CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ HUY ĐỘNG CÁC
LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ
SỐNG CHO HỌC SINH THCS DÂN TỘC THIỂU SỐ
Khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu về GD GTS cho học sinh nói chung và học
sinh dân tộc thiểu số nói riêng đã có nhiều tác giả trong và
ngoài nước đề cập đến. Sau đây chúng tôi xin được khái quát
một số công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình
trên thế giới và ở Việt Nam.
Trên thế giới
Trên thế giới, có nhiều công trình đã nghiên cứu về GTS
và GD GTS cho học sinh. các tác giả Soren Kierkegaard,
Martin Heiddeger, Jean Paul Sartre đã đưa ra các chỉ số “giá
trị sống” được rất nhiều quốc gia quan tâm. Quỹ nhi đồng liên
hiệp quốc (UNICEF) đã tổ chức Hội thảo bàn về GD GTS
(Living Values Education, viết tắt là LVE) với sự tham gia của
20 nhà GD nổi tiếng. Từ thành công của Hội thảo, năm 1998
một số nhà tâm lý giáo dục và đã tổ chức một số hoạt động
GD GTS chotiểu học và trung học cơ sở . Hội nghị lần thứ 10
(2005) và lần thứ 11 (2007) của UNESCO bàn chuyên về GD
GT và GD GTS cho con người theo các giai đoạn lứa tuổi,
đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên. Để nâng cao hiệu quả của
việc GD GTS hội nghị đã đề cập đến vấn đề nhu cầu được GD
GTS của lứa tuổi này. Coi đây là một trong những nội dung
quan trọng nhất để đảm bảo phát triển bền vững. Theo
UNESCO, GTS của cá nhân được tiếp nhận từ hoàn cảnh thế
giới bên ngoài và thay đổi theo thời gian, GTS có tính toàn
vẹn và liên tục. Cá nhân có sự toàn vẹn nếu họ áp dụng các
GTS phù hợp với mình, nhu cầu được GD GTS của mỗi cá
nhân giúp mỗi người có định hướng đúng đắn cho những lựa
chọn của họ khi đứng trước các giá trị khác nhau.
Trên thế giới có Hội GD GTS với 74 nước thành viên,
Việt Nam cũng đã tham gia chương trình này. Ở Nam Mỹ từ
đầu những năm 90 của thế kỷ trước đã sớm đặt ra vấn đề GD
GTS, nhu cầu được GD GTS cho thanh niên SV. Từ khi đó
Chính phủ Jamaica đã nhấn mạnh tầm quan trọng của GD
GTS và chú trọng đến nhu cầu GD GTS phù hợp với từng lứa
tuổi đặc biệt là giới trẻ, năm 1993-1994 nước này đã công bố
chương trình GT và Thái độ. Năm 2005, Hội nghị Bộ trưởng
GD Châu Mĩ đã bàn về GD GT dân chủ trong GD chính quy,
trong các chương trình, tài liệu dạy học. Ở Anh có Hội đồng
GD GT, hoạt động với 4 mục đích: nâng cao nhận thức về GT
và vận dụng vào GD; lập mạng thông tin, trao đổi; quy định
khung hoạt động của các thành viên trong Hội đồng tham gia
xây dựng chính sách GD [15, tr. 54- 57]. Hội GD giá trị quốc
tế (công bố năm 2006) đưa ra 12 giá trị nhân cách và giá trị xã
hội (giá trí sống) then chốt: Hòa bình, tôn trọng, yêu thương,
khoan dung, trung thực, khiêm tốn, hợp tác, hạnh phúc, trách
nhiệm, giản dị, tự do, đoàn kết.
Năm 1997 với sự hợp tác của các nhà GD trên thế giới,
với sự hỗ trợ của UNESCO và Ủy ban Quốc gia về UNICEF
của Tây Ba Nha, tổ chức Brahma Kumaris, với sự tham khảo
ý kiến của Ban GD thuộc Unicef (New York), một chương
trình giáo dục GTS đã được xây dựng. Mục đích của chương
trình giáo dục GTS là cung cấp những nguyên tắc và những
công cụ hướng dẫn để phát triển một con người toàn diện,
nhìn nhận rằng một cá nhân bao gồm thể chất, trí tuệ, tình
cảm và tinh thần. Giúp các cá nhân nghĩ về các GTS khác
nhau hình thành nhu cầu, mong muốn được trang bị, trải
nghiệm các GTS đó và đưa ra những cách áp dụng thực tế để
thể hiện bản thân trong quan hệ nội tại, quan hệ với người
khác với cộng đồng và rộng hơn là với thế giới. Giáo dục
GTS được đáp ứng sẽ giúp học sinh đào sâu sự hiểu biết,
động cơ và trách nhiệm để có những lựa chọn tích cực cho cá
nhân và xã hội. Tạo cảm hứng cho cá nhân để lựa chọn những
giá trị xã hội, đạo đức, tinh thần và những GT của riêng mình,
cũng như nhận biết những phương pháp thực tiễn để phát huy
và hiểu sâu hơn những giá trị này.
Erickson (1950), G.Allport (1955). Rockech (1973),
Abraham Maslow (1970), Carl Rogers (1969)... đưa ra một số
vấn đề đạo đức cần được phát triển, và phải trở thành nhu cầu
đối với lứa tuổi học sinh THCS. Các GTS cốt lõi như: tự chủ,
lòng nhân từ, lòng từ bi, lòng dũng cảm, lịch sự, trung thực,
tính toàn vẹn, tin cậy... nên đưa vào giảng dạy trong nhà
trường, đồng thời chỉ ra những phương pháp đưa vào giảng
dạy những giá trị đó cho học sinh. Đây là những vấn đề quan
trọng để đặt nền móng cho việc hình thành, GD các GTS cho
học sinh.
Trên đây là những nghiên cứu của các tổ chức, các nhà
khoa học trên thế giới về giáo dục GTS mà tập trung chủ yếu
giáo dục cho học sinh tiểu học và THCS. Tuy nhiên, rất ít tác
giả đề cập đến việc huy động các LLCĐ tham gia giáo dục
GTS cho học sinh.
Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về GD GTS cho học sinh THCS
là một nội dung GD quan trọng, nhằm giúp các trường THCS
thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhân cách người học.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không
có đức là người vô dụng”. Từ quan điểm đó Người coi trọng
mục tiêu, nội dung GD trong các NT như: “Đoàn kết tốt”,
“Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn quan trọng mang
ý nghĩa khái quát rất cao về thái độ đạo đức và GTS. Người đòi
hỏi phải nghiêm khắc với mình và rộng lòng khoan thứ với mọi
người. Người nêu rõ: “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”. Theo
Bác, có cần, có kiệm, có liêm thì mới chính được. Đủ cả bốn đức
ấy mới là người hoàn mỹ. Ấy là xét ở phạm vi tu dưỡng đạo đức
cá nhân. Còn xét rộng ra, với một dân tộc, có đủ cả cần - kiệm liêm - chính thì dân tộc đó sẽ vừa giàu có về vật chất, lại vừa cao
quý văn minh về mặt tinh thần. Ở đây, Bác Hồ không chỉ nhấn
mạnh đạo đức là giá trị căn bản để làm người mà còn đề cập tới
một cách sâu sắc vai trò, động lực củagiáo dục đối với sự phát
triển và tiến bộ xã hội. Trên cơ sở đó, Bác đã nhấn mạnh đến các
giá trị khi giáo dục học sinh như “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”,
“Khiêm tốn, thật thà dũng cảm” [10, tr.448- 455].
Kế thừa tư tưởng của Người, tác giả Phạm Minh Hạc nhà Tâm lý học hàng đầu nước ta, đã nêu lên các định hướng
giá trị sống của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH HĐH và bàn về thực trạng cũng như giải pháp ở tầm vĩ mô về
GD & ĐT con người Việt Nam theo định hướng trên. Về mục
tiêu GD, ông nêu rõ “Trang bị cho mọi người những tri thức
cần thiết về tư tưởng chính trị, ĐĐ nhân văn, kiến thức pháp
luật văn hóa xã hội. Hình thành cho mọi công dân có thái độ
đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản
thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân
tộc… ; tổ chức tốt GD thế hệ trẻ, giúp họ tự giác thực hiện
những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành
quy định, nỗ lực học tập, rèn luyện, tích cực cống hiến sức
lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước” [7, tr.168170].
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá VIII có nêu: “Mục tiêu chủ yếu là GD toàn
diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng GD
chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng
lực thực hành”. Với tư tưởng này, Đảng và Nhà nước ta đã đặt
con người vào vị trí trung tâm: con người là mục tiêu và là động
lực của sự phát triển [3].
Về huy động nguồn lực cộng đồng phục vụ cho GD nói
chung, GD GTS cho HS THCS nói riêng hay nói cách khác là
vấn đề xã hội hóa GD từ lâu đã được các nhà nghiên cứu khoa
học và quản lý GD quan tâm và đề cập ở nhiều góc độ khác
nhau, kể cả về lý luận và thực tiễn. Điển hình như một số tác
giả: Phạm Minh Hạc và Phạm Tất Dong với “Xã hội hóa công
tác GD”, tác giả Nguyễn Sinh Huy có “Xã hội hóa GD – Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Bộ GD & ĐT cũng đã có “Đề
án xã hội hóa công tác GD”. Báo cáo khoa học tổng kết đề tài
“Đánh giá tác động của các chính sách xã hội hóa GD” do tác
giả Nguyễn Công Giáp chủ biên. Viện Khoa học GD Việt
Nam: “Xã hội hóa GD – nhận thức và hành động” …
Từ góc độ GD học, tác giả Võ Tấn Quang đã khẳng
định: “Xã hội hóa công tác GD là một phương thức thực sự
GD nhằm xã hội hóa cá nhân” [11]. Lần đầu tiên cuốn sách
với ý nghĩa là một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng xã
hội hóa GD ở các cấp học, bậc học với địa bàn nông thôn, vấn
đề quản lý nhà nước trong việc thực hiện xã hội hóa GD có sự
định hướng đúng đắn hoạt động từ các nhà trường và từng địa
phương
Nhìn chung, vấn đề huy động các nguồn lực cộng đồng
tham gia vào GD nói chung, GD GTS cho HS THCS nói riêng
là một vấn đề đã được nghiên cứu và cơ bản thống nhất ở một
số nội dung: cơ sở lý luận, một số thuật ngữ, quan điểm cơ
bản như: xã hội hóa, một số biện pháp chung… để thực hiện
cho cả nước và một số địa phương. Trong nhiều năm qua,
công tác xã hội hóa GD nói chung, công tác huy động các
nguồn lực cộng đồng nói riêng đã đạt được nhiều kết quả to
lớn, tạo động lực cho sự phát triển GD của đất nước. Tuy
nhiên, vấn đề huy động các nguồn lực cộng đồng trong GD
GTS cho học sinh THCS thiểu số còn chưa được đề cập
nhiều. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về huy
động nguồn lực cộng đồng trong GD GTS cho học sinh
THCS dân tộc thiểu số.
Các khái niệm cơ bản
Khái niệm Giá trị, GTS
Từ thời cổ đại, những hiểu biết đầu tiên về giá trị đã có
trong các tư tưởng triết học. Đến cuối thế kỉ XIX, với sự xuất
hiện của giá trị học, thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ về một
khái niệm khoa học và được nghiên cứu ngày càng sâu rộng
trong triết học, đạo đức học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý
học… Với mỗi ngành học đều có những hướng tiếp cận riêng
đối với khái niệm “giá trị”. Vì thế, xung quanh khái niệm “giá
trị” có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Theo một số từ điển Việt Nam và từ điển nước ngoài,
khái niệm “giá trị” được định nghĩa “là phẩm chất tốt hay
xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hay của con người, là
cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cực
hay tiêu cực của khách thể đối với con người, giai cấp, nhóm,
xã hội nói chung, được phản ánh vào các nguyên tắc và
chuẩn mực đạo lý, lý tưởng, tâm thế, mục đích. Có giá trị vật
chất và giá trị tinh thần” [16].
Nhà xã hội học J. H. Ficher (Hoa Kỳ) coi: “Tất cả
những gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối
với cá nhân hoặc nhóm xã hội đều có một giá trị” [4; 5].
Nhà văn hóa học C. Kluckholn (Hoa Kỳ) cho rằng:
“Người ta nhận thấy ở giá trị những quan niệm thầm kín
hoặc bộc lộ cái ao ước riêng của một cá nhân hay của một
nhóm. Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương
thức, phương tiện và mục đích khả thi của hành động”.
Còn theo quan niệm của nhà giáo dục học T. Makiguchi
(Nhật Bản) thì: “Giá trị là sự thể hiện có tính định lượng của
mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của việc
đánh giá” [13].
Trong những thập kỷ gần đây, ở nước ta cũng đã có
nhiều công trình nghiên cứu về giá trị. Nhìn chung, tác giả
của các công trình này đều quan niệm giá trị là tính có ý nghĩa
tích cực, tốt đẹp, đáng quy, có ích của các đối tượng đối với
chủ thể. Chẳng hạn, theo tác giả Thái Duy Tuyên thì giá trị là:
“Cái đáng quý, cái cần thiết, có ích, có nghĩa, thỏa mãn
những nhu cần về vật chất và tinh thần của con người, giai
cấp, nhóm xã hội nói chung” [12].
Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giá trị.
Qua các định nghĩa có thể nhận thấy những quan điểm chung
sau đây:
Thứ nhất, giá trị là tính ích lợi, tính ý nghĩa tích cực của
các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan đối với
cuộc sống của con người. Nó nói lên khả năng của sự vật,
hiện tượng trong việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất hay
tinh thần của từng người, từng nhóm người, của cộng đồng,
xã hội và của toàn nhân loại. Giá trị của một khách thể (sự
vật, hiện tượng) hoàn toàn khác với cái gọi là bản chất và quy
luật của chính bản thân khách thể đó. Cái bản chất và quy luật
của khách thể luôn tồn tại một cách khách quan, không phụ
thuộc vào nhu cầu của con người. Còn giá trị của khách thể lại
chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của chủ thể (cá
nhân, nhóm, cộng đồng…). Nhờ nhu cầu mà chủ thể xác định
được một đối tượng có giá trị hay không và giá trị ấy cao hay
thấp.
Thứ hai, giá trị là sự biểu hiện mối quan hệ lợi ích, đánh
giá của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng trong hiện thực
khách quan. Điều đó có nghĩa, giá trị có mặt khách quan và
mặt chủ quan. Mặt khách quan của giá trị là những đối tượng
trong hiện thực chứa đựng những đặc tính có khả năng thỏa
mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần nào đó của con người.
Còn mặt chủ quan của giá trị là thái độ, quan điểm, tiêu chuẩn
lựa chọn giá trị cũng như phương thức đánh giá đối tượng của
xã hội và cá nhân. Sự phân biệt hai mặt cấu thành của giá trị
đã cho thấy giá trị chỉ nảy sinh và tồn tại thông qua sự đánh
giá của chủ thể, mà chủ thể bao giờ cũng là con người nên giá
trị là một phạm trù mang bản chất xã hội. Giá trị là cái thuộc
về xã hội, chỉ có trong xã hội loài người. Các giá trị giúp con
người định hướng hoạt động và góp phần tạo dựng nên xã hội
loài người. Tuy nhiên, sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một
giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà
phụ thuộc vào những yêu cầu và điều kiện thực tiễn trong đó
họ sống và hoạt động. Do vậy, trong mỗi thời đại lịch sử, mỗi
chế độ xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc, tôn giáo, giai cấp,…
đều có những giá trị riêng của mình. Nói khác đi, giá trị là
một phạm trù mang tính xã hội, tính xã hội, tính lịch sự - cụ
thể, luôn biến đổi theo không gian và thời gian.
Thứ ba, Giá trị được hình thành trong hoạt động thực
tiễn, gắn liền với hoạt động của con người. Khi đã hình thành,
giá trị có vai trò là chỗ dựa để con người xác định mục đích,
phương hướng cho hoạt động của mình. Mọi cách thức và
hành động của con người trong hoạt động đều được chỉ đạo
bởi các giá trị. Vì thế, giá trị là cái chi phối con người trong
việc lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục đích hoạt
động.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách khái
quát: Giá trị là tính ích lợi, tính có ý nghĩa tích cực của sự
vật, hiện tượng đối với sự thỏa mãn nhu cầu của con người,
có tác dụng chi phối con người trong việc lựa chọn mục đích,
phương thức và phương tiện hoạt động.
Trong xã hội loài người có vô số các giá trị khác nhau.
Thông thường, các giá trị được phân chia thành hai loại tương
ứng với hai lĩnh vực cơ bản trong đời sống con người, đó là
giá trị vật chất (thỏa mãn các nhu cầu vật chất) và giá trị tinh
thần (thỏa mãn các nhu cầu tinh thần). Người ta cũng thường
phân biệt các giá trị xã hội với các giá trị cá nhân. Giá trị cá
nhân là giá trị mà một con người, với tư cách là một chủ thể
của hoạt động, đã tiếp thu hoặc tạo ra được cho chính bản
thân mình. Còn giá trị xã hội là giá trị được đa số người trong
cộng đồng thừa nhận và cần đến nó như một nhu cầu thực sự.
Các giá trị xã hội là các giá trị căn bản của con người, là cơ sở
của giá trị cá nhân. Do đó, việc giáo dục giá trị cho cá nhân
phải dựa trên nền tảng của các giá trị xã hội.
Các giá trị, dù là giá trị cá nhân hay giá trị xã hội, bao
giờ cũng tồn tại và vận đọng trong mối liên hệ chặt chẽ với
các giá trị khác. Khi một tổ hợp các giá trị khác nhau được
cấu trúc theo những vị trí thứ bậc khác nhau, tạo thành một
chỉnh thể thống nhất, phù hợp với việc thực hiện các chức
năng đặc thù của xã hội thì được gọi là hệ giá trị (hệ thống giá
trị). Mỗi hệ giá trị đều có một cấu trúc riêng, trong đó các giá
trị được sắp xếp theo từng nhóm tương ứng với từng lĩnh vực
hoạt động của con người. Các nhóm giá trị này có vị trí độc
lập tương đối và có sự tương tác với nhau trong quá trình thực
hiện các chức năng xã hội.
Hệ thống giá trị là một hình thức của hệ thống xã hội nói
chung, của cấu trúc xã hội nói riêng, trong đó thể hiện các cấp
độ giá trị và mối liên hệ giữa các cấp độ giá trị. Nói đến cấp
độ giá trị là nói đến sự hệ thống hóa các giá trị theo tầng bậc
của cộng đồng. Cụ thể là, có cấp độ giá trị của quốc gia - dân
tộc, cấp độ giá trị của một giai cấp, của tộc người, của từng
nhóm xã hội, cấp độ giá trị của từng cá nhân. Giữa các cấp độ
giá trị có nhiều nét đồng nhất với nhau, nhưng cũng có những
điểm khác biệt thể hiện ở các giá trị đơn lẻ và đặc biệt là ở sự
xếp đặt thứ tự các giá trị trong tổng thể bảng giá trị.
Hệ giá trị luôn có tính lịch sử - cụ thể và chịu sự chế ước
bởi lịch sử. Trong cấu trúc của hệ giá trị có chứa đựng các
nhân tố của quá khứ và của hiện tại, có các giá trị đương đại
và các giá trị truyền thống, các giá trị của quốc tế, của khu
vực, của dân tộc, của giai cấp… Cấu trúc đó là kết quả của
quá trình hình thành, phát triển và chuyển hóa các giá trị dưới
tác động của các điều kiện lịch sử cụ thể. Do đó, trong mỗi
thời kỳ lịch sử, hệ giá trị lại có một cấu trúc tương ứng. Khi
điều kiện lịch sử biến đổi thì cấu trúc của hệ giá trị cũng biến
đổi theo, có những giá trị cũ bị mất đi và có những giá trị mới
được nảy sinh. Điều đó đã nói lên khả năng thích ứng cũng
như tính phát triển nội tại của hệ giá trị.
Hệ giá trị khác nhau thì trật tự sắp xếp các giá trị cũng
khác nhau. Việc sắp xếp các giá trị (hay nhóm giá trị) theo
một thứ tự ưu tiên nhất định được gọi là thang giá trị (hay
thước đo giá trị). Thang giá trị được hình thành và thay đổi
theo thời gian cùng với sự phát triển, biến đổi của xã hội loài
người, của dân tộc, của cộng đồng, của từng nhóm người và
của từng cá nhân. Thang giá trị không tồn tại tự thân mà vận
động và phát triển thông qua quá trình con người, với tư cách
là chủ thể của hoạt động và giao lưu, vận dụng vào thực tiễn
để nhận thức, đánh giá, lựa chọn và chấp nhận các giá trị cũng
như để sáng tạo ra các giá trị mới. Vì thế, nói đến thước đo
giá trị là nói đến mặt thực tiễn của thang giá trị.
Thang giá trị, thước đo giá trị được dùng để đánh giá về
các giá trị. Trên thực tế, mỗi cá nhân hay cộng đồng xã hội
đều có những thước đo giá trị riêng. Tuy nhiên, dù là thước đo
giá trị nào thì trong nó cũng có những giá trị giữ vị trí là giá
trị cốt lõi, chuẩn mực chung cho nhiều người, chiếm vị trí ở
bậc cao hoặc vị trí then chốt. Những giá trị đó được coi là giá
trị chuẩn hay chuẩn giá trị.
Chuẩn giá trị là một giá trị cụ thể, được cộng đồng xã
hội lựa chọn, đánh giá trong quá trình họ tham gia vào các
loại hình hoạt động và giao lưu. Khi giá trị được chọn lọc lên
đến cấp độ chung cho mọi người thì nó trở thành chuẩn giá trị
nằm trong hệ giá trị xã hội, giữ vị trí là giá trị cốt lõi, thực
hiện vai trò của một giá trị hạt nhân để điều chỉnh các giá trị
khác, đảm bảo cho mối quan hệ tương tác trong nhóm giá trị
cũng như trong cả hệ thống giá trị luôn đa dạng và ổn định.
Vai trò hạt nhân của chuẩn giá trị được thể hiện rõ nét nhát khi
nó nằm trong cấu trúc của thang giá trị. Ở đây, chuẩn giá trị
được lấy làm căn cứ, làm tiêu chuẩn để phân định các giá trị
vào từng tang bậc phù hợp. Bởi thế, chuẩn giá trị chính là
thang bậc chuẩn trong thước đo giá trị.
Chuẩn giá trị có vị trí độc lập tương đối. Tuy nhiên, trong
đời sống của mỗi cộng đồng xã hội, các giá trị chuẩn không
tách rời nhau, mà liên hệ mật thiết với nhau tạo thành hệ chuẩn
giá trị của cộng đồng. Hệ chuẩn giá trị giữ vị trí là nhân lõi của
hệ giá trị xã hội. Nội dung của hệ giá trị xã hội được biểu hiện
một cách cô đọng nhất ỏ hệ chuẩn giá trị. Vì vậy, qua hệ chuẩn
giá trị của một cộng đồng có thể xác định được những đặc trưng
cơ bản trong hệ giá trị của cộng đồng đó. Đây là vấn đề có ý
nghĩa phương pháp luận rất quan trọng đối với việc xây dựng
nội dung giáo dục giá trị cho học sinh, sinh viên hiện nay.
Giá trị luôn gắn liền với sự thỏa mãn những nhu cầu vật
chất và tinh thần của con người. Do đó, nó có vai trò hết sức
to lớn trong đời sống cá nhân và cộng đồng. Giá trị là nguồn
động lực thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới lý
tưởng chân, thiện, mỹ. Nó có tác dụng như những biểu tượng
định hướng cho hoạt động của con người, đồng thời cũng lại
như những chuẩn mực, quy tắc để điều chỉnh hành động của
họ. Mỗi nhóm xã hội và giai tầng xã hội đều có một hệ giá trị
đặc thù đóng vai trò điều chỉnh mọi hoạtđộng của cộng đồng.
Hệ giá trị này là hạt nhân tạo nên tâm thức chung của cộng
đồng, định hướng cho các thành viên công đồng cùng thống
nhất hành động theo mục tiêu chung mà xã hội đã đề ra.
Chính vì thế, xây dựng các hệ thống giá trị để định hướng cho
xã hội nói chung, cho từng lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói
riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Trong các nghiên cứu của tâm lý học, GTS được hiểu là
những giá trị thuộc về tinh thần. .
Theo nhà tâm lý học xã hội James Peoples và Garrick
Balley coi “GTS là các ý tưởng và các loại mục đích hay lối
sống của một cá thể, được chia sẻ trong một nhóm hay toàn
bộ xã hội, mong muốn hoặc coi là có ý nghĩa. Đó là chất
lượng cơ bản để đảm bảo mọi con đường sống, chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người” [17].
Trong quá trình con người tham gia các quan hệ xã hội,
các mối quan hệ giữa con người với con người, họ thể hiện
các phẩm chất, các nhu cầu, đặc điểm của cá nhân trong quá
trình đó được gọi là GTS
Theo tác giả Đỗ Ngọc Hà, “Giá trị cuộc sống (hay GTS)
là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý
nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. GTS trở thành động
lực để con người phấn đấu có được nó. GTS mang tính cá
nhân, không phải GTS của mọi người đều giống nhau. Có
người cho rằng: tiền bạc là trên hết, người khác lại cho rằng
tình yêu thương mới là điều quý giá nhất…” [6, tr.47].
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “GTS chính là giá trị
về bản thân và giá trị của cộng đồng”. [9, tr.25].
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm GTS
là:
GTS là những giá trị mà cá nhân cho là có ích, là quan
trọng, có ý nghĩa với cuộc sống, là động lực thúc đẩy hoạt
động sống, được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành vi
của mỗi người.
GTS của cá nhân là những điều có ích, có ý nghĩa đối
với cuộc sống của cá nhân, đó là các giá trị có ý nghĩa đối với
bản thân họ, phù hợp với bản thân và trở thành động cơ thúc
đẩycác hoạt động của cá nhân. Điều này cho thấy sự khác
nhau giữa giá trị nói chung và GTS nói riêng. GTS luôn gắn
với môi trường sống cụ thể, nền văn hóa mà cá nhân đang
sinh sống.
Trong mọi GTS đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố
thái độ và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự
vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá
của chủ thể. Vì vậy, GTS của mỗi cá nhân cho thấy phương
hướng, mục đích, lý tưởng sống của cá nhân đó.
Khái niệm giáo dục và giáo dục GTS
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ
đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục,
được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển
tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục.
Giáo dục GTS là quá trình tác động có mục đích có kế
hoạch đến đối tượng được giáo dục nhằm giúp cho họ tiếp
thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của xã hội để từ đó
họ có kiến thức về cuộc sống, có hành vi, suy nghĩ và ứng xử
đúng mực trong mỗi quan hệ xã hội và của bản thân, phát
triền và thích ứng tốt nhất với môi trường sống.
Đối với học sinh THCS, giáo dục GTS là hoạt động
nhằm trang bị những tri thức giúp học sinh hình thành những
GTS cần thiết phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con
người với môi trường sống. Thông qua hoạt động giáo dục
GTS, giúp học sinh hoàn thiện hơn với những giá trị như hợp
tác, đoàn kết, khiêm tốn, tự do,… từ đó phát triển được nhân
cách.
Khái niệm Cộng đồng và các lực lượng trong cộng
đồng
Theo Phạm Hồng Trung - Đại học Quốc gia Hà Nội
(Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2009) “Cộng đồng” là một
khái niệm đã và đang được sử dụng khá rộng rãi trên văn đàn
khoa học, trong nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã
hội học, tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu
phát triển v.v…Vì vậy, một yêu cầu khách quan đặt ra là phải
có những cách định nghĩa về khái niêm “cộng đồng” để xây
dựng được một định nghĩa vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa
học, vừa có tính công cụ hay tính “thao tác luận”
(functionalist) cao, làm cơ sở và là công cụ cho những nghiên
cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng.
Đây là một vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều ở nước ngoài,
song còn chưa được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam. Thuật
ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là
“cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo
hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó. Một số
quan điểm cho rằng:
Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người;
Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc bản thể riêng;
Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự
gắn kết với cộng đồng và với thành viên khác của cộng đồng;
Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn
kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất
về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng;
Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để
nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt
động và ứng xử chung của cộng đồng;
Theo tác giả Võ Tấn Quang: Cộng đồng là tập hợp người
có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và
quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý
chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành
viên của cộng đồng cảm thấy có sự cố gắn kết họ với cộng
đồng và với các thành viên khác của cộng đồng [11].
Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một
định nghĩa chung nhất như sau về “cộng đồng”: Cộng đồng là
một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc
vì cùng một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong
một khu vực xác định (Unesco).
LLCĐ là tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia
vào hoạt động giáo dục học sinh cùng với nhà trường. Cụ thể,
các lực lượng trong cộng đồng mà đầu tiên là cha mẹ học
sinh, các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp; các cơ quan,
ban ngành như y tế, công an, bảo vệ,..., các tổ chức đoàn thể
như: Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Khuyến học,
các tổ chức từ thiện..., các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ;
các tổ chức quốc tế, các cá nhân, đặc biệt là cá nhân có uy
tín,... Họ là những cá nhân, những lực lượng phối hợp với nhà
trường, với giáo viên để cùng giáo dục học sinh ở trong và
ngoài nhà trường.
- Khái niệm huy động LLCĐ trong giáo dục GTS cho
học sinh dân tộc thiểu số
Huy động sự tham gia của LLCĐ là sự tập hợp các lực
lượng xây dựng cộng đồng tầng lớp nhân dân có trách nhiệm
đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội
lành mạnh, tạo thuận lợi cho các hoạt động giáo dục. Huy
động các LLCĐ là mở rộng, thu hút các nguồn đầu tưnhân
lực, vật lực và tài lực trong xã hội cho giáo dục.
Huy động LLCĐ là quá trình huy động các cá nhân và
tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa
lí …) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút
và kéo các lực lượng xã hội ấy tham gia làm công tác giáo
dục, đồng thời thúc đẩy phát triển của sự nghiệp Giáo dục &
Đào tạo ở từng cơ sở và từng địa phương nhằm thực hiện
được mục tiêu xã hội hoá giáo dục. Huy động sự tham gia của
cộng đồng trong giáo dục GTS cho học sinh THCS chính là
huy động các LLCĐ cùng tham gia để nâng cao chất lượng
giáo dục GTS.
Huy động các LLCĐ trong GD GTS cho học sinh DTTS
là huy động toàn bộ xã hội làm giáo dục, động viên các tầng
lớp nhân dân tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm giúp học
sinh THCS dân tộc thiểu số tiếp thu, lĩnh hội được những giá
trị phổ quát của xã hội để từ đó họ có kiến thức về cuộc sống,
có hành vi, suy nghĩ và ứng xử đúng mực trong mỗi quan hệ
xã hội và của bản thân, phát triền và thích ứng tốt nhất với
môi trường sống.
Giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS dân tộc
thiểu số
Đặc điểm học sinh THCS dân tộc thiểu số