BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ CUỐI KHÓA
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
A. MỞ ĐẦU
1. Vai trò, tầm quan trọng của việc đi nghiên cứu thực tế
- Đi nghiên cứu thực tế cuối khóa là một phần học trong chương trình đào tạo
Trung cấp LLCT – HC theo Hướng dẫn 134/HD-HVCTQG ngày 21/7/2016 của
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về thực hiện chương trình trung cấp lý
luận chính trị- hành chính được Trường Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh tổ chức vào
cuối khóa học, có đánh giá bằng bài thu hoạch. Phần học này giúp học viên rèn
luyện khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn để đánh giá, phân tích một vấn đề cụ
thể ở cơ sở, góp phần thực hiện trong thực tế nguyên lý “ học đi đôi với hành”, “lý
luận gắn với thực tiễn”.
- Nội dung đi nghiên cứu thực tế của nhà trường đề ra luôn phù hợp và thiết
thực, sát với mục tiêu, chương trình đào tạo. Giảng viên và học viên phải tập trung
nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu của địa phương, đơn vị để phục vụ cho việc
nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, học hỏi kinh nghiệm về thực tiễn tổ chức
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại
địa phương, gắn với nhiệm vụ công tác.
- Kết thúc đợt đi thực tế, học viên phải viết bài thu hoạch về một chủ đề mà
học viên đã lựa chọn, đăng ký. Học viên không đi nghiên cứu thực tế cuối khóa
hoặc bài thu hoạch không đạt yêu cầu thì không đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp hoặc
viết khóa luận tốt nghiệp. Mỗi khóa học, học viên được đi nghiên cứu thực tế 01
lần, thời gian 40 tiết (05 ngày).
2. Mục tiêu cá nhân đề ra khi đi nghiên cứu thực tế
Thông qua các kiến thức mà tôi đã được học về CN Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước;
một số nội dung của khoa học hành chính và kỹ năng lãnh đạo quản lý mà các
giảng viên Trường Chính trị Trần Phú đã giảng dạy. Mục tiêu đi nghiên cứu thực tế
của bản thân tôi là để rèn luyện kỹ năng biết cách vận dụng CN Mác – Lênin, chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn công
tác của mình; một số kỹ năng về lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ về công tác Đảng,
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân nhằm nâng cao năng lực tổ
chức thực tiễn, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Từ đó
cũng cố niềm tin của bản thân vào CN Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự
nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH;
nâng cao năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở.
Bản thân tôi luôn xem việc đi nghiên cứu thực tế là một trong những nhiệm vụ
học tập quan trọng vì thông qua nghiên cứu thực tế sẽ giúp tôi gắn lý luận với thực
tiễn, nâng cao trình độ, có điều kiện tìm hiểu, nắm bắt tình hình các địa phương, bổ
sung kinh nghiệm thực tiễn.
Được sự quan tâm sâu sắc của Ban Giám hiệu Trường Chính trị Trần Phú Hà
Tĩnh, các học viên lớp trung cấp lý luận chính trị – hành chính, khóa 135 mở tại
huyện Hương Sơn rất vinh dự được về huyện Sa Pa – Lào Cai để nghiên cứu tìm
hiểu thực tế tại địa phương.
Thông qua các buổi làm việc, nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập những thông tin,
số liệu, thăm quan tìm hiểu thực tế, giao lưu học hỏi kinh nghiệm giữa các học viên
với các ban ngành, các đơn vị của huyện Sa Pa, đặc biệt là xã Tả Phìn. Các học
viên đã nắm bắt tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, công tác xây dựng đảng của
địa phương, hiểu được tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sa Pa nói
chung và ở xã Tả Phìn nói riêng.
Từ đó giúp cho các học viên trau dồi kiến thức lý luận đã học liên hệ với thực
tiễn để nâng cao trình độ năng lực quản lý, mở mang tầm nhìn và hiểu biết về mọi
mặt đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của Nhân dân.
Trên cơ sở lý luận thực tiễn mô hình của địa phương, các học viên tự nâng cao
vai trò, ý thức trách nhiệm của mình đề xuất bổ sung phát triển lý luận và rút ra bài
học kinh nghiệm cho đơn vị mình công tác, đồng thời nâng cao chất lượng học tập.
Là một nhân viên y tế đang công tác tại một Bệnh viện tuyến huyện miền núi
Hà Tĩnh và là người con của tỉnh Hà Tĩnh, trong chuyến đi nghiên cứu thực tế này
tôi thực sự tâm đắc với kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Vì đây là mô
hình có thể áp dụng hiệu quả ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có nhiều
xã miền núi thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Bằng vốn kiến thức về lý luận đã được học tập tại
trường, cùng với kiến thức tiếp thu được trong đợt nghiên cứu lần này tôi xin báo
cáo kết quả nghiên cứu thực tế tại địa phương với các nội dung như sau:
B. NỘI DUNG.
I. NHỮNG KIẾN THỨC THU NHẬN ĐƯỢC QUA ĐỢT NGHIÊN CỨU
THỰC TẾ
1. Đặc điểm tình hình địa phương:
1.1. Đối với huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Tên gọi: Tên gọi của huyện xuất phát từ tên thị trấn huyện lỵ Sa Pa. Thị trấn
này ra đời vào cỡ 1905, khi người Pháp phát hiện đây là địa điểm lý tưởng để xây
dựng khu nghỉ mát và đã thực hiện.
- Vị trí địa lý: Huyện nằm ở phía tây tỉnh Lào Cai, phía bắc là huyện Bát Xát,
phía tây là huyện Phong Thổ, Than Uyên (Lai Châu), phía nam là huyện Văn Bàn,
phía đông là huyện Bảo Thắng và thành phố Lào Cai.
- Địa hình, khí hậu, dân cư: Huyện Sa Pa nằm ở độ cao trung bình khoảng
1.500 m – 1.800 m. Khí hậu trên toàn huyện Sa Pa mang sắc thái của xứ ôn đới, với
nhiệt độ trung bình 15-18 °C. Diện tích tự nhiên của huyện Sa Pa là 678,6 km². Dân
số huyện Sa Pa hiện khoảng 38.200 người, bao gồm các dân tộc: Mông, Dao, Tày,
Giáy, Xá Phó, Kinh, Hoa. Tại ngã ba ranh giới phía tây của huyện Sa Pa với các
huyện Than Uyên và Phong Thổ, trên địa bàn xã San Sả Hồ là ngọn núi Phan Xi
Păng, nóc nhà của Đông Dương, cao 3143 m.
- Lịch sử: Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định mở một cuộc
điều tra về người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao. Những đoàn điều tra đầu tiên
đến Lào Cai vào năm 1898. Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây
dựng bản đồ, đoàn thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh
quan mặt bằng Lồ Suối Tủng và làng Sa Pả. Sự kiện này đánh dấu việc ra đời của
thị trấn Sa Pa. Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về
địa lý, khí hậu, thảm thực vật... Sa Pa bắt đầu được biết tới với không khí mát mẻ,
trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm
1917, một văn phòng du lịch được thành lập ở Sa Pa và một năm sau, người Pháp
bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đường sắt Hà Nội Lào Cai hoàn thành, Sa Pa được xem như thủ đô mùa hè của Bắc Kỳ. Tổng cộng,
người Pháp đã xây dựng ở Sa Pa gần 300 biệt thự.
Sa Pa bị tàn phá nhiều theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến năm 1947 và
trong chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979.[10] Hàng ngàn ha rừng thông bao
phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây cũng bị phá huỷ. Vào
thập niên 1990, Sa Pa được xây dựng, tái thiết trở lại. Nhiều khách sạn, biệt thự
mới được xây dựng. Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới 300 vào năm 1995.
Năm 2003, thị trấn Sa Pa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500 phòng. Lượng
khách du lịch tới thị trấn tăng lên từ 2.000 khách vào năm 1991 đến 60.000 khách
vào 2002.
- Hành chính: Huyện Sa Pa có huyện lị là thị trấn Sa Pa, và 17 xã: Bản Hồ,
Bản Khoang, Bản Phùng, Hầu Thào, Lao Chải, Nậm Cang, Nậm Sài, Sa Pả, San Sả
Hồ, Sử Pán, Suối Thầu, Tả Giàng Phình, Tả Phìn, Tả Van, Thanh Kim, Thanh Phú,
Trung Chải. Dự kiến đến năm 2020, toàn huyện Sa Pa sẽ được nâng lên thị xã Sa
Pa, gồm 6 phường: Sa Pa, Hàm Rồng, Cầu Mây, Phan Si Păng, Sa Pả, Ô Quý Hồ và
10 xã: Thanh Bình, Mường Hoa, Hoàng Liên, Liên Minh, Mường Bo, Ngũ Chỉ
Sơn, Trung Chải, Tả Van, Bản Hồ, Tả Phìn.
1.2. Đối với xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Điều kiện tự nhiên:
+ Tả Phìn là xã vùng III của huyện Sa Pa, cách chung tâm huyện 12km về
phía Bắc trong đó phía Đông giáp xã Bản Khoang, phía Nam giáp xã Sa Pả, phía
Tây giáp xã Trung Chải, phía Bắc giáp xã Phìn Ngan - huyện Bát Xát với diện tích
tự nhiên 2.707,95 ha. Địa hình đồi núi, độ dốc cao trung bình từ 10 - 45%, độ cao
so với mực nước biển từ 1.458m - 1.414m đã hình thành các con suối và các khe tụ
thuỷ lớn, có các khe nước và các hang lớn.
…^ ; B
J {9
\
( K"
D
† )
B
J lO3
X
\) 3 `
l gc
… 0( J
g
C
C P
J
^
>
l_
N9
J9
@
D T3 V U 9
D l 3 M ?\
+66
l " :
3
8 l_ !O E
: = OI V
V
): ;
"
T )T M
J
P I
8
X
\
K
X
:
:
9(
3
X M ?\ N
p
` "I
D l 3
C V
"
>
): ;
g
: _ O KO
V
M
>
8
m
m
3
(
r
…!
l_ 67 X 9( 564
)T I ,7-c j I
)T
€ : ,7I-„I )T
& X ,54
€ : c,„I )T
€ : 6I+-„I )T
! 3 6+
€ : 6I+-„I )T
€ : +6I,4„M
/
4c7
/J3 6+
54
… O 83I & [/ 9 vk[/ l_ X =
T
J S
l_
b^! i&dI
F
I "
X
: I X
:
)Q
X
:
I )< 9QI
9:
X
X I T
B 9 O
: D V
9B " I
8
T )T M / :
X
X
3
H
(I
;
< C m 9m I B
l_
H < M oO l " X
: I )< 9Q P
U
JM !
< K l_
m
P 9g =
_ C
J ) J 9@ J S VO l " X
: I P
X
L
T
B
M
C
_ !O E
l_ > 9
"
<
D
C
(
<
J <
b P 46+w
O
-cM666 B
de
) <
h
C =
T 9
J S I J
X
I J
a
) <
C
I J X
3I &!i
VO l "
Q9
(
: VO
j ) <
3
@ I ` K:
VO
j
Z
D /
] _
F
C
(
J ) <
9(
o E M
…&
J S
<
=
K I
…!
$
^! i&I
I > K M
= J
X
I
83 C I
D
I
3
C
J
S ^! i&I " 83 O I ; = 3@ l_ X lJ
lT3 )
X
X
( b[!?d $
(
=
J G 9 ^! i&I
D V
S T )T
l_M S H
S
$
= OI O 83 l_ _ K
1 3
<
B 9
D l 3
:
k
q
bk$ d $
Q
b?!12d lT3 )
[!? l_ ) >
; k;
O 83 l_ ! U
T X
: 9Q
J
9 k$ M
- Thuận lợi:
…
C V =
T I q
8 q I 8
3:
@
; VJ
a C J S VO l " X
: I
" T3 > I
3
; 9
@
:
B C
S
: X
:
)Q
X
:
X
: = OM
P 9g =
_
P
XI
3S )<
J H
I J T
F j3 J S J
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm, thủy lợi … cơ bản đã
được đầu tư đồng bộ, đáp ứng yêu cầu sản xuất và phát triển KT-XH. Nông nghiệp,
nông dân và nông thôn luôn được quan tâm đầu tư, phát triển, sản xuất nông nghiệp
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng
NTM, sản xuất hàng hóa tập trung, hiệu quả cao.
- Khó khăn:
+ Địa hình đồi núi dốc, các hộ dân sống không tập trung nên việc đầu tư các
công trình, dự án sản xuất có quy mô lớn còn gặp nhiều khó khăn.
+ Với hơn 90% người dân là dân tộc thiểu số đã quen với tập quán canh tác,
sản xuất thủ công nên việc tiếp thu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất còn gặp nhiều khó khăn.
+ Điều kiện thời tiết khắc nghiệt mùa đông kéo dài, thường xuyên xuất hiện
hiện tượng rét đậm, rét hại ảnh hưởng đến số lượng đàn gia súc trên địa bàn xã.
2. Tìm hiểu về kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tả Phìn:
2.1. Kết quả chỉ đạo thực hiện xây dựng NTM:
- Công tác chỉ đạo, điều hành
+ Đảng ủy xã Tả Phìn đã ban hành Nghị quyết số 47-NQ/ĐU ngày 08/5/2018
của Ban chấp hành Đảng ủy xã Tả Phìn về việc triển khai thực hiện nhiệm vụ hoàn
thành xây dựng NTM năm 2018.
+ Hội đồng nhân dân xã Tả Phìn ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐND
ngày 29/12/2017 về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh – xã hội, đầu tư
phát triển năm 2017, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển năm
2018 xã Tả Phìn.
+ Ủy ban nhân dân xã Tả Phìn ban hành Kế hoạch số 33/KH-UBND ngày
30/3/2018 về triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo
bền vững năm 2018.
Chỉ đạo thành lập, kiện toàn, phân công nhiệm vụ và ban hành Quy chế hoạt
động Ban chỉ đạo, Ban quản lý xã và Ban Phát triển, Ban Giám sát các thôn.
Trong quá trình chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ, UBND xã, BCĐ NTM xã đã tập
trung chỉ đạo các cán bộ, công chức chuyên môn căn cứ chức năng, nhiệm vụ của
mình, căn cứ chương trình, kế hoạch của xã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện các nội dung của Chương trình xây dựng NTM của cá nhân.
- Công tác tuyên truyền
+ Tuyên truyền, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm nghiệp cũng như chăn
nuôi; phát triển, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng các sản phẩm tiểu thủ công
nghiệp, sản phẩm dịch vụ thương mại gắn với việc xây dựng các dự án sản xuất
nông nghiệp, chăn nuôi để hỗ trợ nhân dân đảm bảo phát triển kinh tế bền vững,
nâng cao thu nhập cho người dân, khuyến khích người dân phát triển dịch vụ du
lịch hộ gia đình, dịch vụ du lịch nhóm theo hình thức chuỗi dịch vụ đưa thu nhập
bình quân đầu người của xã năm 2017 là 23,2 triệu đồng/người/năm đến năm 2018
lên 31,93 triệu đồng/người/năm.
+ MTTQ và các đoàn thể xã phối hợpvới trưởng thôn, bí thư chi bộ và các ban
ngành đoàn thể thôn tuyên truyền, vận động nhân dân hiến đất, đóng góp ngày công thực
hiện các công trình giao thông nông thôn gồm công trình mở mới, cấp phối, bê tông xi
măng.
+ Tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân giữ gìn và phát huy văn hóa
bản sắc dân tộc, 100% các hộ gia đình chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt quy chế dân chủ tại cơ sở.
+ BCĐ xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững xã đã tổ chức tuyên
truyền tại các thôn bản với nhiều hình thức: tuyền truyền qua các buổi họp thôn,
qua các cụm loa truyền thanh ở thôn, tuyên truyền lồng ghép với các phong trào,
mô hình do Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể phát động như: mô hình3 sạch 01 tốt,
vệ sinh đường làng ngõ xóm, 5 không, 3 sạch…
+ Hàng năm Ban công an xã tham mưu tổ chức “Ngày toàn dân bảo vệ an ninh
tổ quốc” thường xuyên tuyên truyền, kêu gọi quần chúng nhân dân nâng cao trách
nhiệm tố giác tội phạm, không nghe theo các đối tượng xấu có ý đồ chống phá cách
mạng, giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn xã.
Xã xác định tuyên truyền là một trong những giải pháp quan trọng trong công
tác xây dựng NTM. Thường xuyên cấp phát các Tài liệu để tuyên truyền, hướng
dẫn, sổ tay và tham khảo thực hiện. Ngoài ra, UBND, MTTQ, BCĐ xã và các
ngành đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn và tuyên truyền, vận
động cán bộ, hội viên và nhân dân tích cực tham gia xây dựng NTM: làm đường bê
tông, góp công sức, vật chất, hiến đất xây dựng NTM. Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên
xã triển khai Kế hoạch và hướng dẫn các hộ dân tham gia mô hình “phân loại, xử lý
rác hữu cơ tại gia đình”; phát động cán bộ, hội viên phụ nữ tham gia hưởng ứng
tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm.
Kết quả: Nhận thức của nhân dân về xây dựng NTM được nâng lên, nhân dân
là người được hưởng lợi thành quả xây dựng NTM. Từ đó nhân dân trở thành chủ
thể xây dựng NTM, mọi người dân cùng tích cực tham gia hưởng ứng. Thông qua
tuyên truyền, đông đảo nhân dân tích cực tham gia, hưởng ứng phong trào “ Toàn
dân chung tay xây dựng NTM”; Phụ nữ thi đua thực hiện phong trào “5 không, 3
sạch”. Nhiều công trình được nhân dân đóng góp hàng ngàn ngày công lao động,
hiến hàng chục ha đất.
- Công tác chỉ đạo phát triển sản xuất, ngành nghề, nâng cao thu nhập
cho người dân
+ Công tác phát triển sản xuất nông nghiệp.
Phương châm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành theo chương trình đề án tái cơ cấu
nền nông nghiệp của Chính Phủ, của tỉnh và chương trình đề án phát triển nông
nghiệp toàn diện gắn với ứng dụng khoa học công nghệ cao, của huyện Sa Pa.
Đánh giá thực trạng trong sản xuất nông nghiệp địa phương, xác định điểm
nghẽn lớn nhất đó là tư liệu sản xuất đất đai manh mún, nhỏ lẻ; trình độ sản xuất
còn thấp chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chủ yếu là bằng sức người. Để
tháo gỡ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, địa phương đã hướng dẫn,
khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân trong việc ứng dụng hoa học, kỹ thuật
vào sản xuất thông qua các lớp tập huấn, các dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp…,
xây dựng kế hoạch và triển khai chủ trương tập trung đất đai từng bước hình thành
cánh đồng lớn, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh. Đồng thời có
giải pháp thúc đẩy hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp phát triển làm bà đỡ cho hộ sản
xuất nông nghiệp, tạo mối liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tạo chuỗi giá
trị. Kết quả đạt được đó là:
Hết năm 2018, địa phương đã thực hiện tập trung đất đai 75ha chủ yếu trồng
rau, hoa chuyên canh ứng dụng công nghệ cao.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi: tập chung vào sản xuất cây hàng hóa
có giá trị kinh tế cao: rau sạch, hoa ly, hoa hồng, hoa địa lan…
Đã cho hiệu quả cao trên đơn vị sản xuất, vụ mùa năm 2018 cho thu nhập trên
toàn xã đạt 83 tỷ đồng.
Nhìn chung, các mô hình sản xuất được lựa chọn đã đáp ứng được yêu cầu
thực tế, phù hợp với nguyện vọng của người dân và đúng với nội dung của Chương
trình xây dựng NTM, lấy phát triển sản xuất là gốc để nâng cao giá trị sản xuất và
thế mạnh địa phương, nhờ đó đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập,
cải thiện đời sống người dân.
+ Công tác phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông
thôn.
Cấp uỷ Đảng và chính quyền xã trong những năm qua đã không ngừng tạo
điều kiện thuận lợi, cơ chế chính sách hỗ trợ, nhằm phát triển đa dạng hoá các
ngành nghề, hoạt động dịch vụ thương mại, hàng hoá phong phú đáp ứng nhu cầu
của nhân dân.
Là một địa phương thuần nông đến nay xã có 01 công ty, 04 hợp tác xã hoạt
động đạt kết quả caotạo việc làm thường xuyên cho hơn 500 lao động tại địa
phương.
Dịch vụ thương mại, ngành nghề từng bước phát triển, góp phần quan trọng
vào nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương.Đồng thời phát động các Phong
trào của các đoàn thể như: Cựu chiến binh, nông dân, phụ nữ về sản xuất kinh
doanh giỏi được phát động hàng năm, đem lại kết quả cao, có nhiều hộ gia đình
đăng ký và đạt gia đình sản xuất, kinh doanh giỏi.
Các nghề tiểu thủ công nghiệp được bảo tồn và phát triển như nghề làm trống,
nghề trạm khắc bạc.
+ Kết quả nâng cao thu nhập, giảm nghèo cho người dân.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 31,93 triệu đồng/người/năm. Cơ
cấu trong các ngành đang chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn chú trọng
vào ngành nông nghiệp.
Từ kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất,
sản xuất với quy mô tập trung đời sống nhân dân đã được tứng bước nâng cao rõ
nét, tăng hộ khá giàu, giảm hộ nghèo. Năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo là18,7% đến năm
2018 giảm còn 7,98% (tỷ lệ giảm nghèo đạt 10,72%) bộ mặt nông thôn ngày một
thêm khang trang, đổi mới toàn diện.
- Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Tổng kinh phí đã thực hiện: 121.345 triệu đồng, trong đó:
+ Ngân sách Trung ương:12.164 triệu đồng, chiếm 10,02%;
+ Ngân sách tỉnh:20.971 triệu đồng, chiếm 17,3%;
+ Ngân sách huyện:22.602 triệu đồng, chiếm 18,6%;
+ Vốn tín dụng từ các ngân hàng: 30.900 triệu đồng, chiếm 25,4%;
+ Cộng đồng dân cư, doanh nghiệp đóng góp: 27.671 triệu đồng, chiếm
28,68%.
2.2. Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM:
Tổng số tiêu chí xã tổ chức tự đánh giá đạt chuẩn nông thôn mới theo quy
định là 19/19 tiêu chí cụ thể như sau:
- Quy hoạch: Có quy hoạch chung xây dựng xã được phê duyệt và công bố
công khai đúng thời hạn; ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã
và tổ chức thực hiện theo quy hoạch.
- Giao thông: Đường xã và đường từ trung tâm xã đến đường huyện được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm có: 6,5/6,5
km đạt 100%; Đường trục thôn, bản, ấp và đường liên thôn, bản, ấp ít nhất được
cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm có: 13,21/20,2 km đạt 65,4%;
Đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa có: 8,67/16,57 km đạt 53,3%;
Đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm có:
3,3/6 km đạt 55%.
- Thủy lợi: Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước
chủ động đạt từ 80% trở lên có: 208/238 ha đạt 87,4%; Đảm bảo đủ điều kiện đáp
ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định về phòng chống thiên tai tại chỗ.
- Điện: Hệ thống điện đạt chuẩn; Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn
từ các nguồn có: 678/702 hộ đạt 96,5%
- Trường học: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung
học cơ sở có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia có: 3/3 trường
đạt chuẩn đạt 100%
- Cơ sở vật chất văn hóa: Xã có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân
thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã; Xã có điểm vui chơi, giải
trí và thể thao cho trẻ em theo quy định; Tỷ lệ thôn, bản, ấp có nhà văn hóa hoặc
nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng: 6/6 thôn đạt 100%
- Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: Xã có chợ nông thôn hoặc nơi mua
bán, trao đổi hàng hóa
- Thông tin và Truyền thông: Có điểm phục vụ bưu chính; Xã có dịch vụ
viễn thông, internet có: 6/6 thôn đạt 100%; Xã có đài truyền thanh và hệ thống loa
đến các thôn; Xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều
hành.
- Nhà ở dân cư: Không có nhà tạm, dột nát; Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn
của Bộ xây dựng: 625/702 nhà đạt 89%.
- Thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2018
là 31,93 triệu đồng.
- Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020: năm 2018 có
56/702 hộ chiếm tỷ lệ 7,9%.
- Lao động có việc làm: Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao
động có khả năng tham gia lao động có 2129/2194 lao động đạt 97%.
- Tổ chức sản xuất: Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật
Hợp tác xã năm 2012; Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản
chủ lực đảm bảo bền vững.
- Giáo dục và Đào tạo: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mù
chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Tỷ
lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ
túc, trung cấp nghề) có 41/54 học sinh đạt 75,93%; Tỷ lệ lao động có việc làm được
đào tạo là 825/2129 lao động đạt 38,75%.
- Y tế: Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 97%; Xã đạt tiêu chí quốc
gia về y tế; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo
tuổi) là 32,9%.
- Văn hóa: Tỷ lệ thôn, bản, ấp đạt tiêu chuẩn văn hoá theo quy định là 5/6
thôn đạt thôn văn hóa 5 năm liên tục đạt 83,3%.
- Môi trường và an toàn thực phẩm: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ
sinh và nước sạch theo quy định là 647/702 hộ đạt 92,1%; Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường
là 100%; Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn; Mai táng phù
hợp với quy định và theo quy hoạch; Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu
dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định;
Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3
sạch có 566/702 hộ đạt 80,6%; Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm
bảo vệ sinh môi trường có 497/575 hộ chăn nuôi đạt 86,4%; Tỷ lệ hộ gia đình và cơ
sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực
phẩm là 100%.
- Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật: Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn
có 18/22 đạt chuẩn đạt 81,8%; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở
theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh";
Tổ chức chính trị - xã hội của xã đạt loại khá trở lên là 100%; Xã đạt chuẩn tiếp cận
pháp luật theo quy định; Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình;
bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và
đời sống xã hội.
- Quốc phòng và An ninh: Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng
khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng; Xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật
tự xã hội và đảm bảo bình yên: không có khiếu kiện đông người kéo dài; không để
xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút)
được kiềm chế, giảm liên tục so với các năm trước.
3. Nhận xét, đánh giá:
3.1. Những mặt làm được
Sau thời gian hơn 5 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM, xã
Tả Phìn với nhiều giải pháp đồng bộ- sáng tạo- linh hoạt, phát huy sức mạnh của
toàn Đảng, toàn dân, bộ mặt nông nghiệp - nông thôn và nông dân đã thực sự thay
đổi toàn diện. Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển nhanh, bền vững;
nhận thức của người dân được nâng lên tầm cao mới; người người, nhà nhà có ý
thức hơn trong công tác bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Xây dựng NTM là chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng và nhà nước,
hợp với lòng dân. Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của của Huyện uỷ, HĐND,
UBND huyện Sa Pa, đồng thời với các chủ trương, chính sách, cơ chế sáng tạolinh hoạt- đổi mới- tích cực - đồng bộ và quyết liệt của Tỉnh. Sự quyết tâm của cấp
ủy Đảng, chính quyền xã trong công tác lãnh, chỉ đạo và sự vào cuộc của tổ chức
chính trị, xã hội,đặc biệt là sự đồng thuận nhất trí cao của các tầng lớp nhân dân
trên địa bàn toàn xã, xã Tả Phìn đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm nền
tảng hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM năm 2018.
- Phong trào thi đua “ Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ
tướng Chính phủ phát động đã có tác động đến sự quan tâm, hỗ trợ nguồn lực cao
và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn. Hệ thống thông
tin tuyên truyền về NTM hoạt động phong phú, liên tục đã động viên rất tích cực,
kịp thời đến phong trào xây dựng NTM.
- Nhận thức của cán bộ Đảng viên và người dân về xây dựng NTM đã có
chuyển biến rõ nét. Xây dựng NTM đã trở thành phong trào rộng khắp trên toàn xã,
dân chủ cơ sở được nâng cao hơn, ý thức và trách nhiệm làm chủ của người dân
từng bước được nâng lên tầm cao mới. Qua đó đã phát huy được nhiều cách làm
sáng tạo góp phần huy động được nhiều nguồn lực đóng góp cho xây dựng NTM.
- Bộ mặt địa phương được đổi mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu
được nâng cấp, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, thu nhập và điều
kiện sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Công tác xóa đói giảm nghèo
bền vững, chính sách đền ơn đáp nghĩa được thực hiện tốt, giáo dục đào tạo phát
triển toàn diện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với
xây dựng NTM ngày càng được nhân dân hưởng ứng tích cực, cảnh quan môi
trường được sạch đẹp, trật tự xã hội được đảm bảo, quy chế dân chủ được phát huy,
hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh.
3.2. Tồn tại, hạn chế
Qua hơn 5 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM xã đã đạt được các
mục tiêu đề ra, nhưng trong quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện còn bộc lộ một số
hạn chế, đó là:
- Ban đầu triển khai tổ chức thực hiện còn nhiều lúng túng, nhất là hệ tư
tưởng của một bộ phận nhỏ cán bộ Đảng viên và nhân dân cho rằng việc xây
dựng NTM là nhà nước đầu tư nhân dân không phải đóng góp nên còn suy nghĩ
chông trờ, ỷ lại gây khó khăn cho việc tuyên truyền, vận động nhân dân hiến đất,
đóng góp ngày công để xây dựng NTM.
- Nguồn vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng cơ sở còn hạn chế chưa đáp
ứng tối đa nhu cầu của người dân, trong khi đó huy động sức đóng góp của nhân
dân phải đảm bảo phù hợp với thu nhập và đời sống dân sinh.
- Là địa phương về mặt địa lý không thuận lợi, kinh tế phát triển chưa cao
nên phát huy các nguồn lực khác và sự hỗ trợ của doanh nghiệp rất hạn chế.
4. Một số bài học kinh nghiệm
Một là: Xây dựng NTM là một chương trình lớn của Đảng và Nhà nước, có
tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người dân.
Vì vậy phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động, để mọi người hiểu rõ mục tiêu
của xây dựng NTM là phát triển kinh tế - văn hóa xã hội - quốc phòng an ninh theo
hướng bền vững gắn với bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập và đời sống của
nhân dân, dân làm, dân thụ hưởng, người dân là chủ thể trong xây dựng NTM, từ
đó nhân dân tin tưởng và tích cực, tự giác thực hiện.
Hai là: Cấp uỷ Đảng, chính quyền phải chủ động triển khai thực hiện, xây
dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể cho từng giai đoạn. Các bước tiến hành
được tính toán một cách khoa học, trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của địa
phương, trong đó xác định nhiệm vụ ưu tiên làm khâu đột phá, để tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đồng thời thực hiện tốt việc công khai, dân chủ,
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát”.
Ba là: Thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong cộng
đồng dân cư, từ các doanh nghiệp có tâm huyết với địa phương, “Lấy sức dân để lo
cho dân” tạo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng
thuộc nhóm không có hỗ trợ của Nhà nước.
Xây dựng NTM trên cơ sở kế thừa, phát huy và phát triển bền vững những
tiêu chí đã đạt, bổ sung, nâng cấp chỉnh trang để hoàn thiện những tiêu chí gần đạt
và tập trung chỉ đạo quyết liệt những tiêu chí khó.
Bốn là: Phải xác định rõ xây dựng NTM là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, trong đó: Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lý điều hành
của chính quyền, công tác phối kết hợp của MTTQ, các tổ chức đoàn thể và tinh
thần trách nhiệm của cán bộ đảng viên, phát huy tính chủ động và tích cực của
người dân, đa dạng hóa các nguồn lực, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất
cùng thực hiện xây dựng NTM.
II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐƠN VỊ CÔNG TÁC.
1. Căn cứ đặc điểm tự nhiên - xã hội của xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào
Cai; cùng với những kiến thức có được thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu mô
hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Lào Cai, để ứng dụng một cách có hiệu quả và
mang lại lợi ích kinh tế cao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh nói
chung, huyện Hương Sơn và đơn vị nơi tôi công tác nói riêng, tôi xin đề xuất một
số giải pháp như sau:
Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh năm 2019
Văn phòng điều phối chương trình nông thôn mới tham mưu cho Ban chỉ đạo
xây dựng NTM xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh năm 2019 sát với thực tiễn của địa phương.
Ban hành và giao chỉ tiêu kế hoạch vào Hội nghị tổng kết năm. Chỉ đạo các xã xây
dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể từng nội dung của từng tiêu chí đăng ký trong năm
2019; phân rõ nguồn lực, trách nhiệm của từng cá nhân, công chức xã trong thực
hiện từng nội dung của kế hoạch.
Thứ hai: Tuyên truyền, vận động và thi đua xây dựng NTM
- Tiếp tục tuyên truyền các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn, nhất là quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
và Nghị quyết 08-NQ/TU Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XVI) về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020;
Nghị quyết số 32/2016/NQ-HĐND, ngày 15/12/2016 của HĐND tỉnh về việc ban
hành quy định một số chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn,
xây dựng nông thôn mới và chỉnh trang đô thị Hà Tĩnh năm 2017-2018; Quyết định
số 05/2017/QĐ-UBND, ngày 17/02/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành Bộ tiêu
chí xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017-2020, thực hiện trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh, Chỉ thị 17 - CT/TU ngày 14/02/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cuộc vận động ‘Toàn dân đoàn kết xây dựng
nông thôn mới, đô thị văn minh” và các nghị quyết, quyết định, chính sách mới của
tỉnh về thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Đặc biệt là tuyên truyền rõ 5 nội dung của Cuộc vận động: (1) Đoàn kết tham gia
phát triển kinh tế, tích cực giúp nhau giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống,
khuyến khích làm giàu chính đáng; (2) Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, chăm
lo sự nghiệp giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây
dựng gia đình văn hoá, phát huy truyền thống đền ơn, đáp nghĩa, tương thân, tương
ái; (3) Đoàn kết tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây
dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp; (4) Đoàn kết chấp hành pháp
luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; (5) Đoàn kết phát huy dân chủ, tích cực tham
gia giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong
sạch vững mạnh.
- Tập trung tuyên truyền về 19 tiêu chí nông thôn mới trong bộ tiêu chí quốc
gia và 01 tiêu chí của tỉnh Hà Tĩnh về Khu dân cư kiểu mẫu; từ đó làm cho mọi
người dân, các cấp, các ngành hiểu rõ nội dung của từng tiêu chí, căn cứ để xác
định và công nhận tiêu chí, mốc thời gian thực hiện Chương trình MTQG về xây
dựng nông thôn mới.
- Tuyên truyền về kết quả nổi bật và nguyên nhân thành công; những bài học
kinh nghiệm trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của
tỉnh năm 2016 (nhất là trong điều kiện tỉnh nhà gặp rất nhiều khó khăn, thách thức).
Khẳng định Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới của Hà Tĩnh đã đi vào
chiều sâu, thực chất và có bước tiến mới, nhanh, có nhiều mô hình, điển hình tiêu
biểu với cách làm chủ động, sáng tạo và lan toả nhanh trên diện rộng; tuyên truyền
về các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2017.
- Kết hợp tuyên truyền xây dựng nông thôn mới với tuyên truyền các Chương
trình MTQG và các chủ trương, chính sách đang được triển khai thực hiện tại nông
thôn, các đô thị như: Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; các
chủ trương, chính sách về việc làm; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
phòng, chống tội phạm; dân số và kế hoạch hóa gia đình; bảo vệ môi trường sinh
thái, ứng phó với biến đổi khí hậu; về văn hóa; giáo dục và đào tạo…; đầu tư kiên
cố hóa trường, lớp học; kiên cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông
thôn; phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề; về xây dựng HTX
kiểu mới...
- Chú trong tuyên truyền các mô hình, nhân tố điển hình; các địa phương, đơn
vị làm thực chất, hiệu quả bền vững, nhất là tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác,
tự chủ của người dân về vai trò, trách nhiệm, quyết tâm và hành động tham tích cực
vào xây dựng nông thôn mới; nhân rộng các điển hình tiêu biểu; tổ chức tham quan
học hỏi lẫn nhau, tạo phong trào thi đua rộng khắp giữa các địa phương, thôn
xóm… quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch
đề ra.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền thiết thực, hiệu quả như: Tuyên
truyền miệng thông qua đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội của các
cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể. Gắn tuyên truyền
miệng với vận động trực tiếp các tầng lớp nhân dân về xây dựng nông thôn mới, đô
thị văn minh, lực lượng nòng cốt là đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên thôn,
bản và Ban Tuyên giáo xã, phường, thị trấn; tuyên truyền thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng; tiếp tục duy trì chuyên trang, chuyên mục và có nhiều hình
thức đổi mới tuyên truyền xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trên Báo Hà
Tĩnh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, các tạp chí, bản tin trong tỉnh; Đài phát
thanh - truyền hình cấp huyện; Cổng thông tin điện tử, các ấn phẩm, tài liệu tuyên
truyền, trạm truyền thanh cơ sở của địa phương, đơn vị; tuyên truyền thông qua các
hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao. Phát huy có hiệu quả đội thông tin
lưu động của tỉnh, thông qua các tiểu phẩm sân khấu hóa về chủ đề xây dựng nông
thôn mới, đô thị văn minh; tuyên truyền cổ động trực quan thông qua hệ thống các
cụm panô, áp phích, bảng tin, băng cờ, khẩu hiệu, tranh cổ động để tuyên truyền tại
các khu vực Trung tâm và khu vực đông dân cư; các xã đang triển khai chương
trình xây dựng nông thôn mới, nhất là các xã đăng ký xây dựng NTM kiểu mẫu.
- Đẩy mạnh phong trào thi đua, khen thưởng, biểu dương, khuyến khích động
viên kịp thời các tổ chức, cá nhân là những gương sáng trong việc thực hiện các
phong trào thi đua gắn với xây dựng NTM.
Thứ ba: công tác đào tạo, tập huấn về xây dựng NTM
- Tuyên truyền, triển khai nhu cầu đào tạo và tuyển nhân công tại các công ty
doanh nghiệp trong và ngoài huyện để người dân trên địa bàn các xã nắm rõ nội
dung, đăng ký tham gia đào tạo nghề.
- Tập huấn nâng cao năng lực cho BCĐ, BQL xây dựng NTM các xã, Ban
phát triển xây dựng NTM các thôn, các cán bộ, công chức trực tiếp phụ trách tham
mưu trong lĩnh vực xây dựng NTM nhằm giúp các thành viên này đáp ứng yêu cầu
triển khai nhiệm vụ nông thôn mới tại cơ sở và rà soát đánh giá các tiêu chí theo
quy định.
- Tổ chức tham quan các mô hình nông thôn mới điển hình, tiêu biểu trong và
ngoài huyện cho một số thành viên BCĐ và đại diện các xã, thị.
Thứ tư: Phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp tái cơ cấu nông nghiệp, ưu tiên
phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của địa phương như: cam, chè, gỗ
nguyên liệu rừng trồng, hươu. Xây dựng một số mô hình dược liệu để tổng kết,
đánh giá và nhân rộng; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho
nhân dân gắn với chương trình mỗi xã một sản phẩm OCCOP. Ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất để tạo chất lượng sản phẩm tốt hơn; tiếp tục chỉ đạo xây dựng
các mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây ăn quả, chè
công nghiệp; mở rộng diện tích cam xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Tiếp tục chỉ đạo
các địa phương chuyển đổi đất trồng lúa sang ngô, màu, thức ăn chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản. Điều chỉnh, bổ sung chính sách của huyện, thực hiện có hiệu quả
các chính sách của tỉnh về khuyến khích, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực nông nghiệp, đảm bảo
an toàn dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi, siết chặt quản lý chất lượng giống,
hàng hóa, vật tư nông nghiệp, an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm soát giết mổ. Tăng
cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng thực hiện đúng quy chế quản lý
rừng, xử lý nghiêm các trường hợp cải tạo rừng tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử
dụng rừng trái phép; tập trung chỉ đạo phát triển các loại cây gỗ lớn, cây bản địa.
Chủ động triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; nhiệm vụ phòng
chống thiên tai.
- Kiên trì, quyết liệt trong chỉ đạo phòng trao xây dựng khu dân cư kiểu mẫu,
vườn mẫu, phong trào làm giao thông nông thôn, vệ sinh môi trường từ đầu năm và
duy trì thường xuyên, liên tục tạo thành phong trào sâu rộng trong mỗi cộng đồng
dân cư, mỗi hộ gia đình.
- Các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019 chủ động triển khai từ
đầu năm, các xã đã đạt chuẩn củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng các tiêu chí
nhất là khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu.
- Tiếp tục quan tâm phát triển công nghiệp, trong đó tạo mọi điều kiện để các
doanh nghiệp đến đầu tư các dự án tại Cụm Công nghiệp Khe Cò; trong triển khai
các dự án tại các địa phương.
- Xây dựng chương trình phát triển đô thị thị trấn Phố Châu, chú trọng công
tác xây dựng, quản lý quy hoạch đô thị và cấp phép xây dựng; tăng cường thiết lập
trật tự quản lý, chỉnh trang cảnh quan đô thị. Hoàn thành quy chế quản lý quy
hoạch, kiến trúc đô thị và cấp phép xây dựng thị trấn Tây Sơn.
- Thực hiện các nhiệm vụ giải pháp đầu tư phát triển nhằm huy động tối đa và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là
thủ tục đầu tư, bồi thường, GPMB nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai và giải ngân
vốn đầu tư các dự án. Chủ động triển khai kế hoạch cứng hóa giao thông nông thôn,
rãnh thoát nước, thủy lợi nội đồng năm 2019; mở rộng hệ thống giao thông đạt
chuẩn tiêu chí nông thôn mới.
- Thu hút xã hội hóa đầu tư, phát triển hạ tầng thương mại dịch vụ theo hướng
văn minh, hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư triển khai các dự án thương
mại dịch vụ đã đăng ký đầu tư. Tăng cường công tác quản lý thị trường, theo dõi sát
diễn biến thị trường, kiểm tra việc niêm yết giá, bán theo giá niêm yết, bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá, dịch vụ thiết yếu. Quản lý
chặt chẽ các hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ có điều kiện.
- Triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách ngay từ đầu năm; phấn đấu thu
đạt và vượt dự toán. Tăng cường phối hợp giữa ngành thuế với các cơ quan chức
năng trong công tác quản lý thu. Tiếp tục cải cách quy trình, hồ sơ thủ tục, rút ngắn
thời gian hoàn thành thủ tục thuế; chống thất thu ngân sách, quản lý chặt chẽ các
khoản thu; rà soát, tổ chức khai thác tốt các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ; tiếp
tục tập trung xử lý, thu hồi nợ đọng thuế, giao chỉ tiêu thu nợ cụ thể và đôn đốc
thực hiện từng địa phương, giải quyết dứt điểm các khoản nợ đọng kéo dài; xử lý
nghiêm vi phạm, tiêu cực trong lĩnh vực thuế. Đẩy mạnh các biện pháp chống buôn
lậu, gian lận thương mại, quản lý thị trường; các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp.
- Tiếp tục rà soát đánh giá hiệu quả thực hiện một số chủ trương, cơ chế chính
sách của huyện để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối
ngân sách địa phương.
- Tiếp tục triển khai ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
mới vào sản xuất góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, điều hành trong các cơ
quan quản lý nhà nước; chú trọng hoạt động ứng dụng CNTT cho cấp xã.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên khoáng
sản, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tập
trung xử lý các tồn đọng về đất đai, khoáng sản; tăng cường kiểm tra, giám sát dự
án đầu tư sau khi được giao đất; xử lý dứt điểm việc thu hồi đất, không để tình
trạng lãng phí quỹ đất; siết chặt quản lý khoáng sản, cấp phép khai thác khoáng sản
đáp ứng nhu cầu trên địa bàn. Thường xuyên kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo
vệ môi trường. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải trên địa bàn; xúc tiến đầu tư xây dựng lò xử lý rác thải theo quy hoạch
được phê duyệt. Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và chiến lược ứng phó
với biến đổi khí hậu, chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh.
Thứ năm: Phát triển văn hóa - xã hội
- Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; nâng cao chất
lượng các danh hiệu gia đình, làng xã, khối phố, đơn vị văn hóa. Tăng cường hiệu
quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở các cấp. Làm tốt công tác
xã hội hóa nguồn lực đối với lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch; tổ chức tốt các hội
diễn, hội thi văn nghệ, thể thao quần chúng. Phát động phong trào thi đua yêu nước
hướng tới kỷ niệm 550 năm ngày thành lập huyện Hương Sơn. Tăng cường công
tác kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động kinh doanh các dịch vụ văn
hóa - thể thao. Nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn, quản lý, khai thác, tu bổ,
tôn tạo, tổ chức các lễ hội và phát huy giá trị các Di tích lịch sử văn hóa, danh lam
thắng cảnh trên địa bàn. Đổi mới nội dung và hình thức các chương trình phát
thanh và truyền hình, cổng thông tin điện tử của huyện và các xã, thị trấn.
- Tiếp tục củng cố, giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; bổ
sung cơ sở vật chất gắn với Đề án Sắp xếp hệ thống trường mầm non, phổ thông
trên địa bàn. Củng cố và phát huy kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5
tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS. Nâng cao
chất lượng dạy và học ngoại ngữ. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển các cơ
sở giáo dục chất lượng cao trên địa bàn huyện. Thực hiện kiểm định chất lượng
giáo dục tại các trường học.
- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh hướng tới sự hài lòng của người dân;
tăng cường hoạt động y tế dự phòng; duy trì bền vững xã đạt tiêu chí quốc gia về y
tế. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở giữ liệu hồ sơ sức khỏe người dân; giám sát, kiểm tra
việc thực hiện chính sách, pháp luật về khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; tuyên
truyền, vận động người dân mua bảo hiểm y tế. Quản lý tốt hoạt động hành nghề y,
dược tư nhân; kiểm soát về an toàn thực phẩm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác DSKHHGĐ nhằm đạt mục tiêu duy trì mức sinh thay thế vững chắc, giảm tỷ lệ mất
cân bằng giới tính khi sinh.
- Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư về
tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách
mạng. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách đối với người có công, đối
tượng chính sách xã hội. Tổ chức điều tra, rà soát chính xác, khách quan hộ nghèo,
hộ cận nghèo; lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, các chương
trình dự án, các nguồn tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức cá nhân để hỗ trợ cho các hộ
nghèo phát triển sản xuất vươn lên thoát nghèo bền vững.
- Nâng cao số lượng và chất lượng thẩm định, rà soát, kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các luật mới ban
hành. Tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động, tích cực đưa pháp luật đến với người
dân, nhằm giải quyết những vấn đề nổi lên trong chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng chống tham nhũng, tiết
kiệm chống lãng phí nhất là trong quản lý tài nguyên, quản lý tài chính, xây dựng
cơ bản. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về thanh tra, tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc
tồn đọng; giải quyết kịp thời khiếu nại tố cáo ở cơ sở ngay từ khi mới phát sinh; xử
lý nghiêm các địa phương, đơn vị phát sinh nhiều khiếu kiện, để tình trạng đơn thư
khiếu kiện vượt cấp.
Thứ sáu: Cũng cố an về quốc phòng - an ninh và công tác đối ngoại
- Tập trung công tác tổ chức xây dựng và huấn luyện cho lực lượng vũ trang
địa phương, thực hiện nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức diễn tập
tác chiến phòng thủ 8 xã bảo đảm an toàn. Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyển giao quân,
tuyển sinh quân sự theo chỉ tiêu kế hoạch giao. Sẵn sàng lực lượng, phương tiện
phòng chống thiên tai và các nhiệm vụ đột xuất khác. Tăng cường quản lý nhà nước
về quốc phòng, nâng cao chất lượng toàn diện của lực lượng vũ trang, nhất là dân
quân tự vệ, dự bị động viên.
- Xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, đảm bảo giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh,
nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường khả năng
khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Tiếp
tục đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức quân sự, công an
xã, thị trấn đạt chuẩn nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Tăng cường công tác đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội,
không để đột xuất, bất ngờ xẩy ra. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý
những vấn đề phức tạp xảy ra. Đẩy mạnh đấu tranh quyết liệt các loại tội phạm, tệ
nạn xã hội; kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông, các biện pháp phòng chống
cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn, cháy rừng. Tập trung giám sát và ổn định an ninh, trật tự
an toàn xã hội các địa bàn trọng điểm.
- Thực hiện tốt công tác đối ngoại - bao gồm quan hệ các cơ quan, ban, ngành
Trung ương, các sở, ban ngành cấp tỉnh và các tổ chức phi chính phủ để tranh thủ
sự giúp đỡ, thu hút đầu tư về trên địa bàn. Duy trì tốt quan hệ hữu nghị với nước
bạn Lào, trực tiếp là huyện Xay Chăm Pon và huyện Khăm Cợt, tỉnh Bô Ly Khăm
Xay. Chủ động phối hợp trong triển khai công tác đảm bảo quốc phòng - an ninh,
nhất là khu vực biên giới.
2. Đối với Bệnh viện đa khoa huyện Hương Sơn nơi tôi đang công tác:
Trong thời gian qua công tác đồng hành xây dựng NTM được Lãnh đạo đơn vị
quan tâm chỉ đạo nên các nhiệm vụ được giao đều hoàn thành xuất sắc. Do đó,
Bệnh viện đã được tặng thưởng nhiều giấy khen của tập thể và cá nhân vì có thành
tích trong công tác đồng hành xây dựng NTM. Tuy nhiên, để tiếp tục thực hiện
nâng cao chất lượng của công tác đồng hành xây dựng NTM thì theo tôi đề xuất
một số giải pháp sau:
- Tăng cường tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau về công tác thực
hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đối
với toàn thể CBCNVC cũng như người bệnh, người nhà người bệnh.
- Xác định đồng hành xây dựng NTM là nhiệm vụ của toàn thể CBCNVC
trong toàn đơn vị.
- Lập kế hoạch thực hiện đồng hành xây dựng NTM dựa trên chỉ tiêu kế hoạch
được huyện, ngành giao cho.
- Vận động quyên góp ủng hộ xây dựng NTM không chỉ bằng 1 ngày lương
mà còn bằng hiện vật.
- Giao cho các đoàn thể chính trị trong đơn vị phụ trách thực hiện chương
trình. Đặt ra chỉ tiêu mỗi cán bộ đóng góp ít nhất 03 ngày công.
- Trước khi về đồng hành thì cần nghiên cứu, khảo sát kỹ thực tế địa phương
sau đó mới lên kế hoạch chi tiết thì hiệu quả thực hiện càng được nâng lên.
- Hỗ các xã, thị trấn thực hiện tốt về tiêu chí Y tế như: tham gia tuyên truyên
người dân tham gia bảo hiểm y tế. Đặc biệt là xây dựng kế hoạch hỗ trợ chuyên
môn, kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tài chính đối với các xã để các TYT đạt tiêu
chí quốc gia về y tế, chú ý tính bền vững của các tiêu chí. Tham gia tích cực các
chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là chương trình phòng chống
suy dinh dưỡng thể thấp còi trẻ em.
- Khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể làm tốt. Đồng thời xử lý
nghiêm những cá nhân, khoa phòng vi phạm.
Trên đây là báo cáo kết quả chuyến đi nghiên cứu thực tế tại Sa Pa, Lào Cai.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy, cô giáo ở trường
Chính trị, các thầy cô tham gia giảng dạy đã giúp cho tôi hoàn thành chương trình
khóa học này./.