Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học Kinh tế quốc dân
BÀI TẬP LỚN
Môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nins
Đề tài: Phân tích vai trò, hạn chế và xu hướng vân động của chủ nghĩa tư bản.
Liên hệ với chủ nghĩa tư bản ngày nay
Hà Nôi, ngày 22/4/2019
A. Lời mở đầu
Tại sao chúng ta phải tìm hiểu về vai trò,hạn chế và xu thế của chủ nghĩa tư
bản?. Bởi vì chủ nghĩa tư bản ngày nay đang có những sự thay đổi , điều chỉnh
để thích ứng trước những biến động , mâu thuẫn của nó để tiếp tục tồn tại và
không ngừng phát triển. Điều đó làm cho đa số mọi nguời nhầm tưởng rằng chủ
nghĩa tư bản đã thay đổi về bản chất nhờ việc ứng dụng những thành tựu của
khoa học - công nghệ vào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Theo đó,
trong phương thức sản xuất tư bản ngày nay không còn hiện tượng người bóc
lột người, xã hội tư bản là xã hội tiến bộ nhất trong lịch sự nhân loại mà loài
người cần hướng đến.Đây là một quan điểm sai lầm về chủ nghĩa tư bản. Chính
vì vậy, ta cần phải tìm hiểu để thấy rõ những vai trò cũng như hạn chế của chủ
nghĩa tư bản và tin tưởng rằng cuối cùng chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ
nghĩa tư bản dù đây là một quá trình lâu dài và khó khăn.
Sau một thời gian nghiên cứu,tìm hiểu và tham khảo một số đề tài khoa học cấp
nhà nước và một số bài báo trên các trang của Bộ chính trị, em đã hoàn thành
đầy đủ các lĩnh vực thuộc đề tài nghiên cứu . Tuy vậy do còn nhiều hạn chế về
mặt khách quan và chủ quan em mong cô có thể góp ý để em có thể chỉnh sửa
bài làm một cách tốt nhất.
B. Nội dung
I.
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin về vai trò, hạn chế và hướng vận động
của chủ nghĩa tư bản
1. Vai trò
Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn: chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do và
chủ nghĩa tư bản độc quyền, mà nấc thang tột cùng của nó là chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước
Trong suốt quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra
đối với loài người thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp tích cực đối với
phát triển sản xuất. Đó là:
- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi "đêm trường trung
cổ" của xã hội phong kiến; đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp
chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chuyển sản xuất nhỏ
thành sản xuất lớn hiện đại.
- Phát triển lực lượng sản xuất.
Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển
mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công
lên kỹ thuật cơ khí (thời kỳ của C.Mác va V.I.Lênin) và ngày nay các nước tư bản
chủ nghĩa cũng đang là những quốc gia đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của
nhân loại từ giai đoạn cơ khí hóa sang giai đoạn tự động hóa, tin học hóa và công
nghệ hiện đại. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải
phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục thiên nhiên của
con người, đưa nền kinh tế của nhân loại bước vào một thời đại mới: thời đại của
kinh tế tri thức.
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất
Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức
điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều
rộng và chiều sâu. Đó là sự phát trển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập
trung với quy mô hợp lý, chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc,
mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ,...
làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn
nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội.
- Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ
chức lao động theo kiểu công xưởng, do đó đã xây dựng được tác phong công
nghiệp cho người lao động, làm thay đổi nền nếp, thói quen của người lao động sản
xuất nhỏ trong xã hội phong kiến.
- Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản,
nền dân chủ này tuy chưa phải là hoàn hào, song so với thể chế chính trị trong các
xã hội phong kiến, nô lệ, vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ
sở thừa nhận quyền tự đo thân thể của cá nhân.
Tóm lại, chủ nghĩa tư bản ngày nay với những thành tựu và đóng góp của nó đối
với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện,
tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng bước
chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách
mạng xã hội. Dĩ nhiên, cuộc cách mạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của từng nước và bối cảnh quốc tế chung từng thời điểm, vào sự lựa chọn của
các lực lượng cách mạng.
2. Hạn chế
Bên cạnh đóng góp tích cực nói trên, chủ nghĩa tư bản cũng có những hạn chế về
mặt lịch sử. Nhưng hạn chế này được C.Mác và V.I.Lênin đề cập ngay từ trong lịch
sử ra đời tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ
nghĩa tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư
bản. Thực chất, đó là quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp,
tước đoạt đối với những người sản xuất hàng hóa nhỏ vả nông dân tự do: nhờ vào
hoạt động buôn bán, trao đổi không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô
dịch đối với những nước lạc hậu. Về quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa
tư bản.C.Mác cho rằng, đó là lịch sử đầy máu và bùn nhơ, không giống như một
câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng những trang đẫm máu và lửa
không bao giờ phai.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của nhà
tư bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn
tại trong lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự
phân tích của C.Mác và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì
chừng đó quan hệ bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là
điều không tránh khỏi.
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và
khu vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu
người vô tội đã bị giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển
kinh tế của thế giới bị kéo lùi lại hàng chục năm.
- Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu nách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách
giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về
mức sống giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay năm
2017 số chênh lệch ấy là 1170 lần).
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới thứ ba bị trì trệ, suy thoái. Điều này
cũng đã được Ngân hàng Thế giới khẳng định: ở châu Phi, Mỹ latinh... hàng trăm
triệu người đã nhận thấy, đi cùng với tăng trưởng là sự suy tàn về kinh tế, phát triển
nhường chỗ cho suy thoái, ở một vài nước Mỹ latinh, GNP theo đầu người hiện
nay thấp hơn so với 10 năm trước đây. Ở nhiều nước châu Phi, nò còn thấp hơn
cách đây 20 năm, "... một thế giới mà trong đó 20 năm nay ở châu Phi, từ 9 năm
nay ở Mỹ latinh mức sống không ngừng giảm. Trong khi đó mức sống trong các
vùng khác tiếp tục tăng lên đó là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được".
3. Xu hướng vận động
Những thành tựu và hạn chế trên đây của chủ nghĩa tư bản bắt nguồn từ mâu thuẫn
cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng
sản xuất với quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
Chủ nghĩa tư bản càng phát triển, trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất ngày
càng cao thì quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng
trở nên chật hẹp so với nội dung vật chất ngày càng lớn lên của nó. Theo sự phân
tích của C.Mác và V.I.Lênin, đến một chừng mực nhất định, quan hệ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa sẽ bị phá vỡ và thay vào đó là một quan hệ sở hữu mới - sở
hữu xã hội (sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất được xác lập để đáp ứng yêu cầu
phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó cũng có nghĩa là phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa sẽ bị thủ tiêu và một phương pháp sản xuất mới - phương thức
sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời và phủ định phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Tuy nhiên, những thay đổi của chủ nghĩa tư bản hiện nay nói lên rằng, chủ nghĩa tư
bản vẫn đang tiếp tục điều chỉnh để thích ứng trước những biến động, mâu thuẫn
bên trong và ngoài nước.Những điều chỉnh mới của chủ nghĩa tư bản ở trên đã cho
chúng ta thấy, chủ nghĩa tư bản trước mắt vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, mặc dù
sự phát triển này không phải là vĩnh hằng và không phải là vô hạn. Do vậy, đồng
thời với việc vững tin rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản cuối cùng sẽ
thay thế chủ nghĩa tư bản, cũng cần phải nhận thức đầy đủ về tính lâu dài của quá
trình này, cần chuẩn bị kỹ càng cho khả năng cùng chung sống, vừa có hợp tác, vừa
có đấu tranh với chủ nghĩa tư bản, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của chũ nghĩa
tư bản để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
Mặt khác, cũng phải nhận thức rằng chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của
nó vẫn luôn luôn hàm chứa một nhân tố: tự hạn chế và tự phủ định đo chính mâu
thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra. Mặc dù chủ nghĩa
tư bản ngày nay đã có điều chỉnh nhất định trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân
phối, và ở một chừng mực nhất định, sự điều chỉnh đó cũng đã phần nào làm giảm
bớt tính gay gắt của mâu thuẫn này. Song tất cả những điều chỉnh ấy vẫn chưa vượt
ra khỏi khuôn khổ của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, mâu thuẫn vẫn
không bị thủ tiêu, đối kháng về lợi ích trong quá trình sản xuất vẫn còn đó, mâu
thuẫn giai cấp vẫn tồn tại… Bên cạnh mâu thuẫn cơ bản vốn chưa giải quyết được
lại xuất hiện thêm nhiều mâu thuẫn mới phát sinh, đẩy chủ nghĩa tư bản vào những
khó khăn mới về kinh tế, chính trị, xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt
là trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Đó là mâu thuẫn giữa năng
lực sản xuất vô hạn với tiêu dùng và khả năng thanh toán hạn chế; mâu thuẫn giữa
khả năng sản xuất vô hạn với nguồn tài nguyên hạn chế; mâu thuẫn giữa nhu cầu
nhất thể hóa kinh tế quôc tế và lợi ích quốc gia; mâu thuẫn giữa các nước chủ
nghĩa tư bản trung tâm với các nước ngoại vi... Những mâu thuẫn này diễn ra đồng
thời, vẫn là những thách thức và đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên, như C.Mác và V.I.Lênin đã nhận định: phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa không tự diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa cũng không
tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong
đó giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai
cấp công nhân.
II.
Thực trạng ở các nước tư bản ngày nay
1. Vai trò
- Chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ sang nền kinh tế
hàng hóa tư bản chủ nghĩa,sản xuất lớn đã thúc đẩy các nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ.
So sánh tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Anh và thế giới (1500-1913)
2.5
2
1.5
1
0.5
0
1500-1820
1820-1870
1870-1913
Có thể thấy tốc độ tăng trưởng GDP của nước Anh – nước có cách mạng tư sản thứ
2 trên thế giới giai đoạn 1500-1913 cao hơn gấp khoảng 2 lần so với thế giới .
- Phát triển lực lượng sản xuất
Quá trình phát triển của tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạn mẽ
với trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng cao . Ví dụ trong nông nghiệp ở Anh, từ
kĩ thuật thủ công dung liềm, cày.. để gặt, cày đất thế kỉ 15 đến thế kỉ 19 xuất hiện
máy cày bằng hơi nước – cơ khí hóa sang thế kỉ 20 tự động hóa và đến tương lai sẽ
là robot hóa .Sự phát triển khoa học kĩ thuật đã giải phóng sức lao động của con
người nâng cao khả năng khám phá và chinh phục tự nhiên của con người
Nguyên nhân là do thế giới đã và đang trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất- ở nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ
19.Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu với sự phát triển sản xuất
hàng hóa của ngành công nghiệp dệt. Động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và
máy móc dẫn động bằng cơ khí đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến.
Sự phát triển các máy công cụ trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 19 tạo thuận lợi cho
lĩnh vực chế tạo máy, phục vụ những ngành sản xuất khác.
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai bắt đầu vào khoảng thập kỷ 1850, khi các tiến
bộ kinh tế và kỹ thuật có được nhờ phát triển tàu hơi nước, đường sắt.Đến cuối thế
kỷ 19, động lực của Cách mạng công nghiệp là động cơ đốt trong và máy móc sử
dụng điện.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba bắt đầu khoảng 1960, khi có các tiến bộ về hạ
tầng điện tử, máy tính và công nghệ kĩ thuật số trên nền tảng là sự phát triển của
chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và
1980) và Internet (thập niên 1990). Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản
hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao.
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tưbắt đầu vào đầu thế kỷ 21, tiếp sau những thành
tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách
mạng số, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, internet vạn
vật, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới,... Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai
đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát
triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự
phát triển của con người.
Tác động của cách mạng công nghiệp là vô cùng sâu rộng. Không chỉ làm thay đổi
đời sống con người, các cuộc cách mạng công nghiệp còn dẫn tới sự thay đổi toàn
diện hình thái kinh tế – xã hội.
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất
Chuyên môn hóa sản xuất được tuyệt đối hóa làm cho quá trình sản xuất phân tán
được liên kết thành một hệ thống.
+ Ví dụ : Trong một nhà máy sản xuất bánh sẽ có nhiều công đoạn khác nhau mỗi
công đoạn sẽ có các công nhân đảm nhiệm và họ chỉ làm một công việc trong 1
thời gian dài năng suất lao động , trình độ tay nghề cao : có nguời sẽ nhào bột,
người làm nhân, người đóng gói, người cân đo sản phẩm, người dán bao bì….
- Xây dựng tác phong công nghiệp cho người lao động:
Tác phong công nghiệp là yêu cầu quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa phát
triển cao. Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp tổ chức lao
động kiểu công xưởng
+ Trong xã hội phong kiến: người lao động thói quen sản xuất nhỏ lẻ, tự phát
+ Trong TBCN: người lao động làm việc đúng giờ, đúng việc và hiệu quả cao
- Nền dân chủ tư sản được thiết lập: dựa trên cơ sở thừa nhận quyền tự do của
con người
+ Ví dụ: Tuyên ngôn về nhân quyền của Mỹ trong bản tuyên ngôn độc lập (1776)
Sự thật hiển nhiên là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
2. Hạn chế
-
Tích lũy tư bản bằng biện pháp ăn cướp,bóc lột,nô dịch người lao động ở
trong nước và các nước thuộc địa lạc hậu
+ Ví dụ :Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ dẫn đến nhiều hậu quả cho xã hội và
nhân dân nước này. Nạm đói làm hang triệu người chết
Giá trị lương thực xuất
khẩu
Số người chết đói
Năm
Số lượng
1840
858 000 livrơ
1858
3 800 000 livrơ
1901
9 300 000 livrơ
Năm
18251850
18501875
18751900
Số người
chết
400 000
5 000 000
15 000 000
- Gây ra các cuộc chiến tranh tranh giành thuộc địa, tài nguyên, thị trường:
+ Ví dụ: Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại hậu quả kéo dài từ năm 1945 – 1957
Hậu quả vô cùng nặng nề đối với nhân loại. Hơn 70 quốc gia với 1 700 triệu người
đã bị lôi cuốn vào vòng chiến, khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu người tàn phế
và nhiều làng mạc, thành phố bị phá hủy, thiệt hại về vật chất gấp 10 lần chiến
tranh thế giới thứ nhất, bằng tất cả các cuộc chiến tranh trong 1000 năm trước đó
cộng lại.
- Tạo ra hố sâu ngăn cách giàu nghèo:
Nền kinh tế của 1%” cho thấy, nhóm 1% người giàu nhất thế giới hiện sở hữu khối
tài sản có giá trị lớn hơn số tài sản của 99% dân số thế giới còn lại. Đặc biệt, nhóm
62 người siêu giàu đang sở hữu khối tài sản tương đương với toàn bộ tài sản của
nhóm nghèo nhất với 3,5 tỷ người, tương đương 50% dân số thế giới hiện nay
GDP theo đầu người (2017) :Nước cao nhất : Luxembourg : 107.708 USD
Nước thấp nhất: Somalia : 92 USD
Chênh lệch đến 1170 lần
- Môi trường bị phá hoại nặng nề, tài nguyên suy kiệt nghiêm trọng:
Phương thức của CNTB là tối đa hóa lợi nhuận .Vì vậy, các doanh nghiệp sẵn sàng
tối thiểu hóa chi phí sản xuất bằng cách xả thải trực tiếp ra môi trường không qua
xử lí và luôn tìm cách khai thác triệt để nguồn tài nguyên mà không bền vững.
Hiện nay các nước tư bản phát triển đã thấy rõ sự cấp bách của việc bảo vệ môi
trường nên để đối phó lại sự ảnh hưởng dến lợi nhuận, các tập đoàn tư bản xuyên
quốc gia đã tăng cường di chuyển công nghệ gây ô nhiễm sang các nước đang phát
triển đặc biệt là Việt Nam nhằm hạn chế chi phí, tránh sự kiểm soát.
Tình hình đó càng làm tổn hại thêm đến lợi ích các quốc gia đang phát triển và làm
trầm trọng thêm vấn đề môi trường.
+ Ví dụ : Việt Nam đang trở thành bãi rác của thế giới
Một nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân vào năm 2016 cho biết 60%
doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn, và 70% doanh nghiệp nước ngoài cho
rằng việc chọn Việt Nam làm điểm đầu tư sẽ giúp tiết kiệm chi phí môi trường so
với đầu tư ở nước họ.
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các tỉnh thành để thu hút FDI làm vấn đề trầm trọng
hơn. Ô nhiễm công nghiệp, như các ví dụ trên, dường như tập trung ở những địa
phương nghèo, nơi sẵn sàng nhượng bộ nhiều điều kiện môi trường để có dự án
đầu tư.
- Chủ nghĩa tư bản duy trì chạy đua vũ trang
Chi phí quân sự của thế giới (2018) đạt đến 1700 tỉ USD bằng gần 2% GDp thế
giới. Trong khi chỉ cần 1% trong số đó có thể cứu được 200 triệu người đói trên thế
giới. Riêng Mỹ chi phí quốc phòng là 800 tỉ USD và là một trong những nguyên
nhân làm Mỹ suy yếu tương đối so với Nhật Bản, Tây Âu
3. Mâu thuẫn và xu hướng vận động thực tế
a.Tính sâu sắc của các mâu thuẫn
Mẫu thuẫn nội tại của CNTB hiện đại trở nên sâu sắc chưa từng thấy.
1. Tài nguyên hạn chế - lực lượng sản xuất phát triển vô hạn.
2. Khả năng sản xuất mở rộng không ngừng – khả năng thanh toán hạn chế
3. Bất bình đẳng xã hội ngày càng trầm trọng
4. Khủng hoảng kinh tế và tính không ổn định trên nhiều lĩnh vực
5. Xung đột sắc tộc, tôn giáo và khủng bố lan tràn khắp trung tâm CNTB
b. Xu hướng
- Sự phát triển nhảy vọt của nền sản xuất và toàn cầu hóa.
Một “thời đại kinh tế mới “ đang được hình thành ở các nước tư bản phát triển
nhất. Đặc trưng của nền sản xuất này là tiết kiệm tối đa mọ nguồn lực: tài nguyên
thiên nhiên, sức lực và trí tuệ con người , đề cao tính hiệu quả sáng tạo của con
người.Thông tin trở thành nguồn lực chủ yếu.
Kết quả: Nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ thay thế mô hình kinh tế cũ ,
phân công lao động được chuyển biến thay đổi, tỷ trọng các ngành sản xuất vật thể
giảm, phi vật thể tăng. Các ngành có hàm lượng tri thức và tin học tăng nhanh.Giáo
dục và dào tạo trở thành lĩnh vực ưu tiên quốc gia.
CNTB hiện đại là CNTB toàn cầu hóa và chưa có dấu hiệu sụp đổ ở tương lai gần.
Nhưng CNTB toàn cầu hóa chỉ là sự thích nghi với “ thời đại kinh tế mới” và là
bước chuẩn bị cho trình độ phát triển cao hơn.
- Xã hôi hóa tư bản chủ nghĩa các quan hệ sản xuất
Chế độ sở hữu hỗn hợp tư bản chủ nghĩa đã được hình thành và mang tính xã hội
hóa ngày càng rộng thể hiện nổi bật ở hình thái tư bản cổ phần và các công ty liên
doanh dưới các dạng khác nhau với sự tham gia của các nhà tư bản lớn nhỏ,độc
quyền, không độc quyền, nhà nước và tư nhân, những người lao động,, trong phạm
vi một nước và lan rộng ra phạm vi quốc tế.
Sự phân chia lãnh thổ thế giới giữa các cường quốc dưới hình thức thuộc địa không
còn nữa. Hầu hết các quc gia đều có lãnh thổ chủ quyền của mình. Các cường quốc
không thể tùy tiện áp đặt sự phụ thuộc. Độc quyền lãnh thổ không còn mà thay vào
đó là độc quyền khoa học công nghệ. Đây là loại độc quyền có ảnh hưởng sâu rộng
trên mọi lĩnh vực.
Vai trò nhà nước trong tư bản hiện đại là cực kì quan trọng để đảm baoroonr định
về kinh tế, chính trị và xã hội của các nước tư bản
CNTB hiện nay đang vận hành theo một cơ chế mới gồm 4 yếu tố
Độc quyền
Đa độc quyền
Sự can thiệp của nhà nước
Hoạt động của các tổ chức công cộng
- Tư bản tư nhân sẽ không xem động cơ lợi nhuận là mục đích duy nhất mà còn có
cả lợi ích xã hội đặc biệt là lợi ích của người làm thuê đã và đang được tính đến
nghiêm chỉnh hơn.
- Xã hội tư bản vẫn là xã hội bóc lột giai cấp
Lực lượng xã hội tiêu biểu cho xã hội sau tư bản đang hình thành mang tính phủ
định rõ rệt CNTB đó là “ giai cấp công nhân tri thức” đã và đang ra đời.
III.
Những điều chỉnh của CNTB để khắc phục hạn chế của nó
1. Nội dung những điều chỉnh
-Về sở hữu: Chủ nghĩa tư bản truyền thống dựa trên sở hữu tư nhân là chủ yếu.
Chủ nghĩa tư bản hiện đại phát triển chế độ sở hữu hỗn hợp tư bản chủ nghĩa đã
được hình thành và mang tính xã hội hóa ngày càng rộng. Điều này đáp ứng nhu
cầu khách quan của lực lượng sản xuất và nền sản xuất hiện đại vừa xoa dịu mâu
thuẫn tính chất xã hội của sản xuất với tính sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất của nó.
- Về mặt tổ chức :
Chủ nghĩa tư bản truyền thống quản lý
thòi gian cứng nhắc
Khai thác, tận dụng sức lao động nhàn
rỗi chủ yếu sức lao động cơ bắp
Chủ nghĩa tư bản hiện đại quản lý thời
gian linh hoạt lấy năng suất và hiệu quả
làm đầu
Bóc lột chất xám , trí lực là chủ yếu đảm
bảo lợi nhuận ngày càng cao
Tiết kiệm chi phí sản xuất bằng cách
đầu tư vào công nghệ kĩ thuật tiên tiến
- Về mặt phân phối thu nhập
Nạn nghèo đói giảm nhanh, tầng lớp trung lưu chiếm số lượng lớn hơn cả người
giàu do thu nhập trung bình tăng lên.Mức tiền thưởng, tiền bảo hiểm, tiền trợ cấp..
cũng tang đáng kể . Tiền lương của công nhân không chỉ đủ để họ tái sản xuất sức
lao động mà còn đủ để chi tiêu cho nhiều nhu cầu khác. Giờ làm việc ngày càng
giảm xuống , ví dụ ở Đức một tuần chỉ làm 35 giờ. Dùng một phần lớn ngân sách
chi tiêu cho phúc lợi xã hội
- Về mặt xã hội
Lao động ngành nông-lâm- ngư nghiệp chỉ chiếm 2-5% ,ngành công nghiệp chiếm
30% còn ngành dịch vụ chiếm 60-70%.Điều này làm nhiều người không thấy rõ
bản chất chủ nghĩa tư bản, không thấy rõ địa vị làm thuê mà giảm ý chí đấu tranh
2. Kết quả
Ưu thế hiện nay trên thế giới rõ ràng thuộc về chủ nghĩa tư bản.Trong kinh tế, vốn
tư bản chủ yếu là của các nước đang phát triển. Các nước phát triển chiếm 70% thu
nhập thế giới, 80% thương mại toàn cầu. Các công ty độc quyền xuyên quốc gia là
lực lượng thao túng thị trường thế giới. Hiện nay, khoảng 200 công ty xuyên quốc
gia đang chiếm 1/3 GDP của thế giới, thâu tóm 70% vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), 2/3 mậu dịch quốc tế và trên 70% chuyển nhượng kỹ thuật của thế
giới. chủ nghĩa tư bản dùng sức mạnh về tiền vốn, công nghệ tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý và thị trường làm công cụ, cùng với các thủ đoạn chính trị, ngoại
giao, văn hóa, tư tưởng để thực hiện "diễn biến hòa bình", "giành thắng lợi không
cần chiến tranh" hay còn được gọi là "một thứ chiến tranh không có khói súng"
Chính vì vậy các nước này có tiếng nói lớn trên chính trường quốc tế.Ví dụ tổ chức
Bắc Đại Tây Dương-NATO là tổ chức quân sự lớn nhất thế giới có quyền lực
“ngầm” đối với các nước khác. Các nước này cũng khống chế các tổ chức thế giới:
Liên hiệp quốc, WTO, WB….
C. Kết luận
Như vậy, nếu nhìn nhận một cách trực quan, Chủ nghĩa Tư bản hiện đại đã khoác
trên mình nó một bộ áo cánh mới và bộ áo cánh đó đã phần nào che đậy được một
số khuyết tật cố hữu của Chủ nghĩa Tư bản. Tuy nhiên, Chủ nghĩa Tư bản dầu sao
vẫn là Chủ nghĩa Tư bản với bản chất xã hội mang nặng sự phi lý, là chế độ đầy
rẫy bất công phi lý, mâu thuẫn. Và một điều nữa cần được khẳng định là chính
những thay đổi hiện nay trong lòng Chủ nghĩa Tư bản cùng những thành công nhất
thời trong việc tự điều chỉnh lại tạo những nhân tố và tiền đề mới cho một xã hội
tương lai- xã hội phủ nhận Chủ nghĩa Tư bản.