Phần thứ hai: NỘI DUNG BÀI GIẢNG
Phải khẳng định rằng “Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản, chính sách,
pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong tình hình mới" có vị trí
quan trọng trong việc trang bị những vấn đề chiến lược đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong tình hình mới
nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao tư duy và kiến thức tổng hợp về kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại cho cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể chính
trị - xã hội.
Nội dung gồm 3 phần:
- Căn cứ hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về
phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt
động đối ngoại.
- Nội dung chủ yếu đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về
phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt
động đối ngoại thời kỳ mới.
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đường lối, chính sách, pháp
luật của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại thời kỳ mới.
I. CĂN CỨ HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA
ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI TĂNG
CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
1. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại
a. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin
BẤM- Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, kinh tế - chính trị - văn hóa - quốc
phòng, an ninh - đối ngoại... tồn tại khách quan trong đời sống và có quan hệ chặt
chẽ, hợp thành một hệ thống, tác động lẫn nhau tạo nên động lực thúc đẩy mỗi lĩnh
vực và tổng thể các lĩnh vực của xã hội phát triển. Vì vậy, "thắng lợi của bạo lực là
dựa vào việc sản xuất vũ khí, và việc sản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất nói chung,
do đó lại dựa vào "lực lượng kinh tế", vào "tình hình kinh tế", và những phương tiện
vật chất mà bạo lực chi phối được... ".
+ Sau khi Công xã Pari ra đời, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ nhiệm vụ của giai
cấp vô sản là phải huy động lực lượng trong công nhân, nông dân và các tầng lớp lao
động; mọi lĩnh vực tham gia tích cực vào việc bảo vệ những kết quả đã đạt được
trong cuộc cách mạng thì chính quyền Công xã mới đứng vững và khẳng định sức
sống của nó trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản.
+ Sức mạnh phát triển và bảo vệ đất nước của mỗi quốc gia, dân tộc là sức
mạnh tổng hợp của các lĩnh vực trong nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; là
sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - đối ngoại - quốc
phòng, an ninh - giáo dục - khoa học và công nghệ... Trong sức mạnh tổng hợp đó,
quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc
1
phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại có vị trí quan trọng. Mỗi lĩnh vực có vị trí, vai
trò khác nhau trong xây dựng sức mạnh tổng hợp xây dựng và bảo vệ Tô quốc xã hội
chủ nghĩa.
BẤM- V.I. Lênin chỉ rõ, kinh tế - xã hội là nền tảng vật chất cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
+ Vì vậy, “cuộc chiến tranh cách mạng này cần phải được chuẩn bị lâu dài,
nghiêm túc, trước hết bằng việc đẩy nền kinh tế trong nước lên”. Phải tập trung mọi
nỗ lực để khắc phục được những khó khăn về lương thực; tổ chức tốt công tác tiếp tế,
phát triển mạnh công nghiệp tạo tiền đề để đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc
phòng, bảo đảm vũ khí, cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm và những vật dụng
cần thiết cho nhân dân và quân đội...
BẤM- Tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh là vấn đề thường xuyên,
trọng yếu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong sức mạnh quốc gia. Xây dựng
nền quốc phòng vững mạnh là phải xây dựng được một quân đội vững mạnh làm
nòng cốt vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. V.I. Lênin chỉ rõ: " Muốn phòng
thủ phải có một quân đội kiên cường và mạnh mẽ...". Nhiệm vụ to lớn của quân đội
trong bảo vệ Tổ quốc là " bảo vệ những thành quả của cách mạng, chính quyền nhân
dân của chúng ta, các xô viêt đại biểu công nông binh, toàn bộ chế độ mới thực sự
dân chủ của chúng ta, chống tất cả mọi kẻ thù của nhân dân đang dùng đủ mọi cách
để bóp chết cách mạng"..
+ Đối với nền quốc phòng của ta trong những năm qua đã có nhiều bước tiến
vượt bậc cả về số lượng và chất lượng; vũ khí trang bị được đầu tư, nâng cấp, mua
mới số lượng nhiều, khả năng tác chiến cao, hiện đại: Việt Nam ký hợp đồng với Nga
đặt đóng 6 tàu ngầm diesel - điện lớp Kilo 636.1 trị giá 1,8 tỉ USD vào ngày
15.12.2009 nhân chuyến thăm Liên bang Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đã
đưa cả 6 tàu ngầm về đóng tại cảng Cam Ranh. Tổng chi phí của hợp đồng này tính
luôn việc xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động của đội tàu ngầm lên
đến 3 - 3,2 tỉ USD. Nhà máy Admiralty ở St. Petersburg là nơi đóng 6 tàu ngầm Kilo
cho Việt Nam.hiện đã về 5 chiếc (Hà Nội, HCM, Hải phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa,
còn Bà Rịa Vũng Tàu ..) Tàu ngầm Kilo 636.3 thuộc lớp tàu ngầm diesel - điện thế hệ
thứ ba, hình thành trên cơ sở tàu ngầm Dự án 877. Tàu ngầm Kilo 636 được thiết kế
với 2 lớp vỏ, chiều dài thân tàu là 73,8 m, chiều ngang rộng nhất 9,9 m. Lượng choán
nước khi nổi của tàu là 2.350 tấn, khi lặn là 3.100 tấn (có tài liệu ghi hơn 3.900 tấn).
Tàu có thể lặn ở độ sâu 240 - 300 m. NATO gọi đây là những “hố đen trong lòng đại
dương”.
BẤM- Hoạt động đối ngoại có vị trí quan trọng trong sức mạnh tổng hợp
quốc gia và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. V.I. Lênin chỉ rõ rằng, thông qua
và mở rộng đối ngoại để nắm bắt được tình hình quốc tế, có cơ sở khoa học định ra
đưòng lối, chiến lược, sách lược đúng đắn sách lược; thu hút nguồn vốn, tri thức, kinh
nghiệm của các chuyên gia tư sản; kịp thời phát hiện các âm mưu, thủ đoạn, hành
động phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững chính quyền cách mạng, tạo điều
kiện hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội.
BẤM.b. Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo,
hun đúc tư tưởng về sức mạnh tổng hợp dựa trên bốn trụ cột là kinh tế, quốc phòng,
2
an ninh, đối ngoại.
BẤM+ Từ thời Lê sơ đến vua Quang Trung sau này đã đưa ra tư tưởng: nội an,
ngoại tĩnh, quốc phú, binh cường (trong ổn định, ngoài bình yên, nước giàu có, quân
hùng mạnh) tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc đất
nước. Tư tưởng sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc là sức
mạnh toàn diện. Trong đó dựa trên 4 trụ cột chính là kinh tế, quân sự, đối nội, đối ngoại
nhằm mang lại "quốc thái, dân an", "thái bình, thịnh trị" cho dân tộc, khẳng định trong
cường thịnh, ngoài hòa hiếu.
Dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa tinh hoa
trong tư tưởng cha ông ta về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại
trong cách mạng Việt Nam.
BẤM- Phân tích mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa quốc phòng, an ninh - đốì ngoại, Hồ Chí Minh chỉ rõ, "thực lực là cái chiêng mà
ngoại giao là cái tiếng". Thực lực của đất nước trước hết và chủ yếu là sức mạnh
của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, quốc phòng, an ninh... tạo nền tảng
vật chất, tinh thần, thế, lực vững chắc cho đất nước trong thiết lập, duy trì, phát triển
quan hệ đối ngoại. Quan điểm thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng của
Hồ Chí Minh thể hiện tính sáng tạo, tầm nhìn chiến lược trong nhận thức và giải
quyết mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố
quốc phòng và an ninh với hoạt động đôi ngoại, ngoại giao để tạo nên sức mạnh tổng
hợp hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng.
BẤM- Kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vững chắc thì ngoại giao sẽ
luôn giữ được thế độc lập, tự chủ, chủ động, khẳng định vị thế, uy tín, sức mạnh
của đất nước, quốc gia trong quan hệ quốc tế. Ngược lại, kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh yếu kém thì ngoại giao sẽ rơi vào thế bị động, lép vế, vị thế, uy tín,
sức mạnh của đất nước, quốc gia trong quan hệ quốc tế trở nên lệ thuộc và mất độc
lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc (quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, Trung Quốc, Tây
Âu…đã có sự thay đổi so với trước. Từ vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với
Việt Nam năm 1954, đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185
nước/tổng số hơn 200 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224
thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với
nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có quan
hệ hợp tác tốt với tất cả nước lớn, trong đó có 5 nước thành viên thường trực Hội
đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Chúng ta đã giữ vững chủ quyền lãnh thổ, tạo dựng
môi trường hòa bình, hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng; đẩy mạnh hội nhập
quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực,
thu hút gần 260 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).
BẤM- Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển sức mạnh tổng hợp
phải bắt đầu từ phát triển kinh tế - xã hội.
+ Ngay sau khi giành được chính quyền, dân tộc ta phải đối mặt với những khó
khăn, thách thức rất lớn để giữ vững thành quả cách mạng của cuộc cách mạng, bảo
vệ nền độc lập non trẻ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, "nhiệm vụ
3
quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội", tập trung phát triển kinh tế - xã hội để tái thiết đất nước. Song, tập
trung phát triển kinh tế - xã hội để tái thiết đất nước không được coi nhẹ quốc phòng,
an ninh, đối ngoại.
BẤM- Hồ Chí Minh khẳng định, ngoại giao vừa phải góp phần thực hiện
nhiệm vụ kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa phải phục vụ công cuộc đấu tranh
cách mạng để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì vậy, sau vấn đề phát triển
kinh tế - xã hội để "diệt giặc đói", mở mang giáo dục để "diệt giặc dốt" cho nhân dân
và đẩy mạnh phòng thủ để "diệt giặc ngoại xâm", thì ngoại giao là một vấn đề cần
yếu cho một nước độc lập".
Trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, phải giải quyết hài hòa mối quan
hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - quân sự - an ninh
- đôi ngoại, "đem hết lòng hăng hái vào con đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi
đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc
có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi"...(ví dụ: Đánh giá vai trò to
lớn của công tác đấu tranh ngoại giao trong thời gian TQ hạ đặt trái phép giàn
khoang Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặt quyền kinh tế của
ta….cho phóng viên nước ngoài tác nghiệp trên Biển Đông để phát huy tiếng
nói, cộng đồng quốc tế…).
BẤM. 2. Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại của cách mạng nước ta từ 1945 đến
nay
Những bài học kinh nghiệm "quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh; "ngụ
binh ư nông", "tận dân vi binh" của cha ông đã được Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh
vận dụng, phát triển sáng tạo, nâng lên tầm cao mới trong chiến tranh giải phóng, xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
BẤM.a. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ
- Trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) Đảng, Nhà nước ta đã
ban hành và tổ chức lãnh đạo thành công đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật
về phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và
hoạt động đối ngoại.
BẤM + Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II đã khẳng định: Những
nguyên tắc lớn của chính sách kinh tế hiện nay là đảm bảo quyền lợi của công và tư,
của tư bản và lao động, tăng gia sản xuất mọi mặt để cung cấp cho nhu cầu kháng
chiến và cải thiện dân sinh, đặc biệt là cải thiện đời sống của nhân dân lao động...
Những nguyên tắc của chính sách ngoại giao là nước ta và các nước tôn trọng độc lập
dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất quốc gia của nhau và cùng nhau bảo vệ hoà
bình dân chủ thế giới, chống bọn gây chiến...
BẤM+ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III đã khẳng định, đi đôi với
phát triển kinh tế, phải kết hợp tăng cường củng cố quốc phòng, tích cực bảo vệ công
cuộc lao động hòa bình ở miền Bắc...; đi đôi và kết hợp với việc phát triển kinh tế,
cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường bảo đảm trật tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Từ đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa thành nhiều
chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc
4
phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại góp phần đưa đường lối của Đảng thành hiện
thực cuộc sống tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng, giải phóng, bảo vệ vững chắc
Tổ quốc.
BẤM.+ Hiến pháp năm 1946, trong Lời nói đầu ghi rõ: Nhiệm vụ của dân tộc
ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết
quốc gia trên nền tảng dân chủ".
+ Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: ... miền Bắc nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, xây dựng miền
Bắc vững mạnh làm cơ sở cho toàn quốc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà...;
tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí với các nước anh em trong phe xã hội chủ
nghĩa... với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Điều 8, ghi rõ: "Lực lượng
vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ
thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh
của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hòa bình của nhân dân".
BẤM+ Ngay sau khi giành được chính quyền và trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nhà nước đã ban hành hàng loạt luật, sắc lệnh,
nghị định, thông tư, quyết định nhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường
quốc phòng, an ninh và mở rộng hoạt động đối ngoại, sắc lệnh phụ thu ngân sách
(Sắc lệnh 38, ngày 27 tháng 9 năm 1945); về quy định thuế, kỹ nghệ, canh nông,
lương bổng (Sắc lệnh 42 ngày 4/10/1945); về thành lập Ban kinh tế Chính phủ (Sắc
lệnh 68 ngày 15/4/1950); về quy định tạm thời áp dụng đạo luật cũ với các công ty,
hãng kỹ nghệ, thương mại ngoại quốc ở Việt Nam (Sắc lệnh 48 tháng 9/1945); về
thành lập ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiêt của Chính phủ (Sắc lệnh 78 ngày
31/12/1945); nghị định, quyết định thành lập các nông trường, nhà máy, công ty, xí
nghiệp...; "tự cấp, tự túc", "khai hoang, phục hóa", "nhường cơm xẻ áo", "Luật cải
cách ruộng đất" (19/12/1953); về thành lập Việt Nam Công an vụ; về quy định tổ
chức của Bộ Quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự (28/1/1960) về cơ cấu tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao (Sắc lệnh 47 ngày 7/4/1946); bổ nhiệm các
đại sứ, tùy viên, tham tán ngoại giao...; chính sách "Chính phủ Việt Nam Dân chủ
cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọngquyền bình
đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau
bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ".
BẤM+ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hiệp định Pari về chấm dứt
chiến tranh, lập lại hoà bình là kết quả của một chặng đường lịch sử kết hợp đấu tranh
chính trị, quân sự, ngoại giao, trong đó đấu tranh ngoại giao đóng vai trò quan trọng
cùng với đấu tranh quân sự, chính trị đánh bại cơ bản các chiến lược của kẻ thù, buộc
Mỹ phải rút hết quân, tạo thuận lợi để quân và dân ta đánh cho ngụy nhào.
BẤM.b. Từ năm 1975 tới nay
* Những kết quả đạt được
BẤM- Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV chỉ rõ: Củng cố và tăng
cường lực lượng quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, đập tan
mọi sự phản kháng và mọi hành động xâm lược của kẻ thù; củng cố và phát triển
quan hệ hợp tác tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tích cực cùng nhân
dân thế giới đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
5
BẤM- Trong bối cảnh mới, Đảng, Nhà nước ta kiên trì, sáng tạo thực hiện
đường lối phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
và hoạt động đối ngoại.
BẤM- Trên cơ sở kế thừa, tiếp nối các nhiệm kỳ trước và trước thực tiễn
phát triển, tại Đại hội XII, Đảng ta đã có sự bổ sung, phát triển trong tư duy lý
luận kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Điều này thể hiện trên các khía
cạnh sau:
BẤM.Thứ nhất, không chỉ kế thừa nội dung về sự kết hợp chặt chẽ kinh tế với
quốc phòng, mà tại Đại hội XII đã có bước phát triển mở rộng sự kết hợp không chỉ
kinh tế mà cả văn hóa và xã hội với quốc phòng, an ninh và ngược lại.
BẤM.Thứ hai, điểm mới, điểm phát triển trong tư duy kết hợp là tiếp tục nhấn
mạnh sự kết hợp theo địa bàn, vùng, song phải chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên
giới, biển, đảo.
BẤM.Thứ ba, không chỉ mở rộng nội dung kết hợp mà Đại hội XII đã nhấn đến
tình toàn diện trong sự gắn bó kết hợp các lĩnh vực.
BẤM.Đối với công tác đối ngoại: Lần đầu tiên, nhiệm vụ đối ngoại nằm
trong các thành tố của chủ đề Đại hội. Đó là "Tăng cường xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy
mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững
môi trường hoà bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại". So với Đại hội XI, Đại hội XII đã bổ sung
vào chủ đề nội dung “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn
định” để nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong tổng thể đường lối
phát triển đất nước và đồng thời nêu rõ hai nhiệm vụ quan trọng nhất của đối ngoại là
bảo vệ Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để triển khai các nhiệm vụ
xây dựng đất nước trong 5 năm tới và các năm tiếp theo.
BẤM. Văn kiện Đại hội XII cũng đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất mục tiêu
đối ngoại. Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Lần đầu
tiên, phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại được nêu rõ hơn. Văn kiện
Đại hội Đảng khẳng định phương châm đối ngoại “vừa hợp tác, vừa đấu tranh.” Đặc
biệt, văn kiện Đại hội XII đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển công tác đối ngoại đa
phương, đặt ra yêu cầu mới: công tác đối ngoại đa phương không chỉ phải chuyển
mạnh từ “tham dự” sang “chủ động tham gia,” nhất là vào quá trình xây dựng và
định hình các quy tắc và luật lệ mới, mà còn phải phát huy vai trò của Việt Nam tại
các cơ chế đa phương. Định hướng này cũng chỉ rõ các cơ chế đa phương được ưu
tiên trong 5 năm tới là ASEAN và Liên hợp quốc.
BẤM* Những tồn tại, khó khăn, thách thức
BẤM- Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây
dựng xã hội mới, "do bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa,
công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất
thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân
dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội". Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại gặp khó khăn và kém hiệu quả.
BẤM- Thể chế hóa quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong điều kiện hội nhập
6
kinh tế thế giới còn chậm, chưa theo sát sự biến đổi của tình hình kinh tế, quốc
phòng, an ninh và đối ngoại của khu vực, thế giới và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tố
quốc khi Việt Nam gia nhập WTO và càng hội nhập sâu, rộng vào kinh tế thế giới.
BẤM- Sự kết hợp trong công tác nghiên cứu và dự báo tình hình đối tác,
đối tượng trong phát triển kinh tế - xã hội quan hệ đối ngoại có lúc chưa gắn chặt
với nghiên cứu, đánh giá đối tác, đối tượng của quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Đối tượng – Đối tác: Trước đây, nhất là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc,
quan điểm của Đảng ta về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam (bạn, thù) chỉ
rõ ai là bạn, ai là thù.
Trong các kỳ Đại hội Đảng gần đây, nhất là Đại hội XI và XII, trực tiếp là
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược BVTQ trong tình hình mới”,
Đảng ta đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản để xác định đối tác, đối tượng một cách
khách quan, khoa học, rất lô-gíc, biện chứng.
Theo đó, quan điểm của Đảng ta về đối tác, đối tượng được xác định là:
Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị,
hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có
âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của chúng ta trong sự nghiệp xây
dựng và BVTQ đều là đối tượng.
Đặc biệt, cần thấy rõ tính biện chứng, sự tồn tại đan xen và chuyển hóa lẫn
nhau rất linh hoạt giữa đối tác và đối tượng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Trên cơ sở đó, có chủ trương, biện pháp tranh thủ mặt tích cực của mỗi đối tượng,
hạn chế mặt tiêu cực của mỗi đối tác, phục vụ cho lợi ích của đất nước theo đúng
quan điểm mà Nghị quyết đã nêu: “… trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần
tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta
cần phải đấu tranh”. Nói cách khác, kết hợp chặt chẽ hợp tác và đấu tranh là vấn đề
cơ bản, có tính xuyên suốt không chỉ đối với “mỗi đối tượng” mà còn với cả các đối
tác. Tuyệt đối tránh cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện về đối tác, đối tượng.
Nếu chỉ coi trọng việc thấy rõ mặt tích cực mà không thấy mặt tiêu cực cùng những
mâu thuẫn của đối tác là không đúng. Tương tự như vậy, chỉ thấy mặt tiêu cực,
những mâu thuẫn lại không thấy mặt tích cực, tương đồng của đối tượng cũng là sai.
Cùng với đó, việc nhận thức về đối tác, đối tượng cần phải chú ý khách quan
nhưng cũng rất linh hoạt trong từng thời điểm và giai đoạn của cách mạng. Trong
quan điểm về đối tác, đối tượng, Đảng ta không chỉ ra ai là đối tác, ai là đối tượng cụ
thể, nhưng không vì thế mà chung chung, không rõ ràng; trái lại, xác định rất rõ nội
hàm “phạm trù” đối tác và đối tượng. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn mong muốn
là bạn, là đối tác tin cậy của mọi quốc gia vì lợi ích và sự phát triển của chính Việt
Nam và cộng đồng quốc tế.
Tuy nhiên, trong tình hình thế giới, khu vực, hội nhập quốc tế hiện nay, đòi
hỏi chúng ta phải hết sức tỉnh táo. Việc xác định có hay không có đối tác và đối tượng
vĩnh viễn là vấn đề hết sức nhạy cảm, cần nghiên cứu, cân nhắc thấu đáo. Ngay trong
những đối tác cũng có cấp độ quan hệ khác nhau, như: đối tác, đối tác toàn diện
(Mỹ), đối tác chiến lược (Trung Quốc, nhưng trên Biển Đông là Đối tượng tác
chiến) và đối tác chiến lược toàn diện. Và ngay với đối tượng cũng vậy, có đối
tượng trong thời điểm nhất định, có đối tượng cơ bản lâu dài.
BẤM- Gắn phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng,
7
an ninh và hoạt động đối ngoại chưa được triển khai rộng khắp ở tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Vì vậy, chưa khai thác và phát huy tối đa nội lực của đất
nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để tạo nên sức mạnh
tổng hợp hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa.
BẤM- Phương thức phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại gắn với quốc phòng, an ninh chưa đa
dạng và phong phú sát với điều kiện cụ thể của thực tiễn cách mạng.
BẤM- Ở một số ngành, lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại còn mang nặng tính hình
thức, hiệu quả thấp, đầu tư xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh
tế chưa tương xứng với vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của nó về mặt chính trị - xã
hội, quốc phòng, an ninh.
BẤM.3. Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại thời kỳ mới
a. Thuận lợi
BẤM- Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã tăng cường sức mạnh tổng
hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân tạo nền tảng vững
chắc để thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an
ninh và hoạt động đối ngoại.
BẤM- Nền kinh tế đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô, đạt và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao.
BẤM- Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triển kinh tế
với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân
được cải thiện.
BẤM- Phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục
được củng cố; xây dựng Nhà nước pháp quyền xặ hội chủ nghĩa được đẩy mạnh,
hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được
tăng cường, đạt một số kết quả tích cực...
BẤM- Quốc phòng, an ninh được tăng cường, củng cố góp phần ngăn chặn
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các nhân tố
gây mất ổn định khác nhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự, an toàn xã hội.
BẤM- Quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới góp phần làm cho hội nhập
quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao. Quan hệ hợp
tác quốc tế ngày càng mở rộng, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường
quốc tế trong giải quyết các vấn đề của khu vực và toàn cầu.
b. Khó khăn, thách thức
BẤM- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển chưa
bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm; các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc,
linh hoạt; chế độ phân phối còn một số bất hợp lý...
BẤM- Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo (thi
cử hiện nay…), khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, giao
8
thông, đô thị... chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm,
tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sông... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mạnh mẽ.
BẤM- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
chưa được phát huy đầy đủ. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyến biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố
gây mất ổn định chính trị - xã hội.
BẤM- Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn
biến", "tự chuyển hoá" có diễn biến phức tạp, tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sông trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và tệ
quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân
hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm
lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Bảo vệ chủ quyển
biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở
một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.
BẤM- Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn
biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân
quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Tình hình và bôi cảnh nêu trên
sẽ tạo ra cả những thòi cơ và thách thức đan xen đối với quá trình phát triển đất nước.
Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra tiếp tục tồn tại.
BẤM- Bối cảnh thế giới thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường. So với 10
năm trước, tình hình thế giới và khu vực đã có nhiều thay đổi sâu sắc, có những diễn
biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất trắc, khó lường.
- Trên thế giới đã xuất hiện một số loại hình chiến tranh kiểu mới, như chiến
tranh thông tin, chiến tranh mạng, sử dụng sức mạnh mềm thông qua các hoạt động
kinh tế, ngoại giao, văn hóa kết hợp với "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ... hết
sức nguy hiểm.
- Đông Nam Á trở thành địa bàn cạnh tranh quyết liệt về thị trường và tài
nguyên; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo diễn biến phức tạp. Khu vực châu Á
- Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, là khu vực phát triển năng
động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo
ngày càng gay gắt.
- Tình hình kinh tế, chính trị, an ninh trong nước, khu vực và quốc tế hiện
nay đã, đang, sẽ tác động rất mạnh đến sự lựa chọn quan điểm, phương châm, nội
dung, biện pháp, những đối sách cụ thể, đối tác và hướng ưu tiên, đối tượng cần
tập trung đấu tranh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ
của mỗi lĩnh vực và tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu chung
của đất nước trong thòi kỳ mới.
II. NỘI DUNG CHỦ YẾU ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA
ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI TĂNG
CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
THỜI KỲ MỚI
1. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an
ninh và hoạt động đối ngoại tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi công
9
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa
BẤM- Kết hợp phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) với tăng cường quốc phòngan ninh (QP-AN) và đối ngoại là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm đó được Đại hội XII của Đảng
tiếp tục khẳng định và phát triển một cách toàn diện và sâu sắc hơn, khi coi văn hóa,
xã hội (VH-XH) là một trong những nhân tố cấu thành không thể thiếu của sự kết hợp
đó. Đảng ta khẳng định, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc
phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng
lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc VN xã hội chủ nghĩa. Phục vụ cho công
cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
BẤM- Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an
ninh và đối ngoại là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo nền tảng vật chất, tinh thần
vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN xã hội chủ
nghĩa.
BẤM- Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an
ninh và hoạt động đối ngoại tạo nên sức mạnh tổng hợp để góp phần phát triển
kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ
vững ổn định chính trị - xã hội.
BẤM- Quan hệ đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy
quan hệ chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại của
đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
BẤM- Phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt
động đối ngoại là sự nghiệp của toàn dân, của mọi ngành, mọi cấp, mọi thành
phần kinh tế..., do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, với một hệ thống đường lối,
quan điểm, pháp luật, chính sách đồng bộ, phù hợp trong thời kỳ mới.
BẤM- Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an
ninh và hoạt động đối ngoại góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ biện chứng
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với
củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại góp phần giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát
triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;
giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc
phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành
thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2. Phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để tăng cường, củng cố quốc phòng,
an ninh và mở rộng hoạt động đối ngoại
Đảng ta khẳng định, đến năm 2020 phấn đấu SỚM đưa nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ
cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Trên
nền tảng đó củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và mở rộng hoạt động đối
ngoại góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, mở
10
rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
BẤM>> Phát triển kinh tế - xã hội tạo nền tảng vật chất và tinh thần vững
chắc để củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, phát triển hoạt động đối ngoại góp phần xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
BẤM- Phát triển kinh tế - xã hội tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa (5 thành phần kinh tế: Nhà nước, Tập thể, tư
nhân, tư bản Nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước đóng
vai trò chủ đạo); bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế.
BẤM- Trên cơ sở phát triển toàn diện của các ngành công nghiệp về cơ cấu,
công nghệ, con người, phân bố công nghiệp hợp lý trên toàn lãnh thổ...
BẤM- Phát triển nông nghiệp về cơ cấu, năng suất, chất lượng, hiệu quả, quy
hoạch, quản lý, sử dụng đất, nguồn nhân lực, sản xuất, chế biến nông sản...
BẤM+ Phát triển khu vực dịch vụ nhanh, hiệu quả và bền vững, đảm bảo các
dịch vụ cơ bản phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước; phát triển nhanh kết
cấu hạ tầng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
BẤM- Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm (HN, HP, Qninh, ĐN,
Tp HCM…), tạo động lực và tác động lan toả đến các vùng khác, tạo điều kiện phát
triển nhanh hơn các khu vực còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải
đảo, Tây Nam, Tây Nguyên, Tây Bắc và phía Tây các tỉnh miền Trung.
BẤM- Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phát triển giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ
động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai…
BẤM- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy
những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại,
xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá để văn hoá thực sự là nền tảng tinh
thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
BẤM- Xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
là cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng và an ninh trên từng vùng lãnh thổ…
BẤM- Nội dung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước bao
gồm cả phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội; bảo đảm xây dựng, củng cố
nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ
thiết thực cho mục tiêu giữ vững ổn định chính trị - an ninh, phát triển kinh tế đất
nước, nâng cao sức cạnh tranh ở trong nước và trên thế giới, ứng phó kịp thời và hiệu
quả các vấn đề quốc tế nảy sinh.
BẤM- Gắn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với đầu tư cho củng cố,
tăng cường quốc phòng, an ninh (đầu tư mua sắm VKTTB,KT) và hoạt động đối
ngoại.
3. Tăng cường, củng cố quốc phòng và an ninh giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, mở rộng hoạt động đối ngoại
BẤM>> Tăng cường quốc phòng, an ninh nhằm thực hiện tốt mục tiêu,
nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ
vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân
11
và chế độ xã hội chủ nghĩa.
BẤM- Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực (quân sự,
chính trị, kinh tế, con người) và thế trận (thế trận QPTD, thế trận khu vực phòng thủ
tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc).
BẤM+ Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân bảo đảm khi chưa xảy ra
chiến tranh thì toàn dân hăng hái lao động sản xuất, mọi công dân đều có trách
nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi chiến tranh xảy ra thì thực hiện chiến tranh
nhân dân "cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc", tạo ra những "tấm lưới sắt", "bức
thành đồng", "thiên la địa võng" bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Xây dựng khu vực
phòng thủ tỉnh, thành phố", nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân. Xây dựng
khu vực phòng thủ là xây dựng tỉnh thành phố vững mạnh không chỉ về quốc phòng,
an ninh mà còn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Khu vực phòng thủ vừa phải
bảo đảm yêu cầu bảo vệ và tác chiến trên địa bàn toàn tỉnh, thành phố, vừa nằm trong
thế trận liên hoàn phòng thủ quốc gia, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân
của đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình
huống.
BẤM- Xây dựng, củng cố vững chắc hệ thống chính trị bao gồm sự lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân
dân.
BẤM- Củng cố, tăng cường lực lượng quốc phòng của toàn dân và lực
lượng vũ trang nhân dân (Quân đội: Chủ lực, địa phương, DQTV và CAND ).
+ Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức
chiến đấu cao, đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân
quân tự vệ rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
+ Lực lượng Quân đội nhân dân: thực hiện 3 chức năng (Chiến đấu, Công
tác, LĐSX), 5 nhiệm vụ (SSCĐ và CĐTL, huấn luyện xây dựng ĐVVMTD, tích
cực LĐSX, P/triển XH, Vận động ND, Củng cố xây dựng và phát triển QHĐKHữu nghị với nhân dân và QĐ các nước); Nhiệm vụ chính của Công an nhân dân
trong thời bình: giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
+ Lực lượng dân quân, tự vệ, dự bị động viên có vai trò quan trọng trong việc
giữ vững an ninh, trật tự cơ sở, vừa là nguồn lực lao động to lớn của địa phương
trong phát triển kinh tế - xã hội. Lực lượng tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế quân
đội đã cùng với các địa phương tuyến biên giới đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
các dân tộc, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở cả 3 cấp (tỉnh,
huyện, xã).
BẤM- Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tạo cơ sở và góp phần
thúc đẩy công nghiệp của đất nước phát triển. Phát triển công nghiệp quốc phòng,
an ninh, nghiên cứu, phát triển, sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại
hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, vật tư kỹ thuật và các sản phẩm khác phục vụ
quốc phòng, khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước
để xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng; bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật
quân sự ngày càng hiện đại, tiên tiến; đồng thời liên doanh, liên kết với các tổ chức
kinh tế để sản xuất các sản phẩm phục vụ quốc phòng, an ninh và tham gia phát triển
12
kinh tế - xã hội.
BẤM- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, an
ninh bảo đảm đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực
lượng thù địch góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thòi tạo
cơ sở và góp phần vào sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước. (Tổng cục
Công nghiệp Quốc phòng là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có
chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các viện nghiên
cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ
khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân
dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc).
4. Mở rộng hoạt động đối ngoại tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường, củng cố quốc phòng và
an ninh phải tạo nền tảng, thực lực để củng cố, tăng cường, mở rộng quan hệ hữu
nghị, hợp tác nhiều mặt. Ngược lại đẩy mạnh hoạt động đối ngoại tạo môi trường
quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an
ninh, bảo đảm nguyên tắc hoạt động quốc phòng... kết hợp với hoạt động an ninh và
hoạt động đối ngoại để tạo sức mạnh vừa hoàn thành nhiệm quốc phòng, an ninh và
góp phần hoàn thành nhiệm vụ đối ngoại.
BẤM- Hoạt động đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để
phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Đó cũng là mục tiêu bao trùm của đối ngoại Việt Nam.
Có 163 quốc gia chiếm hơn 99% dân số thế giới có tên trong bảng xếp hạng về
chỉ số Hòa bình Toàn cầu năm 2016. Bảng xếp hạng này được đánh giá dựa trên 23
tiêu chí khác nhau. Thước đo chỉ số hòa bình toàn cầu sử dụng trong ba chủ đề lớn:
mức độ an toàn và an ninh trong xã hội, giải quyết mâu thuẫn trong nước và quốc tế;
cuối cùng là mức độ quân sự. Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể trong bảng xếp
hạng Hòa bình toàn cầu. Vào năm 2015, Việt Nam xếp hạng 56/162 về chỉ số Hòa
bình toàn cầu thì đến năm nay thứ hạng được tăng lên 105/163. Trong khi đó, những
nước láng giềng của Việt Nam có chỉ số Hòa Bình như sau: Thái Lan xếp hạng thứ
39, Trung Quốc đứng thứ 44, Campuchia đứng thứ 60 và Lào đứng thứ 112. Riêng
nước Mỹ, cường quốc hàng đầu thế giới chỉ đứng thứ 61.
BẤM- Hoạt động đối ngoại đề xuất chiến lược, chính sách, pháp luật, cung
cấp thông tin, giới thiệu tình hình, khả năng và nhu cầu hợp tác giữa doanh
nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp của quốc gia khác; chính sách, biện pháp thích
hợp và tổ chức thực hiện nhằm phát triển quan hệ kinh tế giữa nước Việt Nam và
quốc gia, tổ chức quốc tế; tham gia xúc tiến, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu
tư... Nghiên cứu, đề xuất chiến lược, chính sách, pháp luật, xu hướng phát triển kinh
tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường,
giáo dục - đào tạo, du lịch, hợp tác sử dụng nguồn nhân lực; chủ trương, quyết sách
có ý nghĩa chiến lược của quôc gia, tố chức quốc tế có tác động đến nền kinh tế Việt
Nam trong quá trình hợp tác phát triển.
+ Các tổ chức tiêu biểu VN tham gia: ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á); ASEM (Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu); APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á - Thái Bình Dương); WTO (Tổ chức thương mại thế giới); TPP (Hiệp định
13
đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương); Tổ quốc Nhân quyền quốc tế, IMF, WHO,
WB…
BẤM- Hoạt động đối ngoại tổng hợp, đánh giá và cung cấp thông tin cho cơ
quan có thẩm quyền về tình hình chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc
gia, tổ chức quốc tế; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về biện pháp cần thiết để
thúc đẩy sự phát triển quan hệ quốc phòng, an ninh với các quốc gia trên thế giới.
BẤM- Hoạt động đối ngoại của Nhà nước phối hợp với các hoạt động của
các lực lượng khác để nghiên cứu, tổng hợp, kiểm tra, đánh giá tình hình quản lý
biên giới, lãnh thổ quốc gia, vùng trời, các vùng biển, các hải đảo và thềm lục địa
của Việt Nam; giải quyết tranh chấp, đấu tranh bảo vệ biên giới, toàn vẹn lãnh thổ,
chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên đất liền,
vùng trời, các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa; đề xuất chủ trương, chính sách và
các biện pháp quản lý thích hợp; tham mưu về việc xác định biên giới quốc gia, các
vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam;
BẤM- Trong điều kiện hiện nay, môi trường an ninh của đất nước đã có
nhiều thay đổi. Cục diện chính trị thế giới, khu vực cũng đang biến động nhanh
chóng, khó lường. Châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực quan trọng nhất của
thế giới và là trọng tâm chiến lược toàn cầu của các cường quốc. Sự can dự ngày
càng sâu trên các lĩnh vực của các nước lớn vào khu vực này sẽ tạo ra nhiều cơ
hội, nhưng đồng thời có không ít thách thức đối với quốc phòng, an ninh của nước ta
(TQ với VN, CPC, Lào; Mỹ với CPC, Philipin…). Trong điều kiện đó, hoạt động
đối ngoại về quốc phòng là công cụ đắc lực của Đảng, Nhà nước để tăng cường
hiểu biết, tin cậy lẫn nhau về chiến lược với các đối tác, nhất là đổi với các nước
lớn có liên quan đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Đồng thời, đó còn là một
trong những nhân tố quan trọng để nâng cao thế và lực của đất nước; tạo ra thế trận
đối ngoại quốc phòng vững chắc với các cơ chế hợp tác mới, cả song phương và đa
phương, góp phần tạo dựng một cấu trúc an ninh khu vực nhiều tầng, nhiều lớp, có
tác dụng duy trì và củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.
BẤM- Bên cạnh đó, với khả năng tranh thủ các nguồn lực và điều kiện
quốc tế thuận lợi, hoạt động đối ngoại về quốc phòng sẽ góp phần quan trọng trong
xây dựng Quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại"
và nâng cao tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước; thực hiện chủ trương thêm
bạn, bớt thù; giữ vững ổn định đất nước từ bên trong; tạo khả năng to lớn để thực
hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa, vững chắc.
BẤM- Thông qua các hoạt động đối ngoại góp phần khắc phục những nguy
cơ đe dọa đến sự độc lập về lãnh thổ, kinh tế, chính trị; xu hướng tự phát theo định
hướng tư bản chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh giữa định hướng xã hội chủ nghĩa; hạn
chế các tác động tiêu cực của an ninh khu vực, thế giới vào an ninh quốc gia; xử lý
hài hòa mối quan hệ cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì
lợi ích quốc gia, dân tộc; góp phần kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn những cuộc xâm
nhập, "tiến công mềm" từ bên ngoài bằng các thủ đoạn thông tin trên các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa được đặt ra một cách gay gắt hơn.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIÊN KINH TẾ
- XÃ HỘI GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI
14
NGOẠI THỜI KỲ MỚI
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
vể phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
và hoạt động đối ngoại thời kỳ mới
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn dân, mọi cấp, mọi ngành về phát
triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội
gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thòi kỳ mới.
BẤM- Đảng, Nhà nước, đoàn thế chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang phải
tiến hành tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó chú trọng biện pháp tuyên truyền,
giáo dục và tổ chức hoạt động thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố,
tăng cường quổc phòng, an ninh, hoạt động đối ngoại để nhằm nâng cao nhận thức,
trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về phát triển kinh tế - xã hội gắn với
củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đôi ngoại thời kỳ mới.
BẤM+ Linh hoạt, chủ động, sáng tạo về hình thức giáo dục về phát triển
kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối
ngoại.
BẤM+ Tập trung chủ yếu vào các hình thức giáo dục quốc phòng và an
ninh; giáo dục lý luận chính trị; giáo dục đường lối, quan điểm của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục về quân sự; giáo dục về kinh tế - xã hội; giáo
dục về đối ngoại; giáo dục trong nhà trường; giáo dục trong cộng đồng; giáo dục
trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... để nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò quan
trọng, nội dung, biện pháp thực hiện phát triến kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại.
BẤM+ Căn cứ vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ hoạt động cụ thể của cơ
quan, đơn vị, địa phương để lựa chọn hình thức giáo dục phát triển kinh tế - xã hội
gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại phù hợp với
địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
BẤM+ Chủ động điều chỉnh, bổ sung, thay đổi, cập nhật, đổi mới hình thức
giáo dục phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an
ninh và hoạt động đối ngoại cho phù hợp với sự thay đổi của nội dung giáo dục và
sự biến đổi của thực tiễn kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...
BẤM+ Giáo dục thuyết phục phải đi đôi với các biện pháp tổ chức, quản lý,
với cơ chế, chính sách, pháp luật để nâng cao hơn nữa hiệu quả nhận thức về phát
triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại thời kỳ mới. Chú trọng các biện pháp khuyến khích lợi ích cả về vật chất và
tinh thần, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích cá nhân
với tập thể, cộng đồng trong phát triển kinh tê - xã hội gắn với tăng cường, củng cố
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại.
BẤM- Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm, tư tưởng xuyên tạc,
bóp méo, lợi dụng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, quan điểm, chính
sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, quy định của địa phương, đơn vị về thực
hiện phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
và hoạt động đối ngoại để thực hiện các mục đích phương hại đến lợi ích quốc gia,
15
dân tộc. Phát hiện kịp thời và đập tan các âm mưu, hành động chống phá của các thế
lực thù địch; trừng trị nghiêm khắc mọi âm mưu, thủ đoạn xâm hại đến kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội gắn vói củng cố tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại của cách mạng nước ta để giữ
vững, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
BẤM- Đẩy mạnh các biện pháp vận động, tổ chức, chính sách, luật pháp để
biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục về phát triển kinh tế - xã hội
gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại ở mỗi
công dân, mỗi cán bộ, đảng viên, địa phương, đơn vị.
2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai
trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là nhân tố cơ bản
bảo đảm thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội gắn vối tăng cường, củng
cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại thời kỳ mới.
BẤM- Đảng không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách về phát triển
kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối
ngoại là tiền đề để thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố,
tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại.
+ Củng cố hoàn thiện nguyên tắc tổ chức, tổ chức bộ máy quản lý điều hành.
+ Hoạch định phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của
Nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng,
an ninh và hoạt động đối ngoại phù hợp với điều kiện mới của đất nước, khu vực và
thế giới.
BẤM- Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước thể chế hoá đường lối,
chủ trương, chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh thành các văn bản luật
pháp, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, cơ chế để xây dựng, củng cố, vận hành quá
trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và
hoạt động đôi ngoại trên phạm vi cả nước.
+ Quan tâm hơn nữa bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực đối ngoại, quốc
phòng, an ninh.
+ Kiểm tra việc thực hiện chủ trương bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phát triển kinh
tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại.
+ Chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách
mạng của Đảng và nhân dân, nhạy bén, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong tình hình mới.
BẤM- Các cấp bộ Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra việc lãnh đạo,
chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách ở các cấp, các
ngành từ Trung ương đến cơ sở, nhằm tăng cưòng hiệu lực lãnh đạo của Đảng và hiệu
lực quản lý của Nhà nước, trong quá trình điều hành thực hiện phát triển kinh tế - xã
hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đôi ngoại ở địa
phương, đơn vị, tổ chức, gia đình và trách nhiệm mỗi cá nhân.
BẤM- Tăng cường quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại theo chức năng,
16
nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi của mỗi cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm phát
triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, thiết thực hiệu quả.
BẤM- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát
triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt
động đối ngoại phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, tình hình khu vực, thế
giới, bảo đảm tạo thuận lợi tối đa cho các địa phương, đơn vị, cá nhân vận dụng, thực
thi nghiêm túc, sáng tạo đưa pháp luật, cơ chế chính sách vào điều kiện cụ thể địa
phương góp phần đưa phương án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng
cường, củng cố quốc phòng, an ninh, hoạt động đối ngoại đi vào đời sống.
BẤM- Cơ chế, chính sách, pháp luật đủ sức mạnh để tập hợp lực lượng
trong cả nước và tạo khả năng thu hút, tập trung đông đảo người Việt Nam ở
nước ngoài, lực lượng tiến bộ trên thế giới
BẤM- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phải hướng vào
việc tập trung khai thác các nguồn lực vật chất, tinh thần trong nước và nước
ngoài, bảo đảm sự hài hoà cho việc thực hiện cả đối ngoại và quốc phòng, an
ninh.
3. Không ngừng đối mới phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại
Đổi mới thực hiện phương thức phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại là quá trình đổi mới cách thức,
biện pháp nhằm gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong tất cả các lĩnh vực, hoạt
động của đời sống xã hội nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
BẤM- Đổi mới thực hiện các phương thức phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trước hết phải bảo
đảm phát huy được lợi thế, hạn chế được điểm yếu, nhân lên sức mạnh của mỗi
lĩnh vực, hợp lại sức mạnh của mọi lĩnh vực, phát huy được mặt thống nhất, khắc
phục những mặt bất đồng, bảo đảm cho mọi lực lượng, mọi tầng lớp tham gia tích
cực, chủ động góp phần khai thác tối đa mọi nguồn lực vật chất, tinh thần tạo nên
sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại thời kỳ mới.
BẤM- Thực hiện đồng bộ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong phát triển kinh tế - xã
hội, trong thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong mở rộng quan hệ đối
ngoại, ở mọi cấp, mọi ngành từ Trung ương đến địa phương để tạo nên sự biến
chuyển trong toàn bộ mọi hoạt động của đời sống xã hội, thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và
hoạt động đối ngoại để tạo nên sức mạnh tổng hợp làm chuyển biến việc thực hiện
nhiệm vụ đôi ngoại gắn với quốc phòng, an ninh trong thòi kỳ mới.
BẤM- Giải quyết kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh, điều chỉnh, bổ sung,
khắc phục những bất cập trong thực hiện các phương thức phát triển kinh tế - xã
hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đốì ngoại.
17
4. Đổi mới xây dựng và thực hiện lộ trình phát triển kinh tế - xã hội gắn
với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại.
BẤM.Xây dựng lộ trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại phải căn cứ vào thực trạng phát triển
kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối
ngoại; sự phát triển thế, lực của đất nước; diễn biến tình hình chính trị, kinh tế,
văn hóa, quân sự, an ninh, đối ngoại khu vực và quốc tế...
BẤM- Lộ trình đối ngoại gắn phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng
cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại phải định ra được từng giai đoạn
phát triển từ thấp đến cao, từng phần đến bộ phận, từ địa phương đến cả nước.
Trong mỗi giai đoạn của sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại phải xây dựng được những mục
tiêu, nội dung, phương thức cụ thể mang tính đặc thù của giai đoạn đó. Giữa các giai
đoạn phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và
hoạt động đối ngoại phải có sự kê thừa, phát triển và gắn kết với nhau chặt chẽ trong
toàn bộ quá trình vận động, phát triển.
- Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 là thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước đã có những bước phát triển vững chắc, khẳng định vị thê của đất
nước ta trong khu vực và thế giới. Giai đoạn này sẽ xuất hiện nhiều thách thức mới
trong sự phát triển của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Vì vậy, phát
triển kinh tê - xã hội gắn với củng cố, tăng cưòng quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại giai đoạn này phải phát triển toàn diện, bảo đảm đủ sức giữ vững đà tăng
trưởng và ổn định của nền kinh tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
5. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về phát triển
kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động
đối ngoại
BẤM- Tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận phát triển kinh tế - xã hội gắn với
tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại phải trên cơ sở
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh.
BẤM- Quá trình tổng kết phải rút ra được các bài học kinh nghiệm về phát
triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt
động đối ngoại. Tiếp tục dự báo sự vận động, phát triển của phát triển kinh tế - xã hội
gắn với tăng cưòng, củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong tương
lai. Đề xuất những đôi sách ứng phó kịp thời những diễn biến phức tạp phát sinh
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường,
củng cố quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại trong thời kỳ mới.
KẾT LUẬN
Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và
hoạt động đối ngoại là một trong những vấn đề có tính quy luật trong mấy nghìn năm
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trong thời kỳ mới, vận dụng sáng tạo những
bài học kinh nghiệm của lịch sử trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, dân tộc ta đã thực hiện tốt phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng
cường quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ
18
quốc xã hội chủ nghĩa.
Nội dung, phương thức phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố
quốc phòng, an ninh và hoạt động đối ngoại rất phong phú, đa dạng. Trong đó đặc
biệt chú trọng sự gắn kết về mục tiêu, nhiệm vụ và quá trình tổ chức thực hiện trong
phát triển kinh tế - xã hội, trong tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và trong
mở rộng quan hệ quốc tế, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương trên phạm vi cả
nước./.
NGƯỜI BIÊN SOẠN
Trung tác Lê Quốc Lam
19