BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VĂN THÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS. TS. BÙI QUANG BÌNH
Đà Nẵng - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả
Nguyễn Văn Thân
MỤC LỤC
7
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................ 4
6. Kết cấu của đề tài .................................................................................... 4
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ................................................................. 5
CHƢƠNG 18ĐẤT ĐAI VÀ QLNN VỀ ĐẤT ĐAI TRONG NỀN KINH TẾ
............................................................................................................................. 8
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ SỰ CẦN THIẾT QLNN VỀ
ĐẤT ĐAI. ............................................................................................................ 8
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai ............................................. 8
1.1.2. Vai trò quản lý nhà nước về đất đai ................................................ 12
1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai ......................................... 13
1.1.4. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai ................................. 15
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI................................ 17
1.2.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó .................................................... 18
1.2.2. Công tác kỷ thuật và nghiệp vụ địa chính ....................................... 18
1.2.3. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ....................................... 19
1.2.4. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử
dụng đất ..................................................................................................... 20
1.2.5. Quản lý tài chính về đất đai ............................................................. 20
1.2.6. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất và quản lý các hoạt động dịch vụ công vế đất đai ...................... 20
1.2.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
quản lý và sử dụng đất ............................................................................... 22
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT
ĐAI .................................................................................................................... 23
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế ........................... 23
1.3.2. Tình hình sử dụng đất ...................................................................... 23
1.3.3. Đội ngũ cán bộ quản lý đất đai ........................................................ 23
1.3.4. Các công cụ quản lý NN về đất đai ................................................. 24
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI ............................................... 25
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ
ĐỒNG HỚI ........................................................................................................ 25
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ..................................... 25
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội ................................................................ 30
2.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI CỦA THÀNH
PHỐ ĐỒNG HỚI ............................................................................................... 40
2.2.1. Tình hình sử dụng đất ...................................................................... 40
2.2.2. Biến động đất đai giai đoạn 2008 - 2012 ........................................ 44
2.3. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI ............................... 46
2.3.1. Triển khai thi hành Luật Đất đai ..................................................... 46
2.3.2. Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính ....................................... 48
2.3.3. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị............ 50
2.3.4. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử
dụng đất ..................................................................................................... 55
2.3.5. Quản lý tài chính về đất đai ............................................................. 57
2.3.6. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất và Quản lý các hoạt động dịch vụ công vế đất đai ..................... 59
2.3.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về
đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
quản lý và sử dụng đất ............................................................................... 65
2.4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI Ở THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI .................................................... 70
2.4.1. Kết quả đạt được.............................................................................. 70
2.4.2. Hạn chế yếu kém ............................................................................. 71
2.4.3. Nguyên nhân tồn tại trong quản lý nhà nước về đất đai ................. 74
2.4.4. Những bức xúc cần phải giải quyết trong thời gian đến ................. 77
CHƢƠNG 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI ĐẾN
NĂM 2020 ......................................................................................................... 78
3.1. DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT CỦA THÀNH
PHỐ ĐỒNG HỚI ĐẾN NĂM 2020 .................................................................. 78
3.1.1. Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Đồng Hới đến năm 2020 ........................................................................... 78
3.1.2. Tiềm năng đất đai ............................................................................ 84
3.1.3. Dự báo nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 .................................... 88
3.1.4. Thách thức và cơ hội trong quản lý nhà nước về đất đai của thành
phố Đồng Hới ............................................................................................ 91
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA
CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI.................................................... 94
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện công cụ và phương pháp quản lý nhà
nước về đất đai của chính quyền thành phố .............................................. 94
3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai
của thành phố Đồng Hới .......................................................................... 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 116
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO).
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
GPMB
Giải phóng mặt bằng
HĐND
Hội đồng nhân dân
HCM
Hồ Chí Minh
KCN
Khu công nghiệp
KT-XH
Kinh tế - xã hội
QLĐĐ
Quản lý đất đai
QLNN
Quản lý nhà nước
SDĐ
Sử dụng đất
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
2.1
Một số đặc trưng khí hậu thành phố Đồng Hới
27
2.2
Diện tích rừng thành phố Đồng Hới
29
2.3
Dân số và lao động
31
2.4
Biến động đất nông nghiệp từ năm 2008 – 2012
44
2.5
Biến động đất phi nông nghiệp từ năm 2008 – 2012
45
2.6
Biến động đất chưa sử dụng từ năm 2008 - 2012
46
2.7
Diện tích đã đo đạc lập bản đồ địa chính theo các tỷ lệ
49
2.8
Kết quả giao đất làm nhà ở từ năm 2008 - 2012
56
2.9
Kết quả giao đất, cho thuê đất từ năm 2008-20012
57
2.10
Nguồn thu từ đất từ năm 2008-2012
58
2.11
Hồ sơ đăng ký thực hiện các quyền của người sử dụng đất
60
2.12
Số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất từ 2008 - 2012
62
2.13
Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo từ 2008-2012
68
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
2.1
Cơ cấu đất tự nhiên thành phố Đồng Hới năm 2012
28
2.2
Cơ cấu kinh tế
36
2.3
Cơ cấu đất nông nghiệp
41
2.4
Cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp
41
2.5
Cơ cấu đất phi nông nghiệp
42
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra những yêu cầu to lớn đối
với công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế -xã hội (KTXH), trong đó quản lý nhà nước (QLNN) về đất đai là một nội dung quan
trọng nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất của
các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Đồng Hới là thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh Quảng Bình, là trung tâm
chính trị - hành chính, là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại của tỉnh.
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Bình, Đồng Hới có vị trí
quan trọng hàng đầu, không chỉ đóng góp tiềm lực kinh tế cho tỉnh, Đồng Hới
còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa mang lại đời sống tinh thần cho nhân
dân. Mục tiêu phát triển của Đồng Hới đến năm 2020 trở thành đô thị loại 2
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước, Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế xã hội dãi ven biển Miền Trung và Quy hoạch phát triển
kinh tế xã hộ vùng Bắc Trung Bộ; một trung tâm dịch vụ, du lịch, công
nghiệp, thương mại, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Bình. Chính vì vậy, vấn đề quản lý, sử dụng đất có hiệu quả trong quá
trình đô thị hoá ở thành phố Đồng Hới không chỉ có ý nghĩa về mặt phát triển
kinh tế, mà còn là mục tiêu, là động lực xây dựng thành phố phát triển đồng
bộ về hạ tầng kỹ thuật, xã hội, đô thị, xây dựng và phát triển thành phố Đồng
Hới thành đô thị hiện đại, bền vững, có bản sắc riêng nhằm thực hiện tốt vai
trò đô thị động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Đất đai là nguồn nội lực quan trọng của quá trình đô thị hóa, không chỉ để
đáp ứng nhu cầu về mặt bằng cho sản xuất, mà còn là hàng hoá đặc biệt để khai
thác nhằm tạo ra nguồn vốn đầu tư xây dựng và phát triển đô thị. Kể từ sau khi
có Luật Đất đai năm 1993, tốc độ đô thị hóa ở thành phố Đồng Hới diễn ra ngày
2
càng nhanh. Do ảnh hưởng của đô thị hóa, đất đai ở Đồng Hới biến động cả về
mục đích và đối tượng sử dụng. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp
dần, trong khi đó diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên,
thực tế ở thành phố Đồng Hới, vấn đề khai thác nguồn lực đất đai chưa mang lại
hiệu quả cao, vai trò của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất với chức năng là
đại diện cho chủ sở hữu toàn dân về đất đai chưa thể hiện rõ, hiệu quả quản lý
thấp, có nơi còn để xảy ra vi phạm đất đai.
Để đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình phát triển
kinh - xã hội và đô thị hóa của thành phố Đồng Hới giai đoạn từ 2008 đến năm
2012, cần nghiên cứu thực trạng của nó để thấy được những kết quả đạt được,
những mặt còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai của thành phố,
từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp nhằm khai thác sử dụng nguồn
lực đất đai có hiệu quả hơn. Đó là những nội dung cần được nghiên cứu và đây
cũng là những vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay. Nhằm góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản
lý nhà nước về đất đai tại Thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà
nước về đất đai ở một địa phương cấp huyện đang trong quá trình đô thị hóa.
- Nhận diện được các vấn đề về quản lý nhà nước về đất đai cùng với
các nguyên nhân của nó ở thành phố Đồng Hới.
- Trả lời được câu hỏi “phải làm thế nào để công tác quản lý nhà nước về
đất đai tốt hơn góp phần vào sự phát triển thành phố Đồng Hới đến năm 2020”.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn thành phố Đồng Hới liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành. Trong phạm
vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đất đai của
chính quyền thành phố Đồng Hới.
- Phạm vi nghiên cứu:
3
+ Về không gian: hoạt động quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
thành phố Đồng Hới.
+ Chủ thể quản lý: chính quyền thành phố Đồng Hới.
+ Thời gian: từ năm 2008 đến năm 2012.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp như: Phân tích thống kê, chi
tiết hóa, so sánh, đánh giá, tổng hợp, khái quát, theo nhiều cách riêng rẽ tới kết
hợp với nhau. Chúng được sử dụng trong việc khảo cứu, phân tích, đánh giá các
nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách đất đai. Trên cơ sở đó, cùng
với tình hình thực tế và đặc điểm của thành phố Đồng Hới, tác giả lựa chọn các
nội dung và chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai ở đây.
Các phương pháp này còn được dùng trong đánh giá tình hình sử dụng đất
đai và thực thi chính sách đất đai ở thành phố Đồng Hới và chỉ ra các vấn đề tồn
tại cùng với các nguyên nhân, từ đó hình thành các giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Các
phương pháp thu thập tài liệu, thông tin, được sử dụng trong nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó.
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các
sở, ban, ngành trong tỉnh và của thành phố Đồng Hới.
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như:
Báo chí, internet.
- Kết hợp các phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để có dữ
liệu nghiên cứu, phân tích đầy đủ.
4.2. Cách tiếp cận
- Tiếp cận vĩ mô: phân tích chính sách đất đai của nhà nước.
- Tiếp cận hệ thống:
+ Mối tương quan giữa kinh tế- xã hội- đất đai.
4
+ Chính sách sử dụng đất trong tổng thể chính sách kinh tế- xã hội của
thành phố Đồng Hới.
+ Mối tương quan giữa chính sách quản lý đất đai giữa thành phố và tỉnh.
- Tiếp cận lịch sử: so sánh những giai đoạn khác nhau trong vận dụng
chính sách.
4.3. Nguồn thông tin dữ liệu, công cụ phân tích chính
- Chủ yếu sử dụng số liệu của Niêm giám thống kê của Tỉnh và thành
phố Đồng Hới từ năm 2000 đến nay, các báo cáo tổng kết của Sở Tài nguyên
và Môi trường Quảng Bình và của UBND thành phố Đồng Hới.
- Ý kiến của chuyên gia.
- Công cụ chính: sử dụng chương trình xử lý số liệu bằng excel.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: hệ thống hoá những đặc trưng cơ bản QLNN về đất đai,
làm rõ các quan hệ trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Đồng
Hới. Phân tích và luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn vai trò QLNN về đất
đai của chính quyền thành phố, xây dựng và đánh giá QLNN về đất đai của
chính quyền thành phố bằng hệ thống chỉ tiêu đánh giá.
Về mặt thực tiễn: ngoài những đề xuất, kiến nghị, biện pháp quản lý
thích hợp nhằm hoàn thiện QLNN về đất đai, góp phần thúc đẩy phát triển
KT- XH trên địa bàn Thành phố Đồng Hới. Luận văn còn đưa ra những lý
luận và kiến nghị, đề xuất có thể sử dụng chung cho QLNN về đất đai của
chính quyền thành phố Đồng Hới cũng như làm tư liệu tham khảo.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có ba chương:
Chương 1. Đất đai và Quản lý nhà nước về đất đai trong nền kinh tế
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành
phố Đồng Hới
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về đất đai ở thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình
5
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
QLNN về đất đai, trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu,
có giá trị khoa học cao như: “Những cải cách chính sách đất đai” (Land policy
Reforms) (2003) [27] và “Sustainable Land Management” (2004) [28] của
Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứu đưa ra chính sách quản lý đất đai
(QLĐĐ), cảnh báo về những quy định, phương thức quản lý và SDĐ của
chính quyền địa phương có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát
triển đô thị, cũng như sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch
định chính sách có thể làm thay đổi những tác động được mong đợi trong
quản lý và SDĐ như thế nào? “Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá
giảm đói nghèo” (Land policies for growth and poperty reduction) (2004)
[29], của Ngân hàng thế giới là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa
chính sách QLNN về đất đai, khuynh hướng SDĐ ảnh hưởng đến phát triển
và nghèo đói của các nước đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm
xóa, giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Ngoài ra còn một
số công trình khác nhưng mức độ nghiên cứu hạn chế hơn những công trình
đã đề cập ở trên. Do có sự khác biệt về văn hoá và xã hội, cũng như trình độ
phát triển kinh tế, khoa học, những quan niệm khác nhau về đất đai, sở hữu
đất đai. Nên hệ thống QLNN về đất đai giữa các quốc gia có những nét khác
biệt. Nhưng những nghiên cứu này có giá trị khoa học cao và là tư liệu quý để
tham khảo, học tập kinh nghiệm QLNN về đất đai cho Việt Nam. Có thể tóm
tắt một số kinh nghiệm chính được các nhà nghiên cứu đưa ra như sau:
+ Người sử dụng đất sẽ đầu tư vào đất đai gia tăng nếu các quyền của
họ về đất đai được chia nhỏ và tăng lên, cũng như tính “linh động” của đất đai
trong thị trường bất động sản tăng;
+ Việc cải thiện hệ thống thông tin cho đất đai là việc phải làm thường
xuyên, ngay cả các quốc gia có thị trường đất đai phát triển cũng phải trả giá
cho việc thiếu thông tin;
6
+ Bất động sản hiện đang có ảnh hưởng lớn nhất đến chính sách tiền tệ,
tuy nhiên nhiều ngân hàng Trung ương phải thừa nhận rằng mình không hề
biết điều gì xẩy ra;
+ Thị trường đất đai đòi hỏi phải được kiểm tra kiểm soát thường
xuyên, chặt chẽ để thậm chí chỉ là bắt đầu hiểu được các quá trình vận hành
của nó; mô hình xây dựng thị trường bất động sản phức hợp của Wallece và
Williamson đưa ra năm 2005 là: đăng ký đất đai, định giá đất đai, năng lực
nhận thức (cam kết, sự tham gia, minh bạch, tính sáng tạo, tư duy trừu tượng)
và các dịch vụ tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN. Sự phối hợp
giữa Nhà nước và tư nhân trong QLĐĐ cần phải nhịp nhàng.
Các chính sách quản lý đất đai, xây dựng phát triển công trình, đô thị,
tín dụng tài chính đều được phát huy nhằm tối đa việc phát triển thị trường bất
động sản. Nhà nước chỉ tác động vào các hoạt động mang tính vĩ mô, còn các
hoạt động kinh doanh, đầu tư khác do khu vực tư nhân đảm nhiệm. Hệ thống
thông tin đất đai hiện đại, tin cậy và thuận lợi cho người quản lý và sử dụng.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tiến hành có sự tham gia phối
hợp của nhiều phía. Cần có sự phối hợp của các cơ quan tư pháp như: Tòa án,
viện kiểm sát trong quản lý đất đai, trong kiểm tra thực thi luật, các quyết
định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phương…
Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đối với QLNN về đất đai
ở Việt Nam, trước tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu ở cấp Luận án
Tiến sỹ như: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) "Chiến lược
QLĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010" nghiên cứu chủ yếu về công
tác lập và quản lý quy hoạch SDĐ của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay và hướng phát triển quản lý và SDĐ cho những năm tiếp theo
[19]. Ngoài ra còn các bài báo nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí như:
Đinh Sỹ Dũng (2008), Tài chính đất đai: Một số vấn đề cần quan tâm, Tạp chí
Nguyên cứu lập pháp số 21/2008 [7]; Đỗ Văn Thanh (2006), Quy hoạch sử
7
dụng đất đai theo hướng bền vững, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tháng 3/2006 [25]; Lê Thị Anh (2008), Sử dụng tiết kiệm đất đai với
phát triển bền vững, tạp chí Đô Thị & Phát triển số 70 [1]; Lê Văn Sự (2007),
Tiếp tục hoàn thiện khung thể chế đất đai đối với doanh nghiệp ở Việt Nam,
Tạp chí Tài nguyên – Môi trường [23].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu QLNN về đất đai của các nhà
khoa học trong và ngoài nước đối với QLNN về đất đai của Việt Nam đã góp
phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cũng như thực tiễn quản lý đất đai ở Việt
Nam. Các nghiên cứu, bài viết đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong
QLNN về đất đai, trong đó có sự yếu kém về tổ chức thực hiện của chính
quyền quận (huyện, thành phố trực thuộc tỉnh).
Với nền kinh tế phát triển như hiện nay, nền kinh tế phát triển theo kinh tế
thị trường, cũng từ đây nhưng bất cập trong công tác quản lý đất đai làm cản trở
đến quá trình phát triển đất nước. Những bất cập đó cũng làm lúng túng các cấp
chính quyền địa phương trong việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt
là chính quyền cấp quận (huyện, thành phố trực thuộc tỉnh).
Trước những đòi hỏi phát triển KT- XH, đất đai ngày càng chiếm vị trí
quan trọng trong cuộc sống. Do vậy, liên tục đổi mới và hoàn thiện QLNN về
đất đai, nhất là của chính quyền địa phương là xu thế tất yếu trong quản lý.
Quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan quản lý không thể có
hiệu quả, hiệu lực và tác động tốt đến đời sống, KT- XH nếu như: (i) quản lý
nhà nước về đất đai của chính quyền cấp quận (huyện, thành phố trực thuộc
Tỉnh) không được nghiên cứu và tổ chức khoa học; (ii) vai trò của người dân
trong QLĐĐ không được xem xét, đánh giá và đặt đúng vị trí; (iii) những
bài học trong quá trình quản lý không được nghiên cứu, đánh giá một cách
thường xuyên, cụ thể, từ đó, có thể đưa ra những biện pháp điều chỉnh bổ
sung kịp thời.
8
CHƢƠNG 1
ĐẤT ĐAI VÀ QLNN VỀ ĐẤT ĐAI TRONG NỀN KINH TẾ
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ SỰ CẦN THIẾT
QLNN VỀ ĐẤT ĐAI.
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về đất đai
- Khái niệm đất: Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có
cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động
thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá
bằng số lượng diện tích (m2, ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất
đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có
ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa
đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ
văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt
động của con người.
Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc
phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí
cố định trong không gian.
- Sử dụng đất: Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của
loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “ những
hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài
nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”.
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn,
nước, phân hoá học ...), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ
mùa vụ ...) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động
9
môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử
dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng
đất khác.
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi
phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi
các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy có thể
khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất.
+ Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như
diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng..., cần chú ý đến việc thích ứng với
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố
bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân
số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất
đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất
cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
+ Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do
đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con
người. Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất
không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội.
- Quản lý đất đai:
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến
việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất
đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc thu hồi đất, giao
đất, cho thuê đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc thu tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất và các khoản thuế về đất,…) và giải quyết những tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo,… liên quan đến quyền sử dụng đất.
Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa
10
đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu
giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử
dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản.
Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm:
các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, định giá đất, giám
sát và quản lý việc sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý.
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất
đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai
và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước
xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước;
tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của
lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức
địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp
về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế.
Như vậy, Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của
cơ quan Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý
tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử
dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, trong việc kiểm tra, giám sát quá
trình sử dụng đất đai. Mục tiêu cao nhất của quản lý nhà nước về đất đai là
bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo sự quản lý thống nhất của
Nhà nước, đảm bảo cho việc khai thác sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, bền vững
và ngày càng có hiệu quả cao.
Muốn đạt được mục tiêu quản lý, Nhà nước cần phải xây dựng hệ
thống cơ quan quản lý đất đai có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có
hiệu quả trách nhiệm được Nhà nước giao; đồng thời, ban hành các chính
sách, chế độ, thể chế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước đáp
ứng được nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Điều này thể hiện chức năng
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quản lý mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội
trong đó có quản lý đất đai. Mục đích cuối cùng của Nhà nước và người sử
11
dụng đất là làm sao khai thác, sử dụng đất có hiệu quả nhất để phục vụ cho
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh- quốc phòng của đất nước. Vì
vậy, đất đai cần phải được thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật.
Cho đến nay trên thế giới có hai hệ thống hồ sơ quản lý đất đai: hệ thống
địa bạ (Deed system) và hệ thống bằng khoán (Title system). Hệ thống địa bạ đã
được áp dụng từ rất lâu đời, hệ thống hồ sơ gồm: một là các sổ sách địa chính
mô tả thửa đất theo kiểu sơ đồ do chính quyền quản lý và hai là các giấy tờ pháp
lý dựa trên cơ sở các khế ước, văn tự được pháp luật thừa nhận. Khi các mối
quan hệ đất đai trở nên phức tạp hơn người ta sử dụng một hệ thống hồ sơ hiện
đại hơn gọi là hệ thống bằng khoán. Hệ thống này bao gồm: một là bản đồ địa
chính, hai là các hồ sơ đăng ký đất đai và ba là giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn hệ thống bằng khóan cho phép chính
quyền quản lý cụ thể hơn, chặt chẽ hơn và thống nhất hơn. Mỗi thửa đất trong cả
nước có số hiệu riêng không trùng nhau, kích thước thửa đất rõ ràng, vị trí cụ
thể, chứng lý thống nhất. Các triều đại phong kiến ở nước ta chỉ sử dụng hệ
thống địa bạ. Trong thời gian đô hộ nước ta, thực dân Pháp đã sử dụng cả hai hệ
thống, hệ thống địa bạ được sử dụng cho đất thuộc khu vực nông thôn, còn đất
đô thị được chuyển dần từ hệ thống địa bạ sang hệ thống bằng khoán. Từ khi
Luật Đai đai 1988 được ban hành cho đến nay nước ta đã lựa chọn hệ thống
bằng khoán thống nhất để quản lý toàn bộ đất đai cả nước. Đây là toàn bộ công
việc quản lý đất đai theo quan niệm cũ. Nói cách khác quan niệm quản lý đất đai
theo kiểu cũ chỉ quan tâm tới việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong phạm vi
dân sự và hành chính, chưa chú ý tới vai trò của đất đai trong bức tranh hoạt
động vĩ mô của nền kinh tế- xã hội.
Khi kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn công nghiệp, con người đã ý
thức được rõ hơn ý nghĩa của quan hệ đất đai ở tầm vĩ mô, từ đó xuất hiện
khái niệm “quản lý đất đai hiện đại”. Quản lý đất đai hiện đại bao gồm các nội
dung sau:
- Điều tra, khảo sát để nắm vững được toàn bộ số lượng và chất lượng
12
của tài nguyên cả nước;
- Thành lập hệ thống hồ sơ địa chính để quản lý đến từng thửa đất về
mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội và pháp lý làm cơ sở để giải quyết mối quan hệ
dân sự và hành chính về đất đai và xây dựng hiện trạng sử dụng đất chính xác;
- Xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai, các chính sách đất đai để điều
chỉnh các mối quan hệ đất đai từ từng thửa đất (vi mô) tới toàn bộ tài nguyên
đất (vĩ mô);
- Xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ, theo
ngành và cả nước để thiết lập mặt bằng, cơ cấu sử dụng đất có lợi cho ổn định
chính trị, công bằng xã hội và phát triển kinh tế, trong đó có quyền lợi của
từng người sử dụng đất;
Vì vậy, phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội có nguồn gốc từ quan
hệ đất đai trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất để hoạch định và điều chỉnh các
chính sách và pháp luật về đất đai.
1.1.2. Vai trò quản lý nhà nƣớc về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội và có những đặc trưng riêng, đất đai được Nhà nước thống
nhất quản lý nhằm:
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Đất đai
được sử dụng vào tất cả các hoạt động của con người, tuy có hạn về mặt diện
tích nhưng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý.
Thông qua chiến lược sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, Nhà nước điều tiết để các chủ sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng
quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra;
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm
được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất. Trên cơ sở đó, có những biện
pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất;
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra
một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc
13
bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đồng thời cũng bảo đảm
lợi ích của Nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất;
- Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà
nước nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng
đất. Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết
những sai phạm;
- Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp Nhà nước ban hành các
chính sách, quy định, thể chế; đồng thời, bổ sung, điều chỉnh những chính
sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp với thực tế và góp
phần đưa pháp luật vào cuộc sống.
1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai gồm các nguyên tắc chủ yếu như:
a. Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, chính
quyền thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai
trên địa bàn được quy định bởi pháp luật. Quản lý nhà nước về đất đai của
chính quyền nhằm thực hiện việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các
tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế; hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài. Nhà nước tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể phát huy tối đa các
quyền đối với đất đai. Có như vậy người sử dụng đất mới yên tâm, chủ động
đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ
vào các việc bảo vệ cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất; khai hoang, phục
hóa, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử
dụng; đồng thời, phát triển hạ tầng để làm tăng gái trị đất.
b. Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ
Cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện)
chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp (UBND tỉnh
và UBND huyện, thành phố) trong quản lý nhà nước về đất đai; Chính quyền
14
cấp tỉnh thực hiện việc giao đất, cho thuê đất cũng như thu hồi đất của của tổ
chức và có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp, kiểm tra chặt chẽ trong việc thực hiện
nhiệm vụ của cấp huyện; chính quyền cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, giám
sát, hỗ trợ chính quyền cấp xã (phường, thị trấn) và thực hiện quyền giao đất,
cho thuê đất và thu hồi đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn quản lý.
c. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền phải tuân thủ quy định của
pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai, bằng việc tạo điều
kiện để người dân có thể tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nước của
chính quyền trực tiếp thông qua tổ chức Hội đồng nhân dân và các tổ chức chính
trị- xã hội cùng cấp.
d. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng
lãnh thổ
Chính quyền các cấp thống nhất quản lý nhà nước về đất đai theo địa giới
hành chính, điều này có nghĩa là có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và
quản lý theo chuyên ngành và ngay cả các cơ quan trung ương đóng tại địa bàn
nào thì phải chịu sự quản lý của chính quyền nơi đó. Chính quyền cơ sở có trách
nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trung ương hoạt động; đồng thời,
có quyền kiểm tra, giám sát các cơ quan này trong việc thực hiện pháp luật về
đất đai, cũng như các quy định khác của Nhà nước, có quyền xử lý hoặc kiến
nghị xử lý nếu vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành.
e. Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử
Quản lý nhà nước của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy
định của luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý
đất đai qua các thời kỳ của cách mạng được khẳng định bởi việc “Nhà nước
không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho
người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam
Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều này khẳng
15
định lập trường trước sau như một của Nhà nước đối với đất đai, tuy nhiên
những vấn đề về lịch sử và những yếu kém trong quản lý đất đai trước đây cũng
để lại không ít khó khăn, do đó quản lý nhà nước về đất đai hiện nay cần được
xem xét tháo gỡ một cách khoa học.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai phải đảm bảo nguyên tắc chủ
đạo là: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp
luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho
các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài. Tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết của pháp luật”.
1.1.4. Sự cần thiết phải quản lý nhà nƣớc về đất đai
Hoạt động của thị trường luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực, do đó
cần có sự quản lý, can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước bằng các công cụ
và chính sách thích hợp nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những
tiêu cực của thị trường.
Việc phát triển thị trường bất động sản là một thành phần nhạy cảm
nhất trong quản lý nhà nước về đất đai. Ngay cả đối với những nước được coi
là có nền kinh tế thị trường tự do phát triển, thì vai trò quản lý nhà nước đối
với phân bổ và sử dụng đất cũng rất lớn. Vì vậy, quản lý nhà nước về đất đai
là nhằm đảm bảo 3 mục đích cơ bản: (i) đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả; (ii)
đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng; (iii) đảm bảo nguồn thu
cho ngân sách nhà nước.
a. Đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả
Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, không tái tạo
được. Do vậy, đất đai cần được sử dụng một cách khoa học, tiết kiệm, nhằm
mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi
người. Sự can thiệp của chính quyền nhằm phát huy những tích cực và hạn
chế tiêu cực. Trong thực tế, xảy ra nhiều trường hợp mâu thuẫn về lợi ích
thường được gọi là hiệu ứng ngoại lai, mà tự bản thân thị trường không giải
quyết được. Ví dụ, như việc một nhà máy chế biến thủy sản gây ô nhiễm nằm
16
trong khu dân cư, sẽ gây tác động xấu cho cộng đồng dân cư ở đó. Ngược lại,
những dự án xây dựng các khu công viên cây xanh mang lại lợi ích xã hội,
nhưng lại không hấp dẫn với các nhà đầu tư nên cần phải được chính quyền
hỗ trợ hoặc có chính sách ưu đãi. Hoặc việc đầu tư xây dựng công trình trên
đất của tư nhân, nhưng không tuân thủ quy hoạch về chiều cao, mật độ xây
dựng, đem lại lợi ích cho cá nhân về diện tích nhưng lại ảnh hưởng tới cảnh
quan chung của khu vực. Chính quyền có biện pháp can thiệp buộc họ phải
chấp hành quy định về quy hoạch nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng. Hiệu quả
quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền còn nhằm giảm thiểu chi phí của
các yếu tố đầu vào và gia tăng kết quả đạt được. Điều này đòi hỏi phải chú ý
đến chất lượng công việc hàng ngày, đảm bảo các mục tiêu quản lý nhà nước
về đất đai được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo và phân định rõ ràng về
trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân.
b. Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng đất
Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị
trường là tối đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ
điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng. Ngoài ra, chính sách đất đai của
Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc
sử dụng đất được dễ dàng. Sự công bằng được thể hiện ở việc chính quyền
đảm bảo các quyền của người sử dụng đất được Nhà nước cho phép, mọi
người đều có cơ hội và bình đẳng trước pháp luật về đất đai. Chính quyền
thay mặt cho Nhà nước quản lý đất đai và giao đất ổn định, lâu dài cho hộ gia
đình, cá nhân; khuyến khích họ khai thác và sử dụng đất theo hướng có hiệu
quả cũng như xử lý nếu sai phạm. Khi cần thu hồi đất cho các mục đích phát
triển kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,
chính quyền thay mặt Nhà nước thực hiện những chính sách đền bù thoả
đáng. Quyền lợi của người bị thu hồi đất được bảo đảm bù đắp những thiệt
hại bị mất đi vì lợi ích chung, giúp cho người sử dụng đất yên tâm. Tuy nhiên,
chính sách đất đai của Nhà nước cũng nên có chính sách ưu đãi đối với người
17
nghèo, nhóm người dễ bị tổn thương như: dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em,
người dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
c. Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Nhà nước có chính sách phát huy tạo nguồn vốn từ đất đai thông qua
việc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các thuế và điều tiết hợp lý các
khoản thu - chi ngân sách. Phần giá trị tăng thêm của đất có được do quy
hoạch, do Nhà nước đầu tư làm tăng giá trị đất cần phải có cơ chế điều tiết
hợp lý thu nộp vào ngân sách. Chính quyền cơ sở có trách nhiệm thực hiện
các khoản thu từ đất cho ngân sách Nhà nước.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan
Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sử
dụng đất đai, trong việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ
trương của Nhà nước, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai.
Mục tiêu cao nhất của quản lý nhà nước về đất đai là bảo vệ chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai, đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đảm bảo cho việc
khai thác sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao.
Muốn đạt được mục tiêu quản lý, Nhà nước cần phải xây dựng hệ
thống cơ quan quản lý đất đai có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có
hiệu quả trách nhiệm được Nhà nước phân công; đồng thời, ban hành các
chính sách, chế độ, thể chế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
đáp ứng được nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Điều này thể hiện chức
năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quản lý mọi mặt đời sống kinh tế, xã
hội trong đó có quản lý đất đai. Mục đích cuối cùng của Nhà nước và người
sử dụng đất là làm sao khai thác tốt nhất tiềm năng của đất đai để phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, đất đai cần phải
được thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật.
Quản lý nhà nước về đất đai bao gồm có 13 nội dung được quy định tại
Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 và áp dụng cho các cấp chính quyền từ trung