BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HỮU SƠN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO,
SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Ở TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HỮU SƠN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO,
SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Ở TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. Hồ Tấn Sáng
Đà Nẵng - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Hữu Sơn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................... 3
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ......................................... 5
5. Bố cục đề tài........................................................................................ 5
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ............................................................ 5
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ ........................ 11
1.1. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ CÁN BỘ CỦA HỒ CHÍ
MINH .............................................................................................................. 11
1.1.1. Quá trình hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước, cứu dân của
Hồ Chí Minh- tiền đề thực tiễn ...................................................................... 11
1.1.2. Các lý thuyết về vai trò của giới “tinh hoa” trong lịch sử tư tưởng
chính trị ........................................................................................................... 16
1.1.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin - thế giới quan, phương pháp luận của tư
tưởng Hồ Chí Minh ......................................................................................... 19
1.1.4. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí
Minh ................................................................................................................ 21
1.2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ ....................... 22
1.2.1. Cán bộ là cái gốc của sự nghiệp cách mạng ............................ 23
1.2.2. Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là đấy tớ của nhân dân ..... 25
1.2.3. Công tác cán bộ là trách nhiệm Đảng, Nhà nước và của cả hệ
thống chính trị ................................................................................................. 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG NAM .............................................. 36
2.1. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, SỬ
DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG NAM ........................... 36
2.2. CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH
QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN VỪA QUA ...................................................... 41
2.2.1. Sự nhận thức và những quan điểm định hướng công tác đào tạo
đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.............. 41
2.2.2. Triển khai thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ công
chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ................................................................. 43
2.2.3. Những kết quả đạt được của công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ
công chức thời gian qua .................................................................................. 47
2.2.4. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân.................................... 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................... 57
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC CÁN BỘ, CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY........................................... 57
3.1.1. Định hướng chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam................ 57
3.1.2. Định hướng của tỉnh Quảng Nam hiện nay ................................ 65
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY .................................... 73
3.2.1. Tiếp tục chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức- một căn cứ để
đào tạo, bố trí, sử dụng.................................................................................... 73
3.2.2. Công tác đào tạo ......................................................................... 78
3.2.3. Công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức.
......................................................................................................................... 81
3.2.4. Bồi dưỡng, kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo
các cấp và cán bộ chuyên trách làm công tác tổ chức cán bộ......................... 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................ 89
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những ngày chuẩn bị cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Người
khẳng định: Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể, cán bộ là gốc của mọi công việc
và cán bộ quyết định tất cả. Vì lẽ đó, vấn đề cán bộ giữ một vị trí cực kỳ trọng
yếu và là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong sự
nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nói chung.
Cán bộ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà
nước, là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng. Sức chiến đấu và năng
lực lãnh đạo của Đảng cao hay thấp, việc tổ chức mọi đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước đạt hiệu quả nhiều hay ít, điều đó tuỳ thuộc rất lớn ở
số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, ở trình độ tư tưởng, chính trị và
năng lực công tác của họ. Cán bộ là cái dây truyền của bộ máy. Nếu dây
truyền không tốt, không chạy thì động cơ dù chất lượng cao, thì toàn bộ bộ
máy vẫn bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ, của
đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thực hiện được.
Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, ở Việt Nam đội ngũ cán bộ,
công chức có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị nói chung và hệ
thống hành chính nói riêng. Nếu như nói “nhà nước” là trụ cột của hệ thống
chính trị, thì đội ngũ “công chức” là lực lượng quan trọng vận hành cỗ máy
hành chính nhà nước, giúp guồng máy hành chính hoạt động thông suốt từ
Trung ương đến địa phương. Nói cách khác, đội ngũ cán bộ, công chức được
coi như “xương sống” của chính quyền, của chế độ, có vai trò hết sức quan
trọng trong giai đoạn mở cửa, hội nhập, phát triển đất nước. Vì những lẽ trên,
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được xem như một mắt
2
khâu then chốt trong mục tiêu đột phá về nguồn nhân lực hiện nay. Trên tinh
thần đó, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc
phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ" [14, tr.261].
Quảng Nam là tỉnh mới tái lập (tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng)
năm 1997. Là một tỉnh nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại chịu tác
động nhất định của những sai lầm chủ quan trong định hướng, đầu tư phát
triển thời kỳ tập trung quan liêu và những bất cập trong công cuộc tái thiết
những năm từ khi tái lập đến nay, nên sự phát triển nói chung, phát triển bền
vững nói riêng của tỉnh đang đặt ra hàng loạt các vấn đề bức xúc cả về hoạch
định chính sách lẫn tổ chức thực hiện chính sách. Đâu là mắt khâu quyết định
bảo đảm cho công cuộc xây dựng và phát triển của tỉnh ngày càng bền vững ?
Một hướng nghiên cứu góp phần trả lời câu hỏi đó, phải chăng có thể
tìm hiểu và nghiên cứu tư tưởng và cách làm của Hồ Chí Minh về cán bộ và
công tác cán bộ. Bởi lẽ, trong xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và toàn
cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao, chất
lượng, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp, không chỉ là điều kiện để
rút ngắn khoảng cách tụt hậu mà còn là động lực để tăng trưởng nhanh, phát
triển bền vững. Nói cách khác, một trong những mắt khâu then chốt hiện nay
ở Việt Nam chính là xây dựng, tạo lập một nguồn nhân lực chất lượng cao,
thể hiện trước hết ở đội ngũ cán bộ, công chức.
Hiểu rõ tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một trong những nội dung có ý nghĩa quyết định trong công tác xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong thời gian qua, Tỉnh ủy,
Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã và đang triển khai thực hiện thông qua
nhiều chủ trương, giải pháp. Trong đó đáng chú ý là Nghị quyết số 04/NQ/TU
3
về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Đề án
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015, định hướng đến
năm 2020 theo Quyết định 2606/ QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2011 của
Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Luận giải cơ sở khoa học và đánh giá kết quả của công tác cán bộ và
hoạt động đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh, để từ đó có
thể tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của mắt khâu đột
phá này, thiết nghĩ là yêu cầu vừa cấp thiết, vừa cơ bản.
Có thể xem đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và sự vận dụng
trong sự nghiệp đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng
Nam” là một đóng góp của tác giả vào mảng vấn đề có tính lý luận và thực
tiễn bức thiết nói trên.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Góp phần làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và sự vận dụng nội dung tư tưởng đó trong việc đào tạo,
sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn là:
- Phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
- Phân tích sự vận dụng nội dung tư tưởng đó trong quá trình đào tạo,
sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của
việc đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay, chung quanh khái niệm cán bộ, công chức, viên
chức (CB,CC,VC) vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu thông
thường, cán bộ, công chức, viên chức đôi khi được quan niệm như là những
4
khái niệm đồng nghĩa. Cán bộ, công chức hay viên chức được gọi là cán bộ
nhà nước và cũng có lúc gọi là viên chức nhà nước. Cũng theo cách hiểu đó
thì những người làm việc công, hoặc người có thẩm quyền, đảm trách một
cương vị nhất định (cao, thấp bất kỳ) không chỉ trong bộ máy nhà nước mà cả
trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đều được xem là cán bộ
của Đảng (Nhà nước, Đoàn thể) hay công chức nhà nước.
Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
ban hành năm 1998 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003 cũng chưa
đưa ra được định nghĩa riêng cho từng khái niệm “cán bộ”, “công chức” và
“viên chức” và cả những người làm việc trong bộ máy chính quyền cấp xã.
Từ sự bất cập đó, “Luật Cán bộ, công chức” được Quốc hội Nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2010 các khái niệm trên về cơ bản đã được xác
định rõ hơn tại Điều 4.
Theo tinh thần của bộ Luật này, đã có sự phân biệt nhất định giữa, cán bộ,
công chức và viên chức. Tuy nhiên, dẫu có sự khác biệt trong sự phân loại, thì
về mặt quan điểm, chính sách, việc đào tạo, sử dụng lực lượng này ở nước ta, cơ
bản đều xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cán bộ và công tác
cán bộ trong các thời kỳ cách mạng. Bởi vậy, nghiên cứu làm rõ tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ là một trong những căn cứ khoa học nền tảng để tìm hiểu,
đánh giá, tìm ra phương hướng, giải pháp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
Vì những lẽ trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là: Tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và việc vận dụng tư tưởng đó trong hoạt động đào tạo, sử
dụng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và hoạt động đào
5
tạo cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ tái lập tỉnh đến nay,
trong đó tập trung là giai đoạn 2010 đến 2020.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà
nước về cán bộ, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức.
Luận văn sử dụng các phương pháp: Lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng
hợp, diễn dịch – qui nạp, phương pháp thống kê, và một số phương pháp xã
hội học như phân tích tài liệu, phỏng vấn và quan sát ...
5. Bố cục đề tài
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Nội dung và danh mục tài liệu tham khảo.
Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nội dung các bộ phận hợp thành
tư tưởng của Người đã là chủ đề thu hút giới nghiên cứu trong và ngoài nước
từ lâu, đặc biệt từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Vấn đề phát triển
nguồn nhân lực nói chung và việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức
nói riêng đã được các nhà khoa học cũng như những nhà lãnh đạo, nhà hoạch
định chính sách phát triển kinh tế - xã hội rất quan tâm.
Là vấn đề quan trọng và trung tâm của xã hội, trong những năm gần
đây, phát triển nguồn nhân lực nói chung và đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ,
công chức nói riêng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,
của các cấp, các ngành. Tùy theo góc độ và khía cạnh xem xét, những công
trình này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong đó có một số công trình
liên quan đến đề tài phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức nói riêng như:
6
TS. Hoàng Trang - TS. Phạm Ngọc Anh ( Đồng chủ biên ), Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 2004: “ Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo
dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay”. Tác giả đã trình bày có hệ thống đặc
điểm và vị trí của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đẩy mạnh việc giáo dục tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên là yêu cầu bức thiết, nhất
là trong điều kiện chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
TS. Lê Quang Hoan, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002: “ Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người”. Tác giả bước đầu nghiên cứu cơ bản, có hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Từ đó vận dụng những giá trị tư
tưởng Hồ Chí Minh làm sáng tỏ một số vấn đề có tính qui luật nhằm phát huy
nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
TS. Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2005: “Nguồn lực con
người trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”. Tác giả đã
trình bày nội dung, đặc điểm và tính tất yếu của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam hiện nay; tác giả phân tích vai trò của nguồn lực con người - yếu tố
quyết định sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tác giả cũng đề ra một số
giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
PGS. Mai Quốc Chánh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999:
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”. Thông qua cuốn sách tác giả đã phân tích vai trò của
nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta
để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- TS. Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao Động -xã hội, Hà Nội 2003: “Sử dụng
hiệu quả nguồn nhân lực ở Việt Nam”. Tác giả đã trình bày có tính hệ thống một
7
số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phân bố, sử dụng và phát triển
nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta; từ đó tác giả đề ra các chính sách và giải pháp nhằm phát
triển, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội đất nước.
PGS. TS. Bùi Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002. “Nguồn lực trí
tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”
Tác giả đã nêu lên vai trò, tầm quan trọng của nguồn lực trí tuệ trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực trạng của việc phát huy, xu
hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam và những giải pháp nhằm phát huy
nguồn lực này trong công cuộc đổi mới ở nước ta.
Trần Văn Tùng, Nxb Thế giới, Hà Nội 2005: “Đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nguồn nhân lực tài năng”. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là tác giả tập
trung trình bày những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài
năng khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số quốc
gia châu Âu, châu Á. Từ đó so sánh đối chứng với Việt Nam tác giả đưa ra các
chính sách về phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả
các tài năng khoa học.
GS.VS. Phạm Minh Hạc - PGS.TS. Phạm Thành Nghị - TS. Vũ Minh Chi
(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2004: “Nghiên cứu con người và nguồn
nhân lực” (Niên giám nghiên cứu số 3). Cuốn sách tập hợp những bài viết của các
nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến con người và nguồn nhân lực: quan
điểm và phương pháp nghiên cứu; nghiên cứu con người trong bối cảnh kinh tế thị
trường, toàn cầu hóa; nghiên cứu nguồn nhân lực và nguồn vốn xã hội...
“Những giải pháp phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, PGS.TS. Nguyễn Văn Nam
8
chủ nhiệm đề tài, năm 2005. Đề tài đã nêu lên thực trạng của nguồn lực con người
ở thành phố Đà Nẵng, từ những thực trạng đó, đề tài nêu lên các phương hướng và
giải pháp chủ yếu để nhằm phát huy nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố.
- “Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng - Thực
trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý của tác giả Phan
Văn Sơn, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2007. Đề tài này, tác giả đi vào
nghiên cứu lao động kỹ thuật ở Đà Nẵng dưới góc độ phân tích về quy mô, cơ
cấu, chất lượng, chỉ ra những hạn chế đồng thời đề ra những phương hướng
và các giải pháp khắc phục.
PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng (chủ biên), Nxb Từ điển bách khoa, Hà
Nội 2008: “Đào tạo và quản lý nhân lực”. Cuốn sách trình bày những vấn đề
lý luận về vai trò phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp, về quản lý nguồn
nhân lực; nêu lên những kinh nghiệm chủ yếu trong việc đào tạo, sử dụng và
quản lý nhân lực tại các công ty của Nhật Bản và Hàn Quốc từ đó nêu ra một
vài gợi ý cho các công ty Việt Nam trong đào tạo, sử dụng và quản lý nguồn
nhân lực.
- TS Nguyễn Thị Tâm, Nxb Lý luận Chính trị- Hành chính, Hà Nội,
2012: “Cán bộ, công chức với cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay”. Tác
giả đề cập một cách tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận chung về cán
bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 và từ yêu cầu của công
cuộc cải cách hành chính đang đặt ra đề xuất một cách nhìn mới, cách làm
mới để cùng nhau luận bàn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên.
Dưới dạng các bài viết đăng tải trên các tạp chí lý luận, có thể kể đến
hàng loạt công trình có liên quan, trong đó, tiêu biểu gồm:
GS. VS. Phạm Minh Hạc, Tạp chí nghiên cứu con người, số 6 - 2007:
“Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực - một dòng chảy”. Bài
9
viết góp phần tìm hiểu vấn đề văn hóa, con người và nguồn nhân lực theo tinh
thần đại hội X.
TS. Phạm Thị Hồng Điệp, Tạp chí khoa học xã hội, số 1 - 2008: “Nguồn
lực con người và phát triển nền kinh tế tri thức”.
Nội dung chủ yếu của bài viết là tác giả đề cập đến vai trò con người trong
phát triển bền vững, nguồn lực con người trong nền kinh tế tri thức, đặc biệt tác
giả nhấn mạnh đến việc phát triển nguồn lực con người gắn liền với việc phát
triển nền kinh tế tri thức.
TS. Nguyễn Tiến Dũng - Đỗ Văn Dạo, Tạp chí Lao động và xã hội, số 329,
tháng 2 - 2008: “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện
nay”.
Thông qua bài viết các tác giả đánh giá thực trạng của nguồn nhân lực chất
lượng cao, chỉ ra những vấn đề bất cập và từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay.
TS. Nguyễn An Ninh - Lê Thị Ánh Tuyết, Tạp chí Lao động công
đoàn, số 436, tháng 9 - 2009: “Vài kinh nghiệm xây dựng và phát huy
nguồn nhân lực chất lượng cao từ Dung Quất”.
Bài viết nêu lên những kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát huy nguồn
nhân lực chất lượng cao trong những năm qua ở nhà máy lọc dầu Dung Quất, như:
trong việc đào tạo, sử dụng và tạo môi trường thuận lợi.
PGS,TS Hồ Tấn Sáng: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ chiến lược kinh tế- xã hội 2011-2020 ở các tỉnh duyên hải miền Trung”.
Tạp chí Sinh hoạt lý luận. Số 2/2012.
Bám sát tinh thần “đột phá” về nguồn nhân lực chất lượng cao, dựa trên
cơ sở yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của các tỉnh trong vùng, bài
viết đã phân tích để gợi mở hệ giải pháp từ thể chế, cơ chế đến tổ chức thực
hiện.
10
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đã có những đánh giá, những
định hướng... trong quá trình đưa ra các quyết sách có liên quan như:
Nghị quyết số 04/ NQ/ TU Quảng Nam về công tác cán bộ giai đoạn
2011-2015 và định hướng đến năm 2020;
Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015, định
hướng đến năm 2020 theo Quyết định 2606/ QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm
2011 của UBND tỉnh Quảng Nam;
Đề án tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2016 theo Quyết định 2398/
QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2011 của UBND tỉnh Quảng Nam.
Tổng quan nghiên cứu cho thấy cho đến nay chưa có một công trình
nào đề cập một cách có hệ thống và chuyên sâu chủ đề nghiên cứu của luận
văn. Tuy vậy, các công trình đã được công bố sẽ là một nguồn tài liệu quý giá
để tác giả luận văn tham khảo trong qua trình thực hiện luận văn.
11
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
1.1. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ CÁN BỘ CỦA HỒ
CHÍ MINH
1.1.1. Quá trình hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước, cứu
dân của Hồ Chí Minh- tiền đề thực tiễn
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là một trong những yếu
tố cấu thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, để có được những tư tưởng này thì
quá trình hoạt động thực tiễn của Người đóng vai trò hết sức quan trọng.
Cháy bỏng khát vọng độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân, khâm phục các cuộc khởi nghĩa và các phong trào yêu nước do các bậc
tiền bối lãnh đạo nhưng không nhất trí với phương pháp và các cách đi đó, Hồ
Chí Minh đã tìm cách ra nước ngoài với cuộc hành trình qua nhiều quốc gia
với nhiều gian nan, thử thách. Trên hành trình ấy, Người luôn tìm tòi, miệt
mài vừa học vừa làm. Trước các vấn đề của cuộc sống, Người "luôn đặt câu
hỏi "tại sao?", và cố gắng tìm lời giải đáp từ trong chính thực tiễn cuộc sống"
[28, tr.26]. Từ đó, Người phân biệt được bạn, thù, cơ sở quan trọng cho tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục cán bộ sau này.
Năm 1919, tại Pháp, Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp để rèn
luyện cách hoạt động theo con đường của tổ chức. Người thành lập Hội
Người Việt Nam yêu nước, đồng thời, Người còn liên hệ với các thành viên
của các nhóm ngoại kiều khác tại Pa-ri. Có thể coi đây là một thể nghiệm đầu
tiên của Hồ Chí Minh về vấn đề tổ chức con người, để từ đó tạo cơ sở cho
việc hình thành tư tưởng về cán bộ sau này. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn
tham gia nhiều hoạt động báo chí, văn chương, dự các cuộc mít tinh, tham gia
nhiều hội, mà theo lời Trần Dân Tiên thì qua đó, Hồ Chí Minh "muốn biết
12
những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào. Ông Nguyễn bắt đầu tổ chức,
hoặc đúng hơn là bắt đầu học tổ chức" [28, tr.29].
Mốc quan trọng đánh dấu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về cán bộ là khi bắt đầu tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin. Những
quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ của chủ nghĩa Mác-Lênin có ảnh
hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ; đó
là những quan điểm về vị trí, vai trò của cán bộ, về tiêu chuẩn cán bộ, về huấn
luyện, sử dụng, kiểm soát cán bộ,…
Thời điểm đó, Hồ Chí Minh cũng trở thành một trong những người
tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và là người Cộng sản Việt Nam đầu
tiên, lúc bấy giờ Hồ Chí Minh nhận thấy đối với cách mạng Việt Nam cần
phải có một bộ phận ưu tú những con người là đầu tàu, nòng cốt thúc đẩy và
nắm lấy thời cơ cho cách mạng Việt Nam. Đội ngũ ấy sẽ có trách nhiệm thức
tỉnh, tổ chức đoàn kết quần chúng, huấn luyện và đưa họ ra đấu tranh giành
độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho chính mình. Vì thế, công việc đầu
tiên là phải lựa chọn và huấn luyện cán bộ. Khi còn chưa có điều kiện tạo
nguồn và đào tạo cán bộ trong nước, Hồ Chí Minh đã tổ chức ra các Hội ở
nước ngoài để tạo cơ sở ban đầu. Người đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp
thuộc địa Pháp năm 1921, tiến hành đào tạo một số cán bộ nòng cốt cho
phong trào cách mạng các nước thuộc địa, bước đầu truyền bá chủ nghĩa MácLênin vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Cuối năm 1924, Người tìm cách bắt mối liên lạc với tổ chức yêu nước
của Phan Bội Châu mang tên Tâm Tâm xã và bắt tay ngay vào việc xây dựng
kế hoạch mở lớp cán bộ đầu tiên cho cách mạng trong nước tại Quảng Châu.
Nhờ nỗ lực của Người, trường Huấn luyện chính trị đã được tổ chức, để từ
đây đội ngũ cán bộ nòng cốt đầu tiên cho cách mạng Việt Nam đã được hình
thành. Sau một thời gian học tập, các học viên trưởng thành nhanh chóng về
13
chính trị, tư tưởng, đạo đức, được đưa về nước để xây dựng cơ sở, tuyên
truyền, tổ chức, lãnh đạo cách mạng.
Tới giữa năm 1927, Hồ Chí Minh lựa chọn một số cán bộ gửi đi học tại
Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va và trường Quân sự Hoàng Phố ở Quảng
Châu. Đồng thời trên cơ sở Tâm Tâm xã, Hồ Chí Minh sáng lập tổ chức Việt
Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội vào tháng 6/1925- tổ chức tiền thân
của Đảng sau này. Qua đó, những trí thức cách mạng vừa có điều kiện rèn
luyện, phấn đấu, vừa góp phần tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào
Việt Nam.
Như vậy, từ trong thực tiễn ấy tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và
công tác cán bộ đã từng bước được hình thành, góp phần rất lớn vào công tác
đào tạo cán bộ sau này.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930, Hồ Chí Minh
càng giành sự quan tâm nhiều hơn tới vấn đề cán bộ, đặc biệt là công tác đào
tạo cán bộ. Người khẩn thiết đề nghị với Quốc tế Cộng sản cần tăng cường
đào tạo cán bộ cho Việt Nam và các nước thuộc địa. Người cũng đề xuất biện
pháp xuất bản những cuốn sách nhỏ để cán bộ nghiên cứu, học tập. Người chỉ
đạo trong nước: "Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè
phái, và tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin để nâng cao trình
độ văn hóa và lý luận cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng
phái nâng cao trình độ…" [24, tr.139].
Đặc biệt, đầu năm 1941, Hồ Chí Minh đã trực tiếp tổ chức lớp học và
huấn luyện cho hơn 40 cán bộ cách mạng Việt Nam, chương trình và tài liệu
huấn luyện do chính Người tổ chức biên soạn.
Tháng 5/1941, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8
của Đảng, đề ra nhiệm vụ bức thiết cho cách mạng Đông Dương là giải phóng
dân tộc, đề xuất thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội, là mặt trận thống
14
nhất đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc. Ngay sau đó, Người mở lớp huấn luyện
chính trị- quân sự ngắn hạn cho cán bộ tại Cao Bằng và chỉ đạo tổ chức nhiều
lớp huấn luyện cán bộ khác, đồng thời trực tiếp giảng dạy hoặc nói chuyện
thời sự cho các học viên tại các lớp này.
Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong điều kiện đã giành được
chính quyền nhà nước, và phải đấu tranh kiên quyết giữ vững chính quyền,
Hồ Chí Minh còn quan tâm nhiều hơn đến vấn đề cán bộ. Người đã có nhiều
bài viết và tác phẩm về vấn đề này, như bài "Cán bộ tốt và cán bộ xoàng" trên
báo Sự thật số 77 tháng 6/1947; tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" vào tháng
10/1947; bài viết "Dân vận" trên báo Sự thật số 120, ngày 15/10/1949; bài
"Tự phê bình" trên báo Nhân dân ngày 20/5/1951…. Các tác phẩm, bài viết
đó thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trên nhiều vấn
đề, từ huấn luyện, đào tạo đến sử dụng cán bộ, từ đạo đức đến tác phong làm
việc của cán bộ…
Đặc biệt, năm 1949, Người đề nghị thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ. Khi đến thăm trường lần đầu tiên, Người đã ghi lên trang đầu cuốn sổ
vàng của Trường: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự
đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì
phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" [25, tr.684]. Những lời vàng đó
toát lên tư tưởng rất rõ ràng, đặc sắc của Hồ Chí Minh về cán bộ, đặc biệt là
vấn đề phẩm chất đạo đức người cán bộ.
Giai đoạn kháng chiến kiến quốc, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ đã
hình thành qua tìm tòi, khảo sát và bước đầu thể nghiệm ở giai đoạn trước,
đến đây được thực thi trong điều kiện mới là có chính quyền nhà nước trong
tay, qua đó được bổ sung, hoàn thiện hơn, góp phần quan trọng vào việc hình
thành đội ngũ cán bộ, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ
trong kháng chiến kiến quốc, đó không chỉ là đội ngũ cán bộ của Đảng, mà
15
còn là đội ngũ cán bộ của Nhà nước và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), nhiệm vụ cách mạng hai miền
khác nhau, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ được đặt ra cấp bách. Với tư
cách là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, tư tưởng về cán bộ của Hồ Chí
Minh lại được thực thi trong điều kiện mới. Người tiếp tục có nhiều tác phẩm,
bài viết, bài phát biểu đề cập cụ thể và sâu sắc về vấn đề cán bộ và công tác
cán bộ. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7 khóa II (1955), Hồ Chí
Minh đã viết bài "Người cán bộ cách mạng" trên báo Nhân dân ngày
03/3/1955 nêu lên tầm quan trọng của việc rèn luyện đạo đức cách mạng:
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư của người cán bộ. Tại Hội nghị, Người
cũng nhấn mạnh yêu cầu người cán bộ phải không ngừng học tập lý luận, thực
hiện phê bình, tự phê bình để nâng cao trình độ, năng lực công tác.
Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Hồ Chí
Minh tiếp tục có nhiều chỉ đạo cụ thể đối với công tác cán bộ trên nhiều mặt.
Người đề nghị Trung ương mở lớp chỉnh huấn mùa xuân 1961 với mục tiêu
chống bảo thủ, hữu khuynh, quan liêu xa rời thực tế, xây dựng tinh thần làm
chủ, phục vụ nhân dân, cần kiệm xây dựng đất nước.
Ra đi tìm đường cứu nước, mang trong mình truyền thống dân tộc, quê
hương, lại được tiếp xúc với nhiều luồng tư tưởng lý luận khác nhau, nên tư
tưởng Hồ Chí Minh rất rộng và bao quát nhiều vấn đề khác nhau. Đó là những
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam.
Tư tưởng về cán bộ của Hồ Chí Minh có mối liên hệ chặt chẽ với tư
tưởng về nhà nước, về pháp luật, nhất là từ khi giành được chính quyền nhà
nước. Ý thức được tầm quan trọng của việc thể chế hóa thành pháp luật Nhà
nước các đường lối chủ trương của Đảng, Hồ Chí Minh đã trực tiếp ký nhiều
16
sắc lệnh cụ thể hóa vấn đề cán bộ, qua đó chính thức đặt nền móng đầu tiên
cho chế định pháp luật về cán bộ, công chức ở nước ta sau này. Đó là các Sắc
lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 ban hành thang lương công chức nhà nước,
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam,
Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công nhân giúp việc
Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến.
1.1.2. Các lý thuyết về vai trò của giới “tinh hoa” trong lịch sử tư
tưởng chính trị
Cùng với truyền thống của dân tộc cùng với quê hương và gia đình, Hồ
Chí Minh còn chịu sự ảnh hưởng của các nền văn minh trên thế giới, đó là
những tinh hoa văn hóa Đông – Tây. Người học hỏi rồi kế thừa, vận dụng sáng
tạo vào hoàn cảnh cũng như điều kiện của dân tộc mình. Người đã từng viết:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu
điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm
là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.[16, tr.51]
* Về ảnh hưởng của Nho giáo:
Là học thuyết chính trị đạo đức, Nho giáo chủ trương cai trị xã hội dựa
trên nền tảng đạo đức. Đó là thứ triết học hành động, tư tưởng nhập thế, hành
đạo, giúp đời, triết lý nhân sinh: Tu thân, dưỡng tính, đề cao văn hóa, đạo
đức, lễ giáo: Trí, Tín, Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Đặc biệt, Nho giáo cũng rất chú trọng tới vấn đề người cai trị. Vừa đề
cao vai trò của người cai trị đối với quốc gia, bên cạnh đó cũng có những đòi
hỏi cao ở trình độ nhận thức và phẩm chất con người. Đó là tính thân dân,
lòng thương người, kính cẩn, khiêm nhường và bảo đảm chữ tín với dân. Để
làm tốt công việc của một người cai trị thì việc phải thường xuyên sửa mình,
tu thân, rèn đức, nâng cao sự hiểu biết là việc không thể không làm.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho yêu nước, tiếp thu văn hóa
17
Khổng Mạnh từ thuở thiếu thời, vì thế mà đạo đức Nho giáo đã ngấm và ảnh
hưởng tới tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh. Người tiếp nhận và học hỏi tinh thần
nhân nghĩa, đề cao những yếu tố tích cực trong Nho giáo như: trung hiếu, dân vi
quý. . . Những bài học mà Người tiếp nhận đã khẳng định giá trị nhân văn của
Nho giáo và những gì học được thì Người đã vận dụng hài hòa và nhuần nhuyễn
trong công việc cũng như trong cuộc sống, Hồ Chí Minh từng nói rằng : “ Học
thuyết đức trị của Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức cá nhân” [16,
tr.51].
Thấm nhuần giá trị tiến bộ của Nho giáo, Hồ Chí Minh đẩy nó cao hơn
với chủ trương: "Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân
dân". Nho giáo chỉ mới thấy được sức mạnh của dân mà chưa đi tới dân là
chủ của quyền lực nhà nước, nên đội ngũ quan lại ở vị trí cai trị dân, đứng
trên dân. Hồ Chí Minh trên cơ sở thấy được sức mạnh to lớn của dân, khẳng
định dân là gốc, và xa hơn, dân còn là chủ của quyền lực nhà nước, do đó
người cán bộ trong Nhà nước mới "là người đầy tớ trung thành của nhân dân"
[26, tr.663].
Các giá trị của người quân tử trong Nho giáo đề ra như nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín, dũng,… được Hồ Chí Minh vận dụng, kế thừa để bàn về đạo đức và
đòi hỏi đạo đức của người cán bộ cách mạng lên những tầm cao mới như cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,… Từ đó thấy rằng Hồ Chí Minh đã tiếp
thu, sử dụng cái tích cực, phê phán, loại bỏ cái tiêu cực, đặc biệt là vấn đề đạo
đức.
Trong kho tàng tư tưởng chính trị phương Đông, bên cạnh Nho giáo,
Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng và tiếp thu phần tích cực, tiến bộ của nhiều
học thuyết khác như Mặc, Lão, Phật; như tư tưởng đòi hỏi nhà cầm quyền
"làm đầy tớ" cho nhân dân của Mặc Tử, thì Hồ Chí Minh nói về Chính phủ
mới: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho
18
đến các dân làng đều là công bộc của dân" [22, tr.261].
Xuất thân từ gia đình khoa bảng, tư chất thông minh, trình độ Quốc
học, Hán học vững vàng. Người không ngừng học hỏi khi bôn ba năm châu,
bốn biển. Người đã thông thạo nhiều ngôn ngữ của các quốc gia có nền văn
minh tiêu biểu của nhân loại. Người am tường văn hóa Đông, Tây, kim cổ;
Người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông -Tây.
* Về ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây.
Tư tưởng văn hóa phương Tây là bộ phận quan trọng của tư tưởng văn
hóa nhân loại, là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ nói riêng.
Từ nhỏ, Người đã học Nho đồng thời với việc học chữ Hán. Nhưng
thời điểm đó, cũng là lúc Nho giáo đang suy tàn, trở nên bế tắc, bất lực trước
các vấn đề của thời cuộc. Với, tư cách một xứ thuộc Pháp, Việt Nam bắt đầu
chịu ảnh hưởng của những giá trị tư tưởng văn hóa chính trị phương Tây. Khi
vào học trường Tiểu học Pháp Việt ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba,
trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã bước đầu tiếp xúc với văn hóa
phương Tây, tiếp xúc với những khẩu hiệu như dân chủ, bình đẳng, tự do, bác
ái, tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền tôn giáo….Những tư tưởng
đó thôi thúc Người hướng sang phương Tây. Chính Người đã từng viết: "Khi
tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác
ái,… Và từ thửa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm
xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy" [22, tr.477].
Trong 30 năm bôn ba nước ngoài, đi qua và sống ở nhiều quốc gia, tiếp
xúc với nhiều luồng tư tưởng, nhiều học thuyết khác nhau của phương Tây.
Người tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của đại Cách mạng Pháp
1789, nghiên cứu Cách mạng Tư sản Mỹ 1776, tiếp thu tư tưởng tự do, nhân
quyền. Cuộc sống, lao động và hoạt động Cách mạng của Người gắn liền với
19
những người lao động, giai cấp công nhân ở các nước chính quốc, thuộc địa
đã mang lại cho Người tình yêu thương giai cấp, yêu thương những người lao
động, những người cùng khổ một cách sâu sắc.
Những yếu tố tích cực, tiến bộ từ các cuộc cách mạng Tư sản phương
Tây, đã ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là các
vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng,… Những tư tưởng
đòi hỏi Nhà nước được tổ chức đáp ứng yêu cầu của pháp quyền, dân chủ, tổ
chức nhà nước không phải là bộ máy cai trị nhân dân, mà là bộ máy tổ chức
và thực thi quyền lực của nhân dân. Khi tiếp thu những giá trị tích cực, tiến bộ
đó, Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ ra những hạn chế của nó như: "Cách mệnh
Pháp cũng như cách mệnh Mĩ, nghĩa là cách mệnh Tư bản, cách mệnh không
đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong nước thì tước lục công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa" [23, tr.274].
1.1.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin - thế giới quan, phương pháp luận của
tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Từ chủ nghĩa yêu
nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu bản chất khoa học
và cách mạng của học thuyết này.
Dưới sự tác động biện chứng giữa các mối quan hệ cá nhân, dân tộc và
thời đại đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin- đỉnh cao của tinh
hoa trí tuệ nhân loại. Đó là bộ phận có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhờ thế giới quan và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chuyển hóa được
những nhân tố tích cực và tiến bộ trong truyền thống dân tộc cũng như của
nhân loại để tạo nên hệ tư tưởng hết sức đặc sắc của mình. Mỗi bước phát
triển của tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hoàn thiện đều không thể tách rời