TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
----
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CÁC CƠNG TY ĐA QUỐC GIA
Chủ đề: Lý thuyết Đầu tư quốc tế
STT
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
1
Phan Thị Trâm Anh
11150357
2
Nguyễn Hữu Chung
11150660
3
Nguyễn Thị Hằng
11151351
4
Nguyễn Thị Phượng
11153615
5
Lê Thị Thảo
11154017
6
Đặng Thị Kiều Trang
11154452
7
Trần Thị Hải Yến
11155092
Hà Nội, 2018
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ QUỐC
TẾ..........................................................................................................................3
1.1. Khái quát về đầu tư quốc tế.................................................................................3
1.1.1. Khái niệm......................................................................................................3
1.1.2. Đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn.......................................................3
1.1.3. Phân loại.......................................................................................................3
1.2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế.............................................4
1.2.1. Dòng đầu tư FDI...........................................................................................4
1.2.2. Dòng vốn FII.................................................................................................5
1.3. Các xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay................................................................5
CHƯƠNG 2: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VĨ MÔ VỀ ĐẦU TƯ QUỐC
TẾ..........................................................................................................................8
2.1. Lý thuyết của Richard S. Eckaus (1987).............................................................8
2.2. Mơ hình Mac Dougall - Kemp (1960).................................................................8
2.3. Mơ hình lý thuyết của Sibert (1985)....................................................................9
2.4. Một số quan điểm khác về nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế...................10
CHƯƠNG 3: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VI MÔ VỀ ĐẦU TƯ QUỐC
TẾ........................................................................................................................11
3.1. Lý thuyết của Robert Z. Aliber (1970)...............................................................11
3.1.1. Giới thiệu chung về tác giả.........................................................................11
3.1.2. Nội dung của lý thuyết.................................................................................11
3.1.3. Đánh giá chung về lý thuyết........................................................................12
3.1. Lý thuyết của các tổ chức cơng ngiệp (hay cịn gọi là lý thuyết thị trường độc
quyền)....................................................................................................................... 12
1
3.1.1. Nội dung của lý thuyết................................................................................12
3.1.2. Đánh giá chung về lý thuyết........................................................................13
3.2. Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon.............................................................14
3.2.1. Nội dung của lý thuyết................................................................................14
3.2.2. Đánh giá chung về lý thuyết........................................................................15
3.3. Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu.............................................16
3.3.1. Nội dung của lý thuyết................................................................................16
3.3.2. Đánh giá chung về lý thuyết........................................................................17
3.4. Lý thuyết chiết trung của Dunning....................................................................17
3.4.1. Nội dung của lý thuyết................................................................................17
3.4.2. Đánh giá chung về lý thuyết........................................................................19
3.5. Một số lý thuyết khác........................................................................................19
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ...........................................................................................................21
4.1. Đánh giá các lý thuyết vĩ mô về đầu tư quốc tế.................................................21
4.2. Đánh giá các lý thuyết vi mô về đầu tư quốc tế.................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................23
2
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU
TƯ QUỐC TẾ
1.1. Khái quát về đầu tư quốc tế
1.1.1. Khái niệm
Đầu từ quốc tế là quá trình vận động của vốn giữa các quốc gia nhằm đạt những
mục đích, mục tiêu nhất định (có thể là lợi nhuận, có thể phi lợi nhuận, có thể cả hai
mục tiêu này).
1.1.2. Đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn
-
Di chuyển quốc tế về vốn là một loại hoạt động đầu tư gắn liền với những vấn
đề tài chính của các chủ thể tham gia có quốc tịch khác nhau.
-
Các bên liên quan thường kỳ vọng hoạt động di chuyển quốc tế về vốn sẽ đem
lại lợi ích cho tất cả các bên: bên chuyển vốn và bên nhận vốn.
-
Vốn luôn di chuyển từ quốc gia có lợi nhuận thấp sang quốc gia có lợi nhuận
cao. Trong nhiều trường hợp, người có số vốn sẽ thành lập hoặc mua lại các cơ sở sản
xuất – kinh doanh ở nước ngoài và trở thành chủ sở hữu của những doanh nghiệp đó.
Quyền quản lý của họ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn mà họ có trong doanh nghiệp đó.
-
Hoạt động di chuyển quốc tế về vốn luôn mang tầm chiến lược và là hoạt động
đa mục tiêu. Nó gắn liền với việc tạo dựng vị trí mà và hình ảnh quốc gia của các chủ
sở hữu trên khu vực và thế giới
-
Hoạt động di chuyển quốc tế về vốn luôn chứa đựng nhiều rủi ro do môi trường
kinh doanh ở quốc gia chuyển vốn đến thường có nhiều điểm khác biệt với mơi trường
kinh doanh ở quốc gia bản địa của các chủ sở hữu.
1.1.3. Phân loại
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốc
gia, trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sang
nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý cơ sở kinh
doanh tại nước đó.
Đầu tư gián tiếp nước ngồi (FII) là loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia,
trong đó người sở hữu vốn mua cở phần, cở phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác,
thơng qua quỹ đầu tư chứng khốn và các định chế tài chính trung gian khác để đầu tư
3
vào nước tiếp nhận và nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý đối tượng bỏ vốn
đầu tư.
1.2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế
1.2.1. Dòng đầu tư FDI
Từ cuối thế kỷ XĨ đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Anh và một số
nước tư bản phát triển khai thác mở rộng hệ thống thuộc địa của họ ở các nước đang
phát triển. Các chính sách khai thác thuộc địa của các nước này đã thúc đẩy các công
ty của họ mở rộng đầu tư vào các nước thuộc địa. Từ thời gian này, hình thức FDI
được hình thành chủ yếu nhằm khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên dồi dào và giá
nhân cơng rẻ ở các nước thuộc địa. Có thể nói rằng, mặc dù sự hình thành FDI khơng
có quan hệ trực tiếp đến việc mở rộng hệ thống thuộc địa của các nước, nhưng cho đến
chiến tranh thế giới thứ nhất, sự phát triển của FDI luôn gắn liền với các chính sách
khai thác thuộc địa của các nước.
Trong giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, nguồn gốc của đầu tư quốc tế khơng
cịn tập trung từ các nước tư bản Châu Âu, mà bắt đầu có sự tham gia đáng kể của Mỹ
và Nhật Bản. Trong giai đoạn này, dòng vốn đầu tư quốc tế chủ yếu dưới hình thức
FDI và bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc phân chia thuộc địa giữa các nước đế quốc.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, chương trình phục hồi
kinh tế Châu Âu và Nhật Bản của Mỹ đã thúc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của nước
này. Đến cuối thập kỷ 60, dòng vốn đầu tư quốc tế vẫn chủ yếu lưu chuyển giữa các
nước tư bản phát triển, dưới hình thức FDI tập trung vào khu vực chế tạo.
Từ cuối thập kỷ 70 đến giữa những năm 80, dòng vốn FDI có sự biến động
khơng ởn định và ở mức bình quân khoảng 50 tỷ USD. Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 80
đến đầu thập kỷ 90, dòng vốn này tăng mạnh trong các nước phát triển và đang phát
triển. Tổng dòng vốn FDI trên thế giới đạt khoảng 400 tỷ USD vào năm 1997. Tuy
nhiên, tỷ trọng FDI trong tổng dòng lưu chuyển này vào các nước đang phát triển,
dòng vốn FDI tập trung chủ yếu vào khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ. Các nước đang phát
triển trong khu vực Đông Nam Á và Châu Mỹ Latinh chiếm phần lớn tởng dịng vốn
FDI vào các nước đang phát triển, trong đó, đặc biệt là các nước NICs Châu Á.
Cũng từ giữa thập kỷ 80 lại đây, một đặc điểm nởi bật trong dịng lưu chuyển
FDI trên thế giới là xuất hiện ngày càng tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngồi của các
nước đang phát triển, trong đó nởi bật là từ các nước mới cơng nghiệp hóa NICs. Theo
4
báo cáo đầu tư quốc tế năm 1998 cho thấy, nếu trong các năm 1986 – 1991 FDI ra
nước ngoài của các nước đang phát triển chỉ ở mức bình quân 11.131 triệu USD thì
đến những năm đầu thập kỷ 90 dịng vốn này đã tăng nhanh chóng đạt tới mức 61.138
triệu USD vào năm 1997.
Như vậy, qua các số liệu thống kê cho thấy động thái FDI tuy có biến động
khơng ởn định nhưng có xu hướng gia tăng nhanh, đặc biệt là từ cuối thập kỷ 80. Hiện
tượng này phản ánh rõ tác động tích cực của những sự thay đổi trong môi trường đầu
tư quốc tế từ thời gian này.
1.2.2. Dịng vốn FII
Có thể nói, đầu tư quốc tế bắt đầu được hình thành từ nước Anh vào khoảng
cuối thế kỷ XIX. Do nhu cầu vốn lớn của cuộc cách mạng công nghiệp, nước Anh đã
phát hành các trái phiếu chính phủ để huy động vốn từ các nước phát triển Tây Âu.
Bởi thế, hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát
triển của đầu tư quốc tế.
Mặc dù có lịch sử hình thành sớm hơn hình thức FDI, nhưng hình thức đầu tư
nước ngồi gián tiếp chỉ thực sự phát triển từ đầu thập kỷ 90 và tập trung vào các thị
trường mới nởi. Nếu năm 1986 dịng vốn đầu tư gián tiếp vào các nước này khoảng
706 triệu USD thì đến năm 1990 đạt 3390 triệu USD và năm 1995 lên đến 34.537 triệu
USD, tính bình qn giai đoạn 1986 – 1995, dòng vốn này vào các nước có thị trường
mới nởi khoảng 15.253 triệu USD/năm. Dịng vốn này tập trung nhiều ở hai khu vực là
Châu Á và Châu Mỹ Latinh.
1.3. Các xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay
Cho tới nay, đầu tư quốc tế đã trải qua nhiều xu hướng phát triển: đầu tư truyền
thống (các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính một
chiều); đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển và đầu tư vào các nước đang phát triển
của các nước đang phát triển. Xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay là sự đan xen giữa
các xu hướng này. Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triển
ngày càng gia tăng. Hiện tượng này phản ánh tốc độ hịa nhập nhanh chóng của các
nước đang phát triển vào q trình tồn cầu hóa.
Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới.
Hơn một thập kỷ qua, các quy chế về FDI của các nước có sự thay đởi nhanh chóng, từ
5
bảo hộ đến giới hạn hoặc kiểm soát và gần đây chuyển sang thúc đẩy theo chiều hướng
tự do hóa FDI ở phạm vi khu vực và từng nhóm nước.
Một đặc điểm nổi bật khác là xu hướng đầu tư theo hình thức Sát nhập và Thơn
tính (M&A) tăng mạnh trong những năm gần đây. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự
bùng nổ làn song FDI là do xu hướng này tạo nên các công ty lớn hơn với sức cạnh
tranh rất cao. Điều đó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa FDI với chiến lược tồn cầu
hóa của các công ty xuyên quốc gia. Giá trị các vụ Sát nhập và Mua lại xuyên quốc gia
chiếm hơn 80% tổng giá trị FDI trên thế giới trong năm 2002. Và đó là nguồn FDI chủ
yếu đối với các nước phát triển. Còn đối với các nước đang phát triển thì nguồn vốn
FDI mới vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Bên cạnh đó, các cơng ty xun quốc gia đang chi phối hoạt động FDI trên toàn
cầu. Một đặc trưng của FDI hiện nay là có sự tham gia ngày càng nhiều của các công
ty xuyên quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia thường dựa vào chiến lược phát triển
cạnh tranh độc quyền và lợi thế của họ ở các nước đang phát triển để tiến hành hoạt
động FDI. Các cơng ty này kiểm sốt 90% vốn FDI trên thế giới.
Tồn cầu hóa cũng là một ngun nhân thúc đẩy FDI của các cơng ty xun
quốc gia, nó làm tăng them khả năng tương tác quốc tế và tính cạnh tranh của các chủ
đầu tư và nó cũng là đối tượng cạnh tranh chủ yếu của các nước đang phát triển. Sự
ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia được thể hiện ở sự gia tăng về lượng vốn
FDI trên thế giới. Điều này đặt ra cho các nước đang phát triển một vấn đề khó là cần
chú trọng vào thu hút FDI của các công ty xuyên quốc gia.
Theo dự đoán của các nà kinh tế, đầu tư quốc tế sẽ tiếp tục tăng vượt tốc độ
tăng trưởng của kinh tế thế giới và tốc độ của thương mại quốc tế. Sự vận động của
đầu tư quốc tế sẽ theo những xu hướng sau đây:
- FDI sẽ tiếp tục được tập trung vào các nước phát triển.
- Sát nhập sẽ là hình thức đầu tư chủ yếu.
- FDI tập trung vào các ngành kinh tế mới đó là: Tin học, công nghệ thong tin
và công nghệ sinh học dẫn đến tình trạng các ngành sản xuất mới phát triển mạnh mẽ,
còn các ngành sản xuất truyển thống sẽ bị sát nhập thành các công ty cực lớn hoặc
được tở chức lại.
Dịng vốn FDI ở các nước đang phát triển như sau:
6
- Châu Á vẫn là khu vực quan trọng và năng động nhất trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài, nhưng cơ cấu trong nội bộ FDI có thể thay đổi.
- Một số nước đang phát triển quay trở lại đầu tư sang các nước đã và đang là
nhà đầu tư lớn nhất của các nước này.
7
CHƯƠNG 2: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VĨ MÔ VỀ ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư quốc tế giải thích và dự đốn hiện tượng
đầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, lao
động, cơng nghệ) giữa các nước, trong đó đặc biệt là giữa các nước phát triển và đanh
phát triển. Các lý thuyết này dựa trên mơ hình cở điển 2x2 (hai nước, hai hàng hóa, hai
yếu tố sản xuất) để so sánh hiệu quả vốn đầu tư hoặc tỷ suất lợi nhuận giữa các nước.
2.1. Lý thuyết của Richard S. Eckaus (1987)
Trên cơ sở mơ hình lý thuyết thương mại quốc tế của Heckcher & Ohlin – HO
(1933), Richard S. Eckaus (1987) đã loại bỏ giả định khơng có sự di chuyển các nhân
tố sản xuất (vốn, công nghệ, …) giữa các nước để mở rộng phân tích ngun nhân
hình thành đầu tư quốc tế. Theo ông, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi tồn cầu
nhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện di
chuyển dòng vốn đầu tư nước ngồi. Richard cho rằng, nước đầu tư thường có hiệu
quả sử dụng vốn thấp (thừa vốn), trong khi nước nhận đầu tư lại có hiệu quả sử dụng
vốn cao hơn (thiếu vốn). Vì vậy, chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn giữa các nước đã
làm xuất hiện lưu chuyển dịng vốn đầu tư giữa các nước.
2.2. Mơ hình Mac Dougall - Kemp (1960)
Cùng với quan điểm của Richard, A. MacDougall (1960) cho rằng, chênh lệch
về năng suất cận biên của vốn giữa các nước là nguyên nhân dẫn đến lưu chuyển vốn
quốc tế. Quan điểm này sau đó được M. Kemp (1964) phát triển thành mơ hình Mac
Dougall – Kemp để giải thích hiện tượng OFDI.
Theo mơ hình này, những nước phát triển (đang thừa vốn đầu tư) có năng suất
cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước đang phát triển
(đang thiếu vốn). Vì thế, xuất hiện dịng lưu chuyển vốn giữa hai nhóm nước này.
Ngồi ra, những giả định khác đó là: Thị trường tại hai quốc gia là cạnh tranh hồn
hảo; Vốn được tự do di chuyển; Thơng tin thị trường hoàn hảo; Các quốc gia đều cùng
sản xuất một loại hàng hóa.
Hình 1: Mơ hình Mac Dougall – Kemp
8
Giả sử, trên thế giới có 02 quốc gia, tởng vốn đầu tư của hai nước là O1O2,
trong đó vốn ở nước đầu tư (I) là O1Q, tương tự ở nước nhận đầu tư là O2Q. Năng
suất cận biên của vốn ở nước (I) là O1M, tương tự ở nước (II) là O2m. Các đường MN
và mn là giới hạn năng suất cận biên của vốn ở hai nước (nước I thấp hơn nước II) và
đều có xu hướng giảm dần.
Trước khi có di chuyển vốn giữa hai nước, tởng sản lượng của nước (I) là
O1MNQ và tổng sản lượng của nước (II) là O2muQ. Do có sự chênh lệch năng suất
cận biên của vốn ở hai nước, vốn nước (I) chuyển sang nước (II) là SQ đến khi năng
suất cận biên của vốn ở hai nước cân bằng tại điểm P (SP = O1E = O2e). Kết quả làm
tăng sản lượng hai nước là PuN, phần dơi ra ngồi tởng sản lượng của hai nước trước
khi có sự dịch chuyển vốn.
Mơ hình này đã nêu được điều kiện cần cho đầu tư quốc tế là chênh lệch về
năng suất cận biên của vốn giữa các nước nhưng chưa nêu được điều kiện đủ. Ngồi
ra, mơ hình cịn chưa giải thích được một số hiện tượng lưu chuyển dịng vốn đầu tư
quốc tế, không phân tách được FDI và PI.
2.3. Mơ hình lý thuyết của Sibert (1985)
Đánh thuế cao đối với đầu tư nước ngoài tuy tăng được nguồn thu cho ngân
sách nhưng lại làm giảm lợi ích mang lại cho nền kinh tế về mặt lâu dài. Theo tác giả,
thếu cao khơng khuyến khích được đầu tư nước ngồi và vì thế các yếu tố đầu tư trong
nước khơng khai thác được lợi thế so sánh. Tuy nhiên, mức thuế thấp đối với đầu tư
nước ngoài sẽ làm giảm nguồn thu ngân sách và không bảo hộ được các ngành công
9
nghiệp nội địa trước sự cạnh tranh mạnh của các cơng ty nước ngồi. Bởi vậy, cần điều
chỉnh mức thuế hợp lý đối với đầu tư nước ngoài. Điều này sẽ đem lại lợi ích tối đa
cho nước nhận đầu tư.
2.4. Một số quan điểm khác về nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế
Theo Krugman; Dunning và Narula, họ cho rằng, sở dĩ có đầu tư quốc tế là do
có sự thay đởi các chính sách kinh tế vĩ mơ như ài chính, thuế, ngoại hối ở các nước
tham gia đầu tư.
Theo K. Kojima, sở dĩ có đầu tư quốc tế là do có sự khác nhau về tỷ suất lợi
nhuận giữa các nước. Cũng dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của mơ hình Heckcher
– Ohlin – Samuelson, K. Kojima đã phát triển để chứng minh rằng những nước có tỷ
suất lợi nhuận cao sẽ thu hút được các nhà đầu tư. Theo tác giả, nguyên nhân hình
thành đầu tư nước ngồi là có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước và sự
chênh lệch này được bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao
động quốc tế.
Như vậy, các lý thuyết trên đã giải thích được rằng, về thực chất, sự xuất hiện
của đầu tư nước ngoài đều dựa vào nguyên tắc lợi thế so sánh trong phân công lao
động quốc tế. Đây là nguyên tắc chung cho cả lý thuyết thương mại và di chuyển các
nguồn lực sản xuất quốc tế. Mặt khác, các quan điểm lý thuyết cũng cho rằng đầu tư
nước ngồi có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và các nước
giam gia đầu tư, trong đó nhất là việc thực hiện CNH của các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, các lý thuyết trên cũng chỉ mới giải thích được điều kiện “cần” để xuất hiện
luân chuyển dòng vốn giữa các nước.
10
CHƯƠNG 3: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VI MÔ VỀ ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
Các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu tư quốc tế đều xoay quanh trả lời câu hỏi là
tại sao các công ty đầu tư ra nước ngồi? Vì thế, các lý thuyết này giải thích khác nhau
về nguyên nhân hình thành các TNCs và đánh giá tác động của chúng đối với nước
nhận đầu tư, chủ yếu là các nước đang phát triển.
3.1. Lý thuyết của Robert Z. Aliber (1970)
3.1.1. Giới thiệu chung về tác giả
Robert Z. Aliber sinh ngày 19 tháng 9 năm 1930, là giáo sư của trường Đại học
Tài chính Kinh tế Quốc tế Chicago. Ơng được biết đến với những đóng góp cho lý
thuyết về đầu tư nước ngồi trực tiếp. Ơng đã đưa ra khái niệm về tỷ giá hối đoái trong
đầu tư nước ngồi trực tiếp.
Ơng nhận được bằng cử nhân văn học từ trường Cao đẳng Williams (1952), một
bằng cử nhân (1954) và thạc sĩ văn học (1957) từ Đại học Cambridge, bằng tiến sĩ từ
Đại học Yale. Ông là nhân viên kinh tế tại Commission on Money and Credit (1959–
61), Committee for Economic Development (1961–64). Sau đó, Aliber trở thành cố
vấn kinh tế cấp cao của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (1964-1965). Ơng được bở
nhiệm làm giáo sư tại Đại học Chicago vào năm 1964.
Ông cũng được đề cập đến trong một cuốn sách của Michael Lewis là Travels
in the New Third World.
Một số tác phẩm của ông:
- Manias, Panics and Crashes: A History of Financial Crises, Sixth Edition
- Your Money and Your Life: A Lifetime Approach to Money Management
(Stanford Economics and Finance)
- The New International Money Game, ...
3.1.2. Nội dung của lý thuyết
Robert Aliber đã giải thích hiện tượng FDI trên cơ sở phân tích ngun nhân
đầu từ ra quốc tế của các cơng ty độc quyền từ hàng rào thuế quan và quy mơ thị
trường. Theo lý thuyết này, vì thuế quan làm tăng giá nhập khẩu nên các công ty phải
di chuyển sản xuất ra quốc tế để giảm chi phí giá thành.
11
Mặt khác, do hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào quy mô của thị trường nên các
công ty độc quyền không ngừng mở rộng thị trường ra quốc tế. Tuy nhiên, việc quyết
định khai thác lợi thế độc quyền của công ty để sản xuất hàng xuất khẩu hay cho các
cơng ty quốc tế th (giấy phép sản xuất, bí quyết công nghê, …) hoặc trực tiếp khai
thác những lợi thế này (FDI) ở quốc tế còn phụ thuộc vào so sánh hiệu quả khai thác
những lợi thế độc quyền.
Theo cách giải thích trên cho thấy, sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các
nước là ngun nhân hình thành đầu tư quốc tế. Như vậy, về bản chất, các quan điểm
lý thuyết này cũng dựa vào mơ hình phân tích lợi thế so sánh trong phân cơng lao động
quốc tế để giải thích hiện tượng di chuyển vốn giữa các nước. Tuy nhiên, khác với
cách giải thích của các quan điểm kinh tế vĩ mơ, cách giải thích này đã tiếp cận cụ thể
với các yếu tố quyết định TNCs đầu tư ra nước ngồi, vì thế có sức thuyết phục hơn.
3.1.3. Đánh giá chung về lý thuyết
Ưu điểm
Được nhiều công ty đa quốc gia chọn làm lý thuyết điển hình, chính yếu giải
thích cho ngun nhân tại sao các công ty này thực hiện đầu tư ra nước ngồi. Mơ hình
chỉ ra được MNCs tự tin trong việc tận dụng về thuế, lợi thế sẵn có do nguồn vốn lớn
sẽ tạo tầm ảnh hưởng, nắm được dòng vốn đầu tư vào các quốc gia trên thế giới.
Nhược điểm
Lý thuyết của Aliber đã bỏ lỡ các yếu tố khác ngoài thuế như kỹ năng của lao
động và tiến bộ công nghệ. Hơn nữa, ông đưa ra lý thuyết theo giả định đơn giản hóa
các tiêu chuẩn hóa sản xuất.
3.1. Lý thuyết của các tổ chức công ngiệp (hay còn gọi là lý thuyết thị
trường độc quyền)
3.1.1. Nội dung của lý thuyết
Lý thuyết tổ chức công nghiệp do Stephen Hymer và Charles Kindleberger nêu
ra. Theo lý thuyết này, sự phát triển và thành cơng của hình thức đầu tư liên kết theo
chiều dọc phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) quá trình liên kết theo chiều dọc các giai đoạn
khác nhau của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giảm bớt chi phí sản xuất; (2) việc
sản xuất và khai thác kỹ thuật mới; (3) cơ hội mở rộng hoạt động ra đầu tư nước ngồi
có thể tiến hành được do những tiến bộ trong ngành giao thông và thông tin liên lạc.
12
Giả thuyết Hymer – Kindleberger cho rằng, bởi vì các cơng ty nước ngồi nhất
thiết phải có một số nhược điểm đối với các cơng ty trong nước (ví dụ về kiến thức thị
trường, giao tiếp), nên muốn tham gia sản xuất ở nước ngồi, các cơng ty này cần có
những lợi thế cụ thể. Hơn nữa, việc đầu tư trực tiếp nước ngồi khơng phải là việc
chuyển vốn – điều này có thể được cung cấp cho các cơng ty địa phương sử dụng các
hình thức tài chính quốc tế khác. Đó là về việc chuyển giao quốc tế tài sản độc quyền
và vơ hình – cơng nghệ, kỹ thuật kinh doanh và nhân viên có hay nghề cao. Hymer cho
rằng sự tồn tại của FDI là độc quyền do sự khơng hồn hảo của thị trường quốc tế đối
với các tài sản này. Công ty “tiếp thu hoặc thay thế” những thất bại của thị trường này
thông qua đầu tư trực tiếp.
Chiến lược liên kết chiều dọc của các công ty đa quốc gia là đặt các công đoạn
sản xuất ở những vị trí khác nhau trên phạm vi toàn cầu, nhằm tận dụng lợi thế so sánh
ở các nền kinh tế khác nhau, hạ thấp giá thành sản phẩm thông qua sản xuất hàng loạt
và chuyên môn hố, tăng khả năng cạnh tranh của cơng ty trên thị trường.
Cách tiếp cận của Hymer đã được các nhà kinh tế Graham và Krugman sử dụng
(1989) để giải thích cho sự tăng lên của FDI vào nước Mỹ trong những năm gần đây
(khi mà họ đã đánh mất những lợi thế đã có cách đây 20 năm).
3.1.2. Đánh giá chung về lý thuyết
Ưu điểm
Chỉ ra được rằng vấn đề mà các công ty quốc tế muốn đầu tư ra nước ngồi phải
đối mặt là: có hai yếu tố quyết định chính về số lượng sản xuất quốc tế. Thứ nhất là
phạm vi của thị trường ở mỗi quốc gia và thứ hai là khả năng cạnh tranh của các cơng
ty thành viên nước ngồi trong các cơng ty bản địa và không cư trú.
Nhược điểm
Giả thuyết của tổ chức cơng nghiệp chưa phải là giả thuyết hồn chỉnh về FDI.
Nó khơng trả lời được câu hỏi: vì sao cơng ty lại sử dụng hình thức FDI chứ khơng
phỉa là hình thức sản xuất trong nước rồi xuất khẩu sản phẩm hoặc hình thức cấp giấy
phép hoặc bán những kỹ năng đặc biệt của nó cho các cơng ty nước sở tại.
Hymer dường như tin rằng FDI là chiến lược quốc tế hóa hiệu quả nhất, đặc
biệt khi so sánh với việc cấp phép. Nếu lợi thế được dựa trên cơng nghệ hoặc trên một
số tài sản vơ hình, FDI được coi là giải pháp có khả năng nhất để tối đa hóa lợi nhất.
Ba lý do đã được trình bày đó là: (i) lợi thế của cơng ty có thể rất khó để định giá; (ii)
13
FDI loại bỏ chi phí xác định và quản lý thỏa thuận cấp phép; (iii) đơn giản là không
thể bán quyền lực độc quyền.
3.2. Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon
3.2.1. Nội dung của lý thuyết
Lý thuyết này được S. Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R. Vernon phát
triển một cách có hệ thống từ năm 1966. Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn
thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản
phẩm. Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và
đầu tư quốc tế bằng cách phân tích q trình quốc tế hố sản xuất theo các giai đoạn
nối tiếp nhau. Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải
sự thay đổi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các
nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm", sau là đến
các nước "bắt chước muộn". Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này rất
đơn giản, đó là: Mỗi sản phẩm có một vịng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào
thải; vòng đời này dài hay ngắn tuỳ vào từng sản phẩm. Các nước công nghiệp phát
triển thường nắm giữ những công nghệ độc quyền do họ khống chế khâu nghiên cứu
và triển khai và do có lợi thế về quy mô. Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản
phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác.
Nhưng khi sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản
xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác. Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ
được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó. Cụ thể vòng đời quốc tế của một sản
phẩm gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Sản phẩm mới xuất hiện cần thơng tin phản hồi nhanh xem có
thoả mãn nhu cầu khách hàng không và được bán ở trong nước cũng là để tối thiểu hố
chi phí. Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể. Người tiêu dùng chú trọng
đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm. Qui trình sản xuất chủ yếu là
sản xuất nhỏ.
+ Giai đoạn 2: Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối
thủ cạnh tranh trong và ngồi nước xuất hiện vì thấy có thể kiếm được nhiều lợi nhuận.
Nhưng dần dần nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngồi tiếp tục tăng.
Xuất khẩu nhiều (đạt đến đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được xây
14
dựng (sản xuất mở rộng thông qua FDI). Giá trở thành yếu tố quan trọng trong quyết
định của người tiêu dùng.
+ Giai đoạn 3: Sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ởn định, hàng hóa trở
nên thơng dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để
tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh ngày càng khốc
liệt, các thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ. Sản xuất tiếp tục được
chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thơng qua FDI. Nhiều nước xuất khẩu
sản phẩm trong các giai đoạn trước (trong đó có nước phát minh ra sản phẩm) nay trở
thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản xuất
trong nước khơng còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế. Các nước
này nên tập trung đầu tư cho những phát minh mới.
3.2.2. Đánh giá chung về lý thuyết
Ưu điểm
Lý thuyết đã đưa được nhiều yếu tố vào trong giả định trong đó có lập luận là
phát triển cơng nghệ tạo ra những thay đổi về cường độ của các sản phẩm, do đó thay
đởi lợi thế so sánh của các quốc gia. Ở thời điểm lý thuyết được xây dựng, vai trị của
cơng nghệ đang rất quan trọng và thương mại gặp phải rào cản thị trường, MNEs là
các tở chức có khả năng nhất trong việc sản xuất và phân phối hàng hóa đáp ứng nhu
cầu quốc tế khi mà địa điểm sản xuất hiệu quả đang thay đởi theo thời gian.
Mơ hình đã chỉ ra một cách tiếp cận mới và làm nổi bật thực tế ằng FDI là một
thay thế cho thị trường dịch vụ nước ngồi. Hơn nữa, nó cũng mơ tả chính chất đặc
biệt của MNEs với tư cách là chủ sở hữu tài nguyên ở các quốc gia khác nhau so với
các công ty quốc gia.
Nhược điểm
Các giả thuyết mà lý thuyết này đưa ra căn cứ chủ yếu vào tình hình thực tế của
đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngồi trong những năm 1950-1960. Nhưng nó khiến
tác giả khơng thể lý giải được đầu tư của Châu Âu sang Mỹ. Còn về bản chất của các
phát minh, R. Vernon khơng phân biệt được các hình thức phát minh khác nhau. Tác
giả chỉ xem xét trường hợp duy nhất đó là những thay đổi về công nghệ diễn ra đồng
thời cả đối với đặc điểm của sản phẩm và qui trình sản xuất. J. M. Finger (1975) phân
biệt hai loại phát minh khác nhau đó là phát minh liên quan đến đặc điểm sản phẩm và
phát minh liên quan đến qui trình sản xuất và chỉ ra rằng xuất khẩu của Mỹ bị ảnh
15
hưởng nhiều của sự khác biệt về sản phẩm chứ ít chịu ảnh hưởng của những tiến bộ
trong qui trình sản xuất. Về thời gian của vịng đời, khơng nhất thiết các giai đoạn
khác nhau phải diễn ra tuần tự trong một khoảng thời gian quá ngắn. Vòng đời sản
phẩm phải đủ dài để đảm bảo sự chuyển giao thực sự sản xuất trên phạm vi quốc tế.
Trong các nghiên cứu sau, R. Vernon đã khẳng định rằng thời gian giữa khi bắt đầu sản
xuất một sản phẩm mới ở Mỹ đến khi bắt đầu sản xuất ở nước ngoài liên tục được rút
ngắn trong giai đoạn 1945-1975. Ngày nay, khoảng thời gian này của một nửa các sản
phẩm tin học là chưa đến 5 năm; trong ngành hoá chất khoảng thời gian này của một
nửa các sản phẩm là chưa đến 10 năm. Việc giảm thời gian của vòng đời sẽ đe doạ các
vị trí đã có được và các yêu cầu về tiêu dùng và làm trầm trọng hơn sự không ổn định.
Lý thuyết của Vernon gặp nhiều khó khăn trong việc giải thích sự di chuyển của một
số hoạt động sản xuất như sản xuất các thiết bị theo đó chu kỳ phụ thuộc vào nhu cầu
của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng cóliên quan chứ không phụ thuộc trực tiếp vào
dung lượng thị trường này (A. Cotta, 1970). Quan sát này cho thấy một hạn chế quan
trọng trật tự qui trình của các giai đoạn trong vịng đời sản phẩm.
Bên cạnh đó, mơ hình khơng giải thích được quyền sở hữu sản xuất. Ít nhất là
bởi vì lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp thường gắn liền với lợi thế cụ thể theo
từng quốc gia.
3.3. Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu
3.3.1. Nội dung của lý thuyết
Mơ hình “đàn nhạn” của sự phát triển công nghiệp được Akamatsu đưa ra vào
những năm 1961 -1962. Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn: (1) sản
phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước; (2) sản phẩm
trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu; sản xuất để xuất khẩu, FDI sẽ thực
hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với sự thay đổi về lợi thế tương đối.
Ozawa là người tiếp theo nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và mơ hình “đàn
nhạn”. Theo ông, một ngành công nghiệp của nước đang phát triển có lợi thế tương đối
về lao động, sẽ thu hút FDI vào để khai thác lợi thế này. Tuy nhiên sau đó tiền lương
lao động của ngành này dần dần tăng lên do lao động của địa phương đã khai thác hết
và FDI vào sẽ giảm đi. Khi đó các cơng ty trong nước đầu tư ra nước ngồi (nơi có lao
động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tương đối của nước này. Đó là q trình liên tục của
FDI. Mơ hình đã chỉ ra q trình đ̉i kịp của các nước đang phát triển: khi một nước
16
đuổi kịp ở nấc thang cuối cùng của một ngành cơng nghiệp từ kinh tế thấp sang kỹ
thuật cao thì tỷ lệ FDI ra sẽ lớn hơn tỷ lệ FDI vào. Một quốc gia đứng đầu trong đàn
nhạn, đến một thời điểm nhất định sẽ trở nên lạc hậu và nước khác sẽ thay thế vị trí đó.
3.3.2. Đánh giá chung về lý thuyết
Ưu điểm
Đóng góp đáng kể của mơ hình này là sự tiếp cận “động” với FDI trong một
thời gian dài, gắn với xu hướng và quá trình của sự phát triển, có thể áp dụng để trả lời
câu hỏi: vì sao các cơng ty thực hiện FDI, đưa ra gợi ý đối với sự khác nhau về lợi thế
so sánh tương đối giữa các nước dẫn đến sự khác nhau về luồng vào FDI.
Nhược điểm
Tuy nhiên, mô hình “đàn nhạn” được đánh giá là lạc hậu trong thời đại hiện nay
và chưa thể trả lời các câu hỏi vì sao các cơng ty lại thích thực hiện FDI hơn là xuất
khẩu hoặc cung cấp kỹ thuật của mình, và khơng dùng nó để giải thích vì sao FDI lại
diễn ra giữa các nước tương tự về các nhân tố và lợi thế tương đối, vì sao FDI lại diễn
ra từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác. Vấn đề quan trọng hơn là mơ
hình này lờ đi vai trị của nhân tố cơ cấu kinh tế và thể chế.
Trong quá trình quan hệ thương mại tồn cầu được mở rơng, việc sản xuất hàng
hóa để thay thế cho hàng tiêu dùng nhập khẩu khơng cịn phù hợp nhất là khi hàng hóa
đó khơng phải là mặt hàng lợi thế của quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc vuột mất
các cơ hội trong kinh tế quốc tế. Do vậy, các quốc gia ngày nay có xu hướng nhập
khẩu hàng hóa để tiêu dùng để tập trung sản xuất các mặt hàng có lợi thế nhằm phục
vụ mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu
3.4. Lý thuyết chiết trung của Dunning
3.4.1. Nội dung của lý thuyết
Một mơ hình được xây dựng khá cơng phu của Dunning, tởng hợp các yếu tố
chính của nhiều cơng trình khác nhau lý giải về FDI, và đề xuất rằng có 3 điều kiện
cần thiết để một doanh nghiệp có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp. Cách tiếp cận này
được biết đến dưới tên mơ hình “OLI”: lợi thế về sở hữu, lợi thế địa điểm và lợi thế
nội bộ hố.
Dunning chỉ ra rằng một cơng ty tham gia vào FDI nếu ba điều kiện được thỏa
mãn:
17
Có lợi thế về quyền sở hữu rịng (O) đối với các cơng ty từ các nước
khác;
Có lợi thế nội bộ hóa (I) hơn là sử dụng thị trường để chuyển giao cho
các cơng ty nước ngồi;
Có lợi thế về vị trí (L) trong việc sử dụng lợi thế sở hữu của cơng ty ở
nước ngồi hơn là đất nước mình.
Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui
trình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp
khác không thể tiếp cận, ví dụ như bằng sáng chế hoặc kế hoạch hành động
(blueprint). Đó cũng có thể là một số tài sản vơ hình hoặc các khả năng đặc biệt như
cơng nghệ và thông tin, kỹ năng quản lý, marketing, hệ thống tổ chức và khả năng tiếp
cận các thị trường hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc các hàng hoá trung gian hoặc nguồn
nguyên liệu thô, hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Dù tồn tại dưới
hình thức nào, lợi thế về quyền sở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thị trường
hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinh doanh ở nước
ngoài. Mặc dù các lợi thế về quyền sở hữu mang đặc trưng riêng của mỗi doanh
nghiệp, chúng có liên hệ mật thiết đến các năng lực về cơng nghệ và sáng tạo và đến
trình độ phát triển kinh tế của các nước chủ đầu tư.
Thêm vào đó, thị trường nước ngồi phải có lợi thế địa điểm giúp các doanh
nghiệp có lợi khi tiến hành sản xuất ở nước ngồi thay vì sản xuất ở nước mình rồi
xuất khẩu sang thị trường nước ngồi. Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các
yếu tố về nguồn lực, mà cịn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và cơ
cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trườngvà trình độ phát triển, mơi trường
văn hố, pháp luật, chính trị và thể chế, và các qui định và các chính sách của chính
phủ. Cuối cùng, MNE phải có lợi thế nội bộ hoá. Nếu một doanh nghiệp sở hữu một
sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất và nếu việc sản xuất sản phẩm ở nước ngồi có
lợi hơn xuất khẩu hay cho thuê, thì cũng chưa chắc doanh nghiệp đã xây dựng một chi
nhánh ở nước ngoài. Một trong những cách lựa chọn khác là cấp license cho một
doanh nghiệp nước ngoài để họ sản xuất sản phẩm hoặc sử dụng qui trình sản xuất.
Tuy nhiên, do khó có thể tiến hành trao đởi các tài sản vơ hình này trên thị trường, sản
phẩm hoặc quy trình sản xuất sẽ được khai thác trong nội bộ doanh nghiệp hơn là đem
trao đởi trên thị trường. Đây chính là một lợi thế nội bộ hoá.
18
Cách lý giải của mơ hình OLI rất dễ hiểu. Tại bất cứ thời điểm nào, các doanh
nghiệp của một nước, so với các doanh nghiệp của các nước khác, càng nắm giữ nhiều
các lợi thế về quyền sở hữu, thì họ càng có động cơ mạnh để sử dụng chúng trong nội
bộ hơn là phở biến ra bên ngồi, họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sử dụng chúng ở
một nước khác thì họ càng có động cơ để phát triển sản xuất ở nước ngồi. Những thay
đởi về vị trí của dịng FDI vào hoặc ra của một nước có thể được giải thích bởi
nhữngthay đởi về lợi thế địa điểm so với các nước khác, và những thay đổi trong
chứng mực mà doanh nghiệp thấy các tài sản này nếu được sử dụng trong nội bộ sẽ tốt
hơn so với khi đem bán trên thị trường (Dunning 1993). Cho đến nay mơ hình OLI của
Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ và nhiều tham vọng nhất về FDI.
3.4.2. Đánh giá chung về lý thuyết
Ưu điểm
Lý thuyết của Dunning được coi là một sự phân biệt có hệ thống giữa các quốc
gia (Home và Host), các yếu tố quyết định của các doanh nghiệp về đặc điểm của OLI:
Các đặc điểm của quốc gia sẽ ảnh hưởng đến xu hướng MNCs tham gia đầu tư, phạm
vi và loại sản phẩm họ dự định sản xuất và chiến lược quản lý cũng như tổ chức cơ bản
của các cơng ty này.
Mơ hình này phản ảnh tương đối đầy đủ những tiêu chí mà các MNCs ngày nay
đang quan tâm trong việc cân nhắc tiến hành đầu tư quốc tế, giải thích rõ các ảnh
hưởng của mỗi biến trong mơ hình đối với việc đầu tư.
Nhược điểm
Lý thuyết này có q nhiều giả định, thơng thường, một công ty đầu tư sẽ
không xét hết cả 3 đặc điểm về OLI khi quyết định đầu tư ở một thị trường nước
ngồi.
Mơ hình này cũng khơng cung cấp đầy đủ về mối quan hệ hay sự tác động lẫn
nhau giữa các biến và chưa chỉ ra rõ thứ tự ưu tiên giữa các biến trong quyết định đầu
tư qc tế.
3.5. Một số lý thuyết khác
Giả thuyết nội hố:
Giả thuyết này giải thích sự tồn tại của FDI như là kết quả của các công ty thay
thế các giao dịch thị trường bằng các giao dịch trong nội bộ cơng ty để tránh sự khơng
hồn hảo của các thị trường.
19
Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP):
Theo lý thuyết này, quá trình phát triển của các nước được chia ra thành 5 giai
đoạn:
+ Giai đoạn 1: lợi thế L của một nước ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng kể
do hạn chế của thị trường trong nước: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục
yếu kém, lao động khơng có kỹ năng… và hiếm khi thấy luồng ra FDI.
+ Giai đoạn 2: luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế L đã hấp dẫn các nhà
đầu tư: sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện … FDI trong
bước này chủ yếu là đầu tư vào sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai
thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế. Luồng
ra của FDI trong giai đoạn này không đáng kể.
+ Giai đoạn 3: luồng vào của FDI bắt đầu giảm và luồng ra lại bắt đầu tăng.
Khả năng kỹ thuật của nước sở tại đã tiến tới sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hoá.
Mặt khác lợi thế về lao động giảm dần, nên phải chuyển đầu tư sang những nước có
lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài
sản chiến lược để bảo vệ lợi thế O. Trong giai đoạn này, luồng vào của FDI tập trung
vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả.
+ Giai đoạn 4: lợi thế O của các công ty trong nước tăng lên. Những công nghệ
sử dụng nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn. Mặt
khác chi phí vốn trở nên rẻ hơn chi phí lao động. Kết quả là, lợi thế L của đất nước sẽ
chuyển sang các tài sản. FDI từ các nước đang phát triển ở bước 4 sẽ vào nước này để
tìm kiếm những tài sản trên hoặc từ các nước kém phát triển hơn nhằm tìm kiếm thị
trường và đặt quan hệ thương mại. Trong bước này các công ty trong nước vẫn thích
thực hiện FDI ra nước ngồi hơn là xuất khẩu sản phẩm, bởi vì họ có thể khai thác lợi
thế I của mình. Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI vẫn tăng, nhưng luồng ra sẽ
nhanh hơn.
+ Giai đoạn 5: luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự
nhau. Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị
trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản
xuất có hiệu quả. Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự.
Mơ hình OLI giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, trong khi lý thuyết
IDP lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này
20
trong từng bước phát triển. Do vậy, lý thuyết này cùng với mơ hình OLI là thích hợp
nhất để giải thích hiện tượng FDI trên tồn thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam.
21
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC LÝ THUYẾT ĐẦU
TƯ QUỐC TẾ
Vĩ mơ: dựa vào mơ hình cở điển 2x2 để giải thích hiện tượng di chuyển vốn đầu
tư quốc tế là do có sư chênh lệch về hiệu quả của các yếu tố đầu tư
Vi mô: nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế là do các yếu tố thúc đẩy TNCs
đầu tư ra nước ngoài
4.1. Đánh giá các lý thuyết vĩ mô về đầu tư quốc tế
Thứ nhất, các lý thuyết này được xây dựng trên giả định trừu tượng, phân tích ở
trạng thái tĩnh để so sánh hiệu quả của 1 yếu tố là vốn hay 2 yếu tố (vốn, lao động)
trong khi còn nhiều yếu tố khác. Do vậy nó chỉ giải thích điều kiện cần để hình thành
đầu tư quốc tế.
Ví dụ: các yếu tố khác như thuế quan, hạn ngạch ngăn cản thương mại hàng hóa
giữa các quốc gia làm cho việc di chuyển vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh tại nước
khác đơi khi lại có lợi hơn là xuất khẩu hàng hóa; hoặc hiện tượng di chuyển vốn
ngược từ nơi có năng suất cận biên cao sang nơi có năng suất cận biên thấp hơn; hoặc
việc mua bán cổ phần trực tiếp giữa các công ty hiện nay.
Thứ hai, các lý thuyết chưa chỉ ra được sự khác nhau giữa FDI và FII một cách
rõ ràng. Nó chủ yếu chỉ giải thích ngun nhân của FDI.
Thực tế, FDI khơng chỉ thuần túy và sự di chuyển vốn giữa các nước mà quan
trọng hơn còn được đặc trưng bởi các hoạt động chuyển giao công nghệ, kiến thức
quản lývà mở rộng thị trường được thực hiện trực tiếp thông qua các chủ đầu tư quốc
tế (TNCs).
Thứ ba, các lý thuyết vĩ mơ có tính khái qt cao nên được xem là lý thuyết cơ
bản của đầu tư quốc tế.
4.2. Đánh giá các lý thuyết vi mô về đầu tư quốc tế
Thứ nhất, các lý thuyết vi mơ giải thích cụ thể hơn và coi nó như là kết quả tự
nhiên của quá trình khai thác các lợi thế độc quyền ở nước ngồi nhằm tối đa hóa lợi
nhuận trên phạm vi tồn cầu. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng trên góc độ chiến lược phát
22
triển của cơng ty. Ngày nay, ngồi yếu tố đó cịn phải tính đến các yếu tố khác như
chính sách của các quốc gia, sự phát triển của khoa học và công nghệ, …
Thứ hai, chúng gắn được đặc trưng của FDI với thị trường khơng hồn hảo.
Giải thích rõ hơn về nguyên nhân hình thành FDI và tác động của nó đối với cơng
nghiệp hóa ở các nước đang phát triển.
Thứ ba, các lý thuyết này giải thích được hiện tượng đầu tư quốc tế từ những
nguyên nhân có tính “khả năng”, tức điều kiện cần để di chuyển vốn, cịn tính “hiện
thực” hay điều kiện đủ như mơi trường đầu tư của nước chủ nhà thì chưa phân tích.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thị Tuyết Mai, Nguyễn Như Bình, 2016, Giáo trình Hội nhập Kinh tế Quốc tế,
NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
2. Đỗ Đức Bình, Ngơ Thị Tuyết Mai, 2012, Giáo trình Kinh tế Quốc tế, NXB Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
3. Tạ Lợi, Nguyễn Thị Hường, 2016, Giáo trình Kinh doanh Quốc tế, NXB Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
4. Waka, 2010, Giới thiệu tổng quan về tác giả Robert Z.Aliber, />5. Foreign Direct Investment and The Multinational Corporation,
/>6. Columbia University Libraries, 2013, The Classical Origins of Akamatsu’s “FlyingGeese” Theory: A Note on a Missing Link to David Hume,
/>7. Vintila Denisia, 2010, Foreign Direct Investment Theories: An Overview of the
Main FDI Theories, />
24