnh hƣởng, tác động của các chƣơng trình truyền hình nƣớc ngoài;
- Góp phần tạo nguồn thu cho các đài để tái đầu tƣ tiếp tục nâng cao hiệu
quả hoạt động của các đài phát thanh, truyền hình.
2.4.2 Tác động tiêu cực của xã hội hóa truyền hình
- Một là, xu hƣớng thƣơng mại hóa, chạy theo lợi nhuận của đối tác liên
kết dễ có tác động đến tính định hƣớng về nội dung chƣơng trình truyền hình.
Thực tế đã xuất hiện những chƣơng trình có nội dung dễ dãi, hời hợt chạy theo
thị hiếu tầm thƣờng gây phản cảm trong dƣ luận xã hội; thậm chí khuyến khích
lối sống hƣởng thụ, buông thả theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa, thiếu tính định
hƣớng giáo dục, đặc biệt đối với lớp trẻ. Theo thống kê của Bộ TT&TT, từ năm
2013 đến nay, chỉ riêng Đài Truyền hình Việt Nam trong hoạt động liên kết sản
xuất đã để xảy ra 51 sai phạm, trong đó có những sai phạm nghiêm trọng và bị
xử phạt trên 100 triệu đồng. Riêng về thông tin sai sự thật, sử dụng ngôn ngữ,
hình ảnh phản cảm, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục Việt Nam có 7
chƣơng trình, đặc biệt có chƣơng trình sai phạm tới 2 lần, nhƣ các chƣơng trình
Nhân tố bí ẩn, Cuộc đua kỳ thú, Quà tặng cuộc sống... trên kênh VTV3.
14


Ví dụ, gần đây nhất chƣơng trình Người giấu mặt phát sóng trên kênh
VTV6 là chƣơng trình liên kết sản xuất giữa Đài Truyền hình Việt Nam (VTV)
và Công ty TNHH Bình Hạnh Đan BHD đã làm dậy sóng công luận khi đối tác
liên kết là Công ty BHD đã cho tung lên mạng những hình ảnh hết sức phản cảm

của chƣơng trình gốc, mặc dù trên sóng truyền hình, VTV đã xử lý những cảnh
quay này. Hiệu ứng truyền thông của mạng Internet và các cơ quan báo chí đã
góp phần tăng rating cho chƣơng trình, song về khía cạnh giáo dục lối sống cho
thế hệ trẻ, đối tƣợng khán giả chủ yếu của VTV6 đã bị xem nhẹ.
- Hai là, do sức ép tạo nguồn thu, đã xuất hiện hiện tƣợng lãnh đạo một số
đài phát thanh - truyền hình buông lỏng công tác quản lý nội dung, để cho đối
tác can thiệp, thậm chí quyết định nội dung phát sóng, làm ảnh hƣởng tiêu cực
đến tính định hƣớng nội dung thông tin. Trong khi đó, vì áp lực phải có một
chƣơng trình hấp dẫn, câu khách mà các đối tác liên kết sẵn sàng “qua mặt” nhà
đài. Về phía nhà đài, do các chƣơng trình liên kết quá nhiều, nhân sự lại không
phải lúc nào cũng đủ để theo suốt khâu sản xuất các chƣơng trình của đối tác
liên kết vì còn bận sản xuất các chƣơng trình của chính mình. Thế là các sự cố
truyền hình liên tục xảy ra.
Nhiều chƣơng trình xã hội hóa ngay sau khi phát sóng đã gây bức xúc cho
khán giả nhƣ chƣơng trình Quà tặng cuộc sống (VTV3) với tập phim hoạt hình
Nhặt xương cho thầy; chƣơng trình Tìm kiếm tài năng Việt Nam (VTV3) phát sóng
chƣơng trình thiếu thận trọng trong kiểm duyệt nội dung thông tin, để xảy ra sự cố
thí sinh uống nhầm axít, gây phản ứng trong dƣ luận xã hội và báo chí... Hay
chƣơng trình Điệp vụ tuyệt mật, do Công ty Cát Tiên Sa liên kết với Đài Truyền
hình Việt Nam sản xuất, vừa lên sóng tập 1 trong tổng số 14 tập, vào tối 2/5/2015
trên kênh VTV3, đã vấp phải phản ứng của công luận. Nguyên nhân là đoạn trailer
giới thiệu đầu chƣơng trình đã có hình ảnh đồ họa bản đồ Việt Nam nhƣng không
có các đảo và đặt nhầm địa điểm Hà Nội nằm trên địa phận Trung Quốc.
- Ba là, việc huy động nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động sản xuất
chƣơng trình, trong chừng mực nào đó nếu không kết hợp không hài hòa giữa
nguồn lực của đài với nguồn lực của đối tác có thể dẫn đến sự mất mát nguồn
15


lực của đài và phụ thuộc ngày càng nhiều vào các đối tác trong việc tổ chức sản

xuất của đài. Ví dụ, đƣợc VTV3 khai sinh từ năm 2004, Sao Mai điểm hẹn đều
đặn lên sóng vào 20h các ngày Chủ nhật. Tuy nhiên, vài năm nay chƣơng trình
phải chuyển sang các kênh VTV2 và VTV6 mà nguyên nhân đƣợc cho là khung
sóng giờ vàng đã bị “bán” hết cho các đơn vị xã hội hóa phát sóng các chƣơng
trình giải trí. Hay rất nhiều chƣơng trình thể thao nhƣ bóng đá Ngoại hạng Anh
hay 360 độ Thể thao vài năm nay thay vì đƣợc phát trên kênh Thể thao - Giải trí
VTV3 thì cũng đã phải “sơ tán” sang các kênh VTV2 hay VTV6 để nhƣờng
sóng cho các chƣơng trình xã hội hóa.
Lịch phát sóng hằng ngày cho thấy phần lớn chƣơng trình liên kết lớn của
các đài nhƣ kênh VTV3, HTV7, THVL1 đều tập trung ở khung giờ vàng buổi
tối từ 19 - 22h. Trong khi đó, các khung giờ không thuận tiện với ngƣời xem lại
đƣợc bố trí cho các chƣơng trình do nhà đài sản xuất. Lắm khi các chƣơng trình
giới thiệu những loại hình nghệ thuật hàn lâm, cải lƣơng hoặc cả những chƣơng
trình nghệ thuật mang tính tuyên truyền bị đẩy vào khung giờ... nửa đêm gà gáy.
Sự phát triển của xã hội hóa truyền hình thời gian qua còn khiến một số
hãng phim nhà nƣớc chạnh lòng vì bị ghẻ lạnh. Hãng phim truyền hình Bình
Dƣơng bị xóa sổ. Hãng phim TFS phải đƣa phim truyện của mình vào giờ không
đẹp trên HTV9 (lúc 17h30), dành giờ đẹp phát sóng phim xã hội hóa. Các phim
tài liệu về lịch sử, đất nƣớc con ngƣời Việt Nam có tính giáo dục và nhân văn
cũng thƣờng phát sóng lúc 12h30, 14h hoặc lúc đêm khuya.
“Con ruột” không bằng “con nuôi”, đó là câu nói nửa đùa nửa thật của
nhiều ngƣời làm trong ngành truyền hình bởi sự ƣu ái của nhà đài với các
chƣơng trình xã hội hóa thời gian qua.
2.4.3 Những bấp cập của hệ thống văn bản quản lý
Với thông tƣ 19/2009, các phƣơng thức xã hội hóa đã đƣợc nhận diện cụ
thể hơn, các đối tƣợng xã hội hóa cũng đƣợc xác định cụ thể hơn. Điều đó đang
từng bƣớc giúp cơ quan chức năng bổ sung cơ sở thực tiễn để nâng cao hiệu quả
công tác quản lý, dần hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động xã hội hóa. Tuy

16



nhiên, Thông tƣ này chƣa xác định rõ các khái niệm và phạm vi đƣợc thực hiện
liên kết sản xuất chƣơng trình truyền hình, bởi hiện nay trong hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật về báo chí chƣa xác định đƣợc khái niệm thế nào là
chƣơng trình thời sự chính trị. Các quy định trong Thông tƣ còn quá đơn giản
chƣa bao quát đƣợc nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn hoạt động xã hội hóa sản
xuất chƣơng trình truyền hình còn nhiều vấn đề sơ hở. Thậm chí, đã có hiện
tƣợng lãnh đạo một số đài buông lỏng công tác quản lý nội dung, để cho đối tác
can thiệp, thậm chí quyết định nội dung phát sóng, làm ảnh hƣởng tiêu cực đến
tính định hƣớng nội dung thông tin và nhiều sai phạm khác trong quá trình thực
hiện liên kết sản xuất chƣơng trình mà chƣa quy định chế tài xử lý.
Ví dụ nhƣ mới đây nhất, việc chƣơng trình Thần tượng Việt Nam Vietnam Idol 2015 lên sóng đã khiến dƣ luận bất ngờ bởi trƣớc đó chƣơng trình
này đã bị Bộ Thông tin và truyền thông ngừng cấp phép chƣơng trình liên kết.
Liên quan đến vấn đề này, cả VTV và Bộ TT&TT đã cùng có công văn gửi lên
Thủ tƣớng Chính phủ xin sự chỉ đạo cụ thể. Tuy vậy, chƣa có hồi đáp từ Văn
phòng Chính phủ, VTV vẫn cho phát sóng chƣơng trình Thần tượng Âm nhạc
năm 2015. Đáng chú ý là trƣớc đó, VTV cũng đã cho phát sóng chƣơng trình
Asia’s got Talent - chƣơng trình cũng nằm trong danh sách bị Bộ TT&TT ngƣng
cấp phép. Thậm chí còn có ý kiến cho rằng, việc Bộ TT&TT ban hành Thông tƣ
19 cách đây 6 năm là trái luật.
Mặc dù yêu cầu tạm dừng của Bộ TT&TT gây xôn xao và tranh luận trái
chiều về sự hợp tình hợp lý, nhƣng việc VTV bất chấp mệnh lệnh hành chính
cũng nhƣ các nguyên tắc quản lý nhà nƣớc, vẫn cho phát sóng các chƣơng trình
khi chƣa có giấy phép đã tạo ra một tiền lệ xấu. Tuy vậy, trong trƣờng hợp này,
không có một chế tài nào quy định trách nhiệm của cả VTV và đối tác xã hội
hóa là Công ty BHD.
Ngoài ra, cũng phải nhìn nhận trên thực tế việc thực hiện đăng ký liên kết
vẫn chƣa triệt để; vẫn còn tâm lý không muốn công khai hoạt động liên kết của
các đài phát thanh, truyền hình, gây khó khăn cho công tác giám sát của xã hội

và công tác quản lý nhà nƣớc, nhất là đối với hoạt động liên kết trên truyền hình
trả tiền.
17


Qua những ví dụ trên có thể thấy, trên thực tế tính hiệu lực pháp lý của
Thông tƣ 19/2009 còn thấp. Bởi cơ sở pháp lý để xây dựng Thông tƣ này là các
quy định của Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
và Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Báo chí. Tuy nhiên, tại các văn bản đã viện dẫn trên không có bất kỳ một quy
định nào đề cập đến hoạt động liên kết trong sản xuất chƣơng trình truyền hình
cũng nhƣ vấn đề xã hội hóa hoạt động báo chí.
Đây là những vấn đề mà cơ quan quản lý Nhà nƣớc cần tiếp tục quan tâm
xử lý, để bảo đảm một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch vừa bảo đảm quyền
lợi của các đơn vị hoạt động truyền hình, bảo đảm lợi ích của đối tác liên kết và
bảo đảm quyền của ngƣời xem.
3. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRUYỀN HÌNH
3.1 Quan điểm chung về xây dựng chính sách quản lý hoạt động xã hội hóa
truyền hình
Theo Bộ TT&TT, thực tế thời gian qua đã xuất hiện không ít hiện tƣợng
đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình chấp nhận vi phạm các quy định
của pháp luật để đáp ứng thời hạn phát sóng của đối tác liên kết theo hợp đồng
đã ký. Các chƣơng trình xã hội hóa chỉ tập trung vào một số ít đối tác và phần
lớn mua lại format của nƣớc ngoài, trong khi việc Việt hóa lại rất hạn chế, rất ít
chƣơng trình đƣợc sản xuất theo kịch bản trong nƣớc. Đây là biểu hiện khá rõ
nét cho thực trạng đối tác đang nắm quyền chi phối hoạt động xã hội hóa, và các
đài phát thanh - truyền hình vì lợi ích cục bộ, lợi ích của đối tác mà chƣa tính
đến lợi ích chung của công chúng xem truyền hình.

Bộ TT&TT cũng cho biết, theo chƣơng trình xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật năm 2015, Bộ đang khẩn trƣơng nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung
những quy định liên quan đến hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình bảo
đảm phù hợp với thực tiễn, nhƣng vẫn bảo đảm quản lý đƣợc hoạt động liên kết,

18


để cho hoạt động này phát triển lành mạnh, đúng định hƣớng, phát huy các ƣu
điểm và ngăn chặn những hoạt động bán kênh, bán sóng, tƣ nhân núp bóng. Quá
trình xây dựng chính sách quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động xã hội hóa sản
xuất chƣơng trình truyền hình sẽ bám sát những quan điểm sau:
- Lấy Luật Báo chí và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
làm cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các hoạt động liên kết sản xuất chƣơng trình.
- Khuyến khích việc nâng cao chất lƣợng và tỷ trọng các chƣơng trình
truyền hình của Việt Nam trong tổng thời lƣợng phát sóng của các đài truyền
hình, đài phát thanh - truyền hình.
- Bảo đảm tính khách quan, công bằng trong thông tin, hạn chế những ảnh
hƣởng tiêu cực đến tính chất và liều lƣợng thông tin trên một số kênh chƣơng
trình hiện gây bức xúc trong dƣ luận xã hội.
- Xây dựng chính sách quản lý hoạt động xã hội hóa nhằm giúp hoạt động
này có một khung pháp lý cần thiết để phát triển đúng định hƣớng, phát huy các
ƣu điểm và ngăn chặn những hoạt động bán kênh, bán sóng.
- Xác định rõ quyền và trách nhiệm của các đài phát thanh - truyền hình
và các đơn vị, tổ chức tham gia hoạt động xã hội hóa, bảo đảm sự công bằng,
minh bạch của các bên tham gia theo quy định của pháp luật.
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động
xã hội hóa truyền hình
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt
động xã hội hóa truyền hình

Hiện nay, Luật Báo chí và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo
chí là hai văn bản pháp lý quan trọng nhất, có hiệu lực pháp lý cao nhất điều
chỉnh trực tiếp hoạt động báo chí, trong đó có hoạt động sản xuất, phát sóng
chƣơng trình truyền hình. Tuy nhiên, chƣa có bất kỳ quy định nào của Luật Báo
chí và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí đề cập đến vấn đề xã
hội hóa trong hoạt động báo chí nói chung và hoạt động xã hội hóa sản xuất
chƣơng trình truyền hình nói riêng.
19


Trong khi đó, trong lĩnh vực truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình,
Luật Viễn thông đã mở rộng các đối tƣợng đƣợc phép tham gia thực hiện việc
truyền dẫn phát sóng các chƣơng trình phát thanh, truyền hình đến các doanh
nghiệp ngoài Nhà nƣớc thay cho trƣớc đây chỉ do các đài phát thanh - truyền
hình hoặc doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện. (Hiện ngoài Đài Truyền hình Việt
Nam (VTV) và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC là hai cơ quan báo chí, còn có
Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu (AVG) đƣợc phép cung cấp dịch vụ truyền
dẫn, phát sóng trên phạm vi toàn quốc.)
Quốc hội đã chấp thuận đƣa dự án Luật Báo chí sửa đổi vào chƣơng trình
họp của Quốc hội năm 2015. Dự luật này đã đƣợc đƣa ra thảo luận tại Kỳ họp
thứ 10. Đây là điều kiện thuận lợi để bổ sung kịp thời các quy định có tính chất
đặc thù của hoạt động truyền hình, bám sát thực tiễn phát triển của ngành, trong
đó có hoạt động xã hội hóa sản xuất các chƣơng trình truyền hình.
Đây cũng là cơ sở pháp lý để thể chế hóa chính sách quản lý nhà nƣớc đối
với hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình bằng văn bản có tính
pháp lý cao hơn, có phạm vi điều chỉnh rộng hơn với những quy định cụ thể hơn,
phù hợp với yêu cầu thực tiễn thay thế Thông tƣ số 19/2009 của Bộ Thông tin và
Truyền thông.
Theo quy định của pháp luật về báo chí, Tổng Giám đốc, Giám đốc các
đài truyền hình là ngƣời đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ

hoạt động của cơ quan báo chí, đặc biệt là nội dung thông tin trên báo chí. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, ngƣời đứng đầu các đài truyền hình, nhất là các đài lớn,
thực hiện ủy quyền quản lý nội dung chƣơng trình cho những cá nhân chƣa đƣợc
cơ quan quản lý, chỉ đạo báo chí thỏa thuận bổ nhiệm. Bằng cách nhƣ vậy,
ngƣời đứng đầu cơ quan báo chí hầu nhƣ né tránh trách nhiệm khi xảy ra sai
phạm về nội dung chƣơng trình, gây khó khăn cho việc xử lý sai phạm và giảm
hiệu quả răn đe, giáo dục của việc xử lý. Vì thế, trong thời gian tới, cần xây
dựng quy định kiểm soát cơ chế ủy quyền chịu trách nhiệm về nội dung của lãnh
đạo các cơ quan báo chí để tăng cƣờng trách nhiệm trƣớc pháp luật của lãnh đạo
20


các đài phát thanh - truyền hình trong hoạt động xã hội hóa. Đồng thời xử lý
nghiêm trách nhiệm của ngƣời đứng đầu đài truyền hình trong việc vi phạm các
quy định về hoạt động liên kết trong sản xuất chƣơng trình.
Ngoài ra, cần xây dựng các quy định bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đối tác xã hội hóa, đồng thời quy định các chế tài cụ thể xử lý các sai phạm đối
với các đơn vị này trong hoạt động sản xuất chƣơng trình truyền hình.
3.2.2 Nâng cao năng lực quản lý của các đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình
Để bảo đảm chất lƣợng các chƣơng trình truyền hình xã hội hóa, giữ vai
trò chủ động trong kế hoạch phát sóng kênh, chƣơng trình truyền hình liên kết,
các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình phải xây dựng kế hoạch thực
hiện các chƣơng trình xã hội hóa và thực hiện tốt Quy chế quản lý và thực hiện
hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình phù hợp với các quy
định của pháp luật và mô hình quản lý thực tế của đài.
3.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực sản xuất chương trình cho
đối tác xã hội hóa
Chất lƣợng các chƣơng trình xã hội hóa phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ
nhân lực tham gia sản xuất chƣơng trình của đối tác liên kết. Vì vậy, rất cần xây
dựng chính sách hỗ trợ đào tạo, đặc biệt là đào tạo lại cả về chuyên môn nghiệp

vụ và ý thức chính trị cho đội ngũ nhân lực tham gia sản xuất chƣơng trình
truyền hình của đối tác liên kết. Đây là giải pháp gián tiếp nhƣng có hiệu quả lâu
dài nhằm nâng cao chất lƣợng các chƣơng trình.
3.2.4 Xây dựng chính sách tài chính rõ ràng, minh bạch và linh hoạt đối với
hoạt động xã hội hóa truyền hình
Chính sách tài chính đối với hoạt động xã hội hóa hiện nay chƣa tạo điều
kiện để các đối tác liên kết sản xuất kênh, chƣơng trình truyền hình của các đài
yên tâm xây dựng chiến lƣợc đầu tƣ lâu dài để nâng cao chất lƣợng các chƣơng
trình truyền hình. Vì vậy, cần xây dựng chính sách tài chính về thuế, phí, tỷ lệ
hoa hồng quảng cáo... một cách rõ ràng, minh bạch và linh hoạt đối với hoạt
động xã hội hóa sản xuất kênh, chƣơng trình truyền hình.
21


3.2.5 Kiểm soát số liệu điều tra xã hội học về truyền hình
Định lƣợng khán giả truyền hình là hoạt động điều tra xã hội học phản ánh
lƣợng khán giả theo dõi các chƣơng trình truyền hình khác nhau, tại các thời
điểm khác nhau. Đây là một dịch vụ đặc thù, đặc biệt nhạy cảm để định lƣợng
hiệu quả tác động đến công chúng của các chƣơng trình truyền hình. Hiện nay,
trên cả nƣớc chỉ có một doanh nghiệp nƣớc ngoài (công ty TNS thuộc Tập đoàn
Kantar Media - Anh) trực tiếp cung cấp dịch vụ này, nên thiếu cơ chế kiểm soát
của Nhà nƣớc bảo đảm kết quả điều tra đƣợc khách quan. Trên thực tế, các đài
truyền hình và cả các đối tác xã hội hóa đang có dấu hiệu bị phụ thuộc vào kết
quả điều tra của doanh nghiệp này để cạnh tranh về thu hút quảng cáo.
Vì thế, cần xây dựng và ban hành các quy định chặt chẽ về việc công bố
số liệu điều tra định lƣợng khán giả truyền hình. Xác định rõ trách nhiệm, thẩm
quyền của cơ quan quản lý nhà nƣớc về truyền hình đối với lĩnh vực này để bảo
đảm tính khách quan và loại trừ động cơ thƣơng mại của các doanh nghiệp tác
động đến hiệu quả của các chƣơng trình truyền hình và kích thích cạnh tranh
không lành mạnh chạy theo lợi nhuận quảng cáo của các đối tác thực hiện liên

kết sản xuất chƣơng trình truyền hình.

22


KẾT LUẬN
Chủ trƣơng xã hội hóa những năm qua đã đem đến luồng sinh khí mới cho
đời sống truyền hình cả nƣớc, tạo ra cuộc cạnh tranh nâng cao chất lƣợng
chƣơng trình truyền hình. Việc các công ty truyền thông tham gia vào lĩnh vực
truyền hình, lĩnh vực vốn đƣợc coi là đòi hỏi chi phí đầu tƣ lớn nhất trong các
loại hình báo chí, đã làm phong phú thêm nội dung chƣơng trình, giúp khán giả
có thêm nhiều sự lựa chọn có chất lƣợng. Hơn nữa, việc các công ty hợp tác sản
xuất cũng giúp các đài truyền hình giảm tải rất nhiều cả về nhân lực và kinh phí
- ở đây là nguồn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc. Và điều quan trọng là, chính
những công ty truyền thông ấy đã góp phần nâng cao nghiệp vụ sản xuất chƣơng
trình khi đầu tƣ phát triển công nghệ sản xuất chƣơng trình tiên tiến.
Không thể kể hết những chƣơng trình truyền hình liên kết ra đời ở Việt
Nam thời gian qua. Đây hoàn toàn là sự phát triển tất yếu khi giải trí truyền hình
là thị trƣờng kinh doanh mới đầy tiềm năng. Yếu tố mới lạ và những giá trị tích
cực mà một số chƣơng trình giải trí của truyền hình liên kết mang lại đã thu hút
lƣợng lớn khán giả, kéo theo các nhà tài trợ, quảng cáo đổ tiền đầu tƣ. Nhƣng
cũng vì nguồn lợi khổng lồ mang lại cho các đơn vị liên kết sản xuất và nhà đài
giữ bản quyền phát sóng mà nhiều công ty đã đua nhau mua bản quyền chƣơng
trình nƣớc ngoài về sản xuất, “mua sóng” các kênh, thậm chí là “mua kênh” để
kinh doanh. Trong cuộc đua giành thị phần luôn có hai mặt đƣợc và mất. Và khi
cuộc đua cạnh tranh của các nhà sản xuất bị đẩy lên cao trào, khốc liệt mà không
đƣợc kiểm soát, thì tất yếu sẽ nảy sinh nhiều hệ lụy.
Vì vậy, việc xây dựng các giải pháp cả về khung pháp lý và các chính
sách liên quan sẽ có tác động tích cực đến hoạt động xã hội hóa sản xuất chƣơng
trình truyền hình, nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội tham gia vào

hoạt động này, nhƣng vẫn ngăn chặn những mặt tiêu cực của cơ chế thị trƣờng
đến chất lƣợng nội dung các chƣơng trình truyền hình nói riêng, của hoạt động
báo chí nói chung, và không kìm hãm sự phát triển của xu hƣớng tất yếu này.

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thông tin và Truyền thông: Báo cáo đánh giá công tác báo chí năm 2014
và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2015, Hà Nội, 2014
2. Đinh Thị Xuân Hòa: Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở
Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành báo chí học, bảo vệ tại Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2012
3. Hoàng Lê, Quỳnh Nguyễn: Liên kết truyền hình: Trong nhờ đục chịu (2 kỳ),
Tuổi trẻ Online, ngày 18, 19/5/2015
4. Luật Báo chí (1989) và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (1999)
5. Bình Minh: Vì sao các chương trình liên kết của Cát Tiên Sa, BHD không
được cấp phép?, Báo điện tử Infonet, ngày 24/3/2015
6. Bình Minh: Bộ TT&TT: Sẽ nghiêm khắc hơn trong quản lý chương trình
truyền hình liên kết, Báo điện tử Infonet, ngày 02/4/2015
7. Phƣơng Quyên, Đặng Quý Yên: Sản xuất chương trình truyền hình: Cuộc đua
kỳ thú, Báo Doanh nhân Sài Gòn online, ngày 22/5/2015
8. Dƣơng Xuân Sơn: Các loại hình báo chí truyền thông, Nxb. Thông tin và
Truyền thông, Hà Nội, 2014
9. Thông tƣ số 19/2009/TT-BTTT ban hành ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ
Thông tin và Truyền thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất
chƣơng trình phát thanh, truyền hình
10. Trung tâm từ điển học Vietlex: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2010
11. Dƣơng Thanh Tùng: Hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình của Đài
Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và định hướng phát triển,

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, bảo vệ tại Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2013

24


×