Tải bản đầy đủ (.doc) (113 trang)

Tư duy hướng biển của các nhà cải cách việt nam nửa cuối thế kỷ XIX

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 113 trang )

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT HỌC BỔNG CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG LẦN II NĂM 2013

LƯƠNG THỤY LAN HƯƠNG

TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI
CÁCH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

HÀ NỘI, 2013


CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT HỌC BỔNG CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG LẦN II NĂM 2013

TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI
CÁCH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Học viên: Lương Thụy Lan Hương
Khoa: Lịch Sử
Trường: ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn HN
Khóa: QH-2012

HÀ NỘI, 2013
Lương Thụy Lan Hương, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1. HN

Hà Nội



2. KHXH&NV

Khoa học Xã hội và Nhân Văn

3. Nxb

Nhà xuất bản

4. Sđd

Sách đã dẫn

5. Tp

Thành phố

6. Tr

Trang

Lương Thụy Lan Hương, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: TƯ DUY BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN
CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC ............. 5

1.1.


Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX ................................ 5

1.1.1. Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X........................................ 5
1.1.2. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV..................... 8
1.1.3. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX...... 11
1.2. Chính sách biển của triều Nguyễn ....................................................... 17
1.2.1. Chính sách đóng cửa với phương Tây................................................ 17
1.2.2. Chính sách phòng ngự bờ biển ........................................................... 24
1.2.2.1. Tuần tra trên biển .............................................................................. 26
1.2.2.2. Xây lực lượng thủy quân và các pháo đài ven biển........................... 29
1.2.3. Chính sách tiễu trừ hải phỉ ................................................................. 40
Chương 2: TƯ DUY HƯỚNG BIỂN CỦA CÁC NHÀ CẢI CÁCH VIỆT NAM
NỬA CUỐI THỂ KỶ XIX ................................................................................ 52

2.1. Sự cần thiết phải khai phóng đất nước ................................................ 52
2.2. Tư duy quân sự biển .............................................................................. 62
2.3. Mở thương cảng biển............................................................................. 76
2.4. Phát triển kinh tế biển ........................................................................... 84
2.4.1. Lập các hội buôn.................................................................................. 84
2.4.2. Khuyến khích hoạt động thương mại trên biển ................................. 88
2.4.3. Khai thác tài nguyên biển.................................................................... 90
2.5. Mở lớp học dạy về biển ......................................................................... 91
KẾT LUẬN.................................................................................................. 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101
PHỤ LỤC ẢNH........................................................................................... 105

Lương Thụy Lan Hương, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội



MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Đề tài “Tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX” thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Tư duy hướng biển là
một nội dung nằm trong tư tưởng canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX. Trong
toàn bộ những tư tưởng canh tân thì tư duy về biển đã được các nhà cải cách
đặc biệt quan tâm. Tuy vậy, việc nghiên cứu về tư duy hướng biển của các
nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX ít được các nhà nghiên cứu chú ý đến
và chưa có một đề tài nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này. Nghiên cứu về tư
tưởng canh tân đất nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đã có rất nhiều tác
phẩm, sách báo, bài nghiên cứu, tạp chí và các kỷ yếu hội thảo khoa học, tiêu
biểu như:
Cuốn sách “Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”, xuất bản
năm 1999 của nhóm tác giả Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm,
v.v..; gồm nhiều bài viết giới thiệu cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng canh tân
đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,v.v..; những đề xuất
trong tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Triều Nguyễn với trào
lưu canh tân đất nước, và trách nhiệm của triều Nguyễn trong sự thất bại của
xu hướng đổi mới ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
Cuốn sách “Nguyễn Lộ Trạch và di thảo”, xuất bản năm 1995, do
Nguyễn Văn Huyền biên dịch, gồm hai phần: Phần một tác giả giới thiệu về
cuộc đời và sự nghiệp của nhà cải cách Nguyễn Lộ Trạch, trong đó tác giả cố
gắng làm nổi bật lên tư tưởng canh tân đất nước của ông. Phần hai, tác giả tập
hợp và dịch một số tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Lộ Trạch như “Quỳ ưu
lục”, “Thời vụ sách” từ chữ Hán sang chữ Việt. Đây chính là nguồn tư liệu
quan trọng để nghiên cứu về những tư tưởng cải cách của Nguyễn Lộ Trạch.

1



Trong cuốn sách “Nguyễn Trường Tộ thời thế và tư duy cách tân”,
xuất bản năm 2001 của tác giả Hoàng Thanh Đạm đã nghiên cứu về con
người và cuộc đời của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ; thái độ của người đời
đối với ông khi ông đang sống và sau khi ông mất; hệ thống tư duy cách tân
của Nguyễn Trường Tộ…
Năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội đã ấn hành cuốn
sách “Bùi Viện với sự nghiệp canh tấn đất nước cuối thế kỷ XIX” của Thế
Văn và Quang Khải. Đây là công trình nghiên cứu về cuộc đời, thân thế, sự
nghiệp của Bùi Viện, qua đó làm nổi bật lên tư tưởng và hành động mới mẻ
của ông.
Cuốn sách “Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”, xuất bản năm
1990 của Đặng Hưng Doanh và Bùi Văn Côn, viết về cuộc đời và sự nghiệp
viết văn của Đặng Huy Trứ, đồng thời tập hợp những tác phẩm văn học của
ông, qua đó thể hiện tư duy cách tân của Đặng Huy Trứ.
Cuốn sách “Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân”, xuất bản năm
1995, của nhóm tác giả Phạm Phú Hạt, Lâm Quang Huyên, Mai Thúc Luân...
đề cập đến bối cảnh lịch sử, gia phả và truyền thống ham học của dòng họ
Phạm Phú - tư tưởng canh tân các mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục,
quốc phòng và ngoại giao... của Phạm Phú Thứ.
Các công trình nêu trên tuy đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về tư
tưởng canh tân đất nước của các nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ
Trạch, Bùi Viện, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, v.v..; nhưng chưa đề cập
sâu sắc và chưa nghiên cứu một cách có hệ thống về tư duy hướng biển của
họ.
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia nằm ở phía đông nam của châu Á, từ lâu biển đã
giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, quốc phòng của
2



người Việt Nam. Hiện nay, biển đảo là một trong những vấn đề quan trọng
hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và đối ngoại
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bởi vậy, trong việc khẳng định và bảo
vệ quyền lợi quốc gia đối với biển đảo cần được nhìn nhận từ nhiều khía
cạnh, trong đó có tiến trình về tư duy biển của con người Việt Nam. Đồng
thời để hướng tới một quốc gia kinh tế biển phát triển, điều cần thiết trước
tiên đòi hỏi người Việt Nam cần có một sự nhận thức đầy đủ về biển. Chính
vì vậy, việc tìm hiểu những tư duy về biển của người Việt Nam trong lịch sử
là rất cần thiết. Đặc biệt vào nửa cuối thế kỷ XIX, ở nước ra đã có rất nhiều
nhà cải cách đưa ra những tư tưởng tiến bộ, mang tính thời đại về vị trí, vai
trò của biển như: Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú
Thứ, và Đinh Văn Điền. Những tư duy mới mẻ của họ có một ý nghĩa nhất
định trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận nhằm:
- Làm rõ một phần tư duy về biển của người Việt trước nửa cuối thế kỷ
XIX.
- Làm rõ một phần bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
và các chính sách biển của triều Nguyễn.
- Làm rõ tư duy hướng biển trong tư tưởng canh tân đất nước của các
nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những tư duy về biển của người
Việt trước nửa cuối thế kỷ XIX; bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế
kỷ XIX và hệ thống tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam như
Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy
Trứ…

3



Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu nằm trong khoảng thời gian
nửa cuối thế kỷ XIX, dưới triều vua Tự Đức (1847 – 1883), với không gian là
xã hội Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu,
phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, v.v...
6. Bố cục
Bố cục của khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo
và phụ lục, gồm 2 chương:
- Chương 1: Tư duy biển của người Việt Nam và chính sách biển của
triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược.
- Chương 2: Tư duy hướng biển của các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX.

4


Chương 1
TƯ DUY BIỂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH BIỂN CỦA
TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
1.1.

Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ XIX

1.1.1. Tư duy biển của người Việt trước thế kỷ X
Nằm ở vùng chân dãy núi Himalaya, trong khu vực châu Á gió mùa,
nên Đông Nam Á được coi là một trong những trung tâm xuất hiện sớm của
cây lúa nước. Trong lịch sử, cây lúa đã trở thành nguồn sống, là cơ sở kinh tế

chủ yếu của người Việt. Cuộc sống của người Việt được gắn liền với nước và
phương thức canh tác lúa nước, vì vậy từ xa xưa người Việt đã sớm bộc lộ
những tư duy về sông nước. Sự bộc lộ đó thể hiện rõ trong các truyền thuyết
như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Mai An Tiêm, Chử Đồng
Tử - Tiên Dung, Dã Tràng, v.v.. Các triều đình phong kiến Việt Nam cũng đã
sớm có ý thức bảo vệ chủ quyền trên biển đảo và xây dựng lực lượng thuỷ
quân. Nhưng nhìn chung, cư dân người Việt vẫn chưa đánh giá đầy đủ vị trí
của biển và chưa chú ý đến biển. Tư duy của người Việt chủ yếu là “tư duy
đất liền”, “xa rừng nhạt biển”, coi trọng kinh tế nông nghiệp hơn là khai thác
những tiềm năng kinh tế biển.
Việt Nam có hơn 3.000 km đường bờ biển và là nước có chỉ số duyên
hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) cao. Chỉ số duyên hải cao và môi
trường kinh tế đảo, bán đảo là điều kiện thuận lợi để nước ta có thể thiết lập
và mở rộng quan hệ giao thương với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, người
Việt ít chú trọng khai thác biển. Việt Nam không có nền kinh tế thương mại
và hàng hải phát triển, không có nền văn hoá hải dương, khai phóng và hội
nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia ven
biển khác trên thế giới. Người Việt xưa không có truyền thống đi xa và buôn
bán đường dài. Người Việt có làm cảng ở sông, ở biển, nhưng chủ yếu là để
buôn bán nội vùng, khá hơn là liên vùng trong nước. Người Việt thụ động
5


trông chờ người nước ngoài đến buôn bán mà không chủ động đóng tàu
thuyền ra nước ngoài buôn bán. Có thể thấy người Việt khá bị động trước
biển. Mối liên hệ kinh tế văn hoá giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á
hay châu Á, ngoại trừ trường hợp Trung Quốc, không thực sự sâu sắc và
thường xuyên. Sự hiểu biết của người Việt về địa lý, lịch sử, kinh tế các nước
trên thế giới, kể cả các quốc gia láng giềng cũng rất hạn hẹp. Đó là một hạn
chế của người Việt Nam trong việc khai thác các thế mạnh và tiềm năng của

biển.
Vào những thế kỷ sau Công Nguyên, mặc dù đã làm chủ được hầu
khắp vùng đồng bằng sông Hồng và chinh phục được một số dải đất ven biển
nhưng người Việt vẫn không thể (và thực tế là không cần) vượt ra khỏi không
gian kinh tế nông nghiệp truyền thống để tiến ra biển: “Cái không gian sinh
tồn cụ thể và độc đáo này đã đào luyện nên tính cách hạ bạn, tâm lý hoá thân
vào đồng đất và mở rộng bờ cõi với hướng chảy dọc theo các đồng bằng ven
1

biển” .
Tập quán sinh sống định cư gắn chặt với đồng đất và nguồn cung cấp
thực phẩm đa dạng, lượng thuỷ sản nước ngọt khá phong phú của một không
gian địa - kinh tế ẩm, trũng miền chân núi là nguyên nhân chính yếu kiềm toả
sức vươn ra biển, nhu cầu muốn chinh phục biển khơi của người Việt. Biển là
một thế giới quá mênh mông, mơ hồ và đầy hiểm nguy trong tâm thức của
người Việt. Người Việt cũng có truyền thống đóng thuyền đi trên sông nước
nhưng đó chủ yếu là các thuyền đi trong sông, eo, vịnh… chứ chưa thực sự là
thuyền đi biển, có thể vượt xa đại dương.
Mặt khác, do tác động của tư tưởng trọng nông ức thương, nền thương
nghiệp Việt Nam, trong đó có ngoại thương, luôn được coi là ngành kinh tế
phụ, không căn bản. Ngay cả những làng, những vùng có truyền thống ngư
1

Nguyễn Văn Kim: “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI- XVII và vị trí của một
số thương cảng Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1, năm 2002, tr. 45.
6


nghiệp, buôn bán trên sông nước vẫn thường có và luôn giữ một khoảnh đất
để canh tác nông nghiệp và thờ cúng tổ tiên. Đặc tính đó thể hiện rõ tư duy

hướng nội là chủ yếu trong tư tưởng kinh tế và văn hoá truyền thống của
người Việt.
Trong kho tàng văn hóa dân tộc từ thời dựng nước cũng có rất nhiều
huyền thoại, truyền thuyết gắn liền với tâm thức của các cộng đồng cư dân về
biển. Biển là điểm khởi nguồn đồng thời cũng là nơi trở về của nhiều nhân
vật huyền thoại. Huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ kết duyên với nhau
sinh ra một trăm người con để rồi lại phân chia ra, nửa theo Mẹ về Núi, nửa
theo Cha xuống Biển, và những khi ở trên Lục quốc có chuyện, Long Quân
vẫn luôn trở về đất liền để cứu giúp nhân dân. Huyền thoại Lạc Long Quân –
Âu Cơ đã thể hiện mối liên hệ giữa Đất và Nước trong tâm thức của người
Việt cổ. Trên một bình diện khác, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh là sự
thể hiện sức mạnh và cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ giữa hai thế lực Núi
và Nước. Người ta hay lấy cuộc hận thù duyên phận giữa hai con người – hai
vị thần tài giỏi để luận giải về truyền thống khai phá, giành giật đất đai, xây
dựng hệ thống thủy nông. “Huyền thoại đó còn là ký ức về một cuộc đại
chuyển cư, mở mang châu thổ do tác động của quá trình biển tiến, biển lùi
trong lịch sử xa xưa của người Việt”2. Với tập quán canh tác lúa nước thì
hiện tượng nước dâng lên rồi rút đi là một trong những điều kiện không thể
thiếu được cho sự phát triển trù phú, mùa màng bội thu. Chính vì vậy, từ xa
xưa, người Việt vừa có tâm lý sợ nước (nhất thủy, nhì hỏa) vừa cầu nước và
mong nước về. “Nước là một bộ phận hợp thành của truyền thống văn hóa,
khắc đậm trong tư duy, trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và cả

2

Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển,
đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, trích trong cuốn Người Việt với biển,
Nguyễn Văn Kim chủ biên, Nxb. Thế giới, HN, 2011, tr. 40.
7



3

trong thế giới huyền thoại của người Việt cổ” . Tư duy về biển của người
Việt cổ không chỉ được thể hiện qua các huyền thoại và truyền thuyết từ xa
xưa mà còn được thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học của các nền văn hóa
như Văn hóa biển Hạ Long thời kỳ hậu đá mới, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa
Sa Huỳnh của thời đại kim khí hay cả Thể chế biển Phù Nam và Chămpa sau
đó.
Mặc dù đã có những bằng chứng cho thấy sự tồn tại về một tư duy biển
của người Việt cổ trước thế kỷ X nhưng nó dường như cũng chưa mấy rõ
ràng. Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang đã trồng dưa hấu để trao đổi với
những tàu buôn đi qua đó lấy các vật dụng và thực phẩm, nhưng cuối cùng
cũng quay trở lại đất liền. Khi nỏ thần mất tác dụng và bị quân địch đánh cho
thua trận, An Dương Vương đã bỏ chạy ra đến bờ biển rồi rút gươm tự vẫn.
Nghề đánh bắt cá hay cư dân sống trên sông nước được phản ánh trong
chuyện cổ tích với những nhân vật như Trương Chi, Chử Đồng Tử, v.v..;
luôn có vị thế xã hội thấp kém hơn người và nghề khác. Mối tình của chàng
đánh cá Trương Chi với cô gái con nhà quyền quý kết thúc trong bi thảm.
Còn Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo đến nỗi thân không một mảnh khố, chỉ
có thể đổi đời bằng việc kết hôn với công chúa con vua. Truyền thuyết Dã
Tràng thì phản ánh sự bất lực của con người trước biển:
“Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”
Tuy nhiên, chính những tư duy sơ khai, ban đầu ấy đã tạo nền tảng cho
người Việt có một tư duy đầy đủ hơn về biển trong những thế kỷ sau đó.
1.1.2. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV
Từ thế kỷ X trở đi, sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 của
Ngô Quyền, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ. Ý thức sâu sắc về
3


Nguyễn Văn Kim: “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển; nhận thức về biển,
đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, Sđd, tr. 40.
8


chủ quyền đất nước, các vương triều phong kiến đã có sự quan tâm nhất định
tới vấn đề biển đảo. Các vương triều phong kiến đầu tiên Ngô – Đinh – Tiền
Lê đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ, chốt thủy quân ở vùng Đông
Bắc mà trọng tâm là cửa sông Bạch Đằng. Triều Lý (thế kỷ XI-XIII) đã chú ý
đến việc buôn bán với nước ngoài bằng đường biển (Trung Quốc và một số
nước Đông Nam Á). Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông
(1139 - 1175) (và cũng có thể được coi là của cả Vương triều Lý) đối với các
vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hưng (Quảng Ninh) vào tháng
10 - 1147 như là một cơ quan quản lý của triều đình trung ương đối với cửa
ngõ yết hầu sông nước quan trọng nhất của đất nước, cũng như toàn bộ các
vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt nói chung. Sau đó, tháng 2 – 1149, nhân
việc thuyền buôn 3 nước Trảo Oa (Java, Indonesia), Lộ Lạc và Xiêm La (đều
thuộc Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, vua Lý Anh
Tông “bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa
4

quý, dâng tiến sản vật địa phương” . “Vượt ra khỏi ý nghĩa quốc gia về chiến
lược phát triển kinh tế, trên phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc
nhà Lý lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu sự dự
nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ thống hải thương khu vực và quốc tế qua
5

khu vực Biển Đông” . Ở khu vực phía nam, các trung tâm trao đổi ở vùng
Nghệ – Tĩnh cũng có điều kiện phát triển, thu hút một lượng lớn thương nhân

từ Trung Quốc và Đông Nam Á đến buôn bán.
Không chỉ chú ý đến việc mở mang thương nghiệp, năm 1171, đích
thân nhà vua đã “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết
6

dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào” . Tháng 2 – 1172, nhà vua “lại
đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ ghi chép

4

Đại Việt sử kí toàn thư, Tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 317.
Hoàng Anh Tuấn: “Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ
trung đại”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 6.
6 Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr. 325.
5

9


7

phong vật” . Đồng thời, vua Lý Anh Tông liên tục cho đóng nhiều thuyền lớn
tham gia vào việc kiểm tra, kiểm soát, khai thác và bảo vệ các vùng sông
nước, biển đảo như các thuyền hiệu Vĩnh Long, Thanh Lan, Trường Quyết,
Phụng Tiên, Nhật Long, Ngoạn Thủy… Có thể khẳng định, trong triều Lý và
nhiều vương triều phong kiến khác ở nước ta, hiếm có vị vua nào lại có ý
thức sâu sắc về chủ quyền biển đảo và quan tâm đến việc phát triển thương
mại biển như vua Lý Anh Tông.
Kế tục sự nghiệp của nhà Lý, Đại Việt từ cuối thời Trần và đầu thời
Lê, vai trò của thương cảng Vân Đồn và vùng cảng biển Đông Bắc trong hệ

thống hải thương khu vực và quốc tế ở Biển Đông được biết đến nhiều qua
chức năng trung chuyển và xuất khẩu gốm sứ từ Trung Quốc ra thị trường
khu vực, đồng thời đưa gốm sứ Đại Việt (men nâu thời Trần và men lam thời
Lê Sơ) ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XV, vua Hồng Đức
(1460-1497), đã có những chính sách thiếu tính tích cực đối với vấn đề ngoại
thương và khu vực hải cảng Vân Đồn cũng như toàn bộ vùng Đông Bắc.
Điều này đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của Vân Đồn nói riêng và
toàn khu vực hải cảng Đông Bắc nói chung trong thời kỳ nhà Lê trị vì. Cho
đến cuối thế kỷ XV, hải cảng Vân Đồn dường như đã suy tàn và không còn là
điểm đến của các thương nhân nước ngoài.
Bên cạnh việc quan tâm đến ngoại thương thì các vương triều phong
kiến Lý, Trần và Lê cũng đã chú ý đến việc xây dựng và phát triển lực lượng
thủy quân để bảo vệ nước nhà trước sự xâm lược của phương Bắc. Trong và
sau ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên thế kỷ XIII,
nhà Trần luôn ý thức sâu sắc về vai trò và vị thế của biển, đảo trong việc bảo
vệ chủ quyền, an ninh đất nước. Nhà Trần ba lần chống quân Mông Nguyên
đều có sự tham gia của lực lượng thủy quân. Chiến thắng Vân Đồn và chiến
thắng Bạch Đằng năm 1288 cũng như các cuộc rút lui chiến lược của quân
7

Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr. 326.
10


dân Đại Việt về vùng duyên hải Đông Bắc đã cho thấy nghệ thuật quân sự
của quý tộc nhà Trần nhằm phát huy tối đa lợi thế của điều kiện tự nhiên để
chế ngự và chiến thắng kẻ thù.
Nhìn chung, các triều đình phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV hầu như chưa thể hiện một tư duy toàn diện về biển. Người Việt chỉ
khai thác biển như một nguồn tài nguyên tự nhiên, và những chính quyền

phong kiến chỉ quan tâm tới việc phòng thủ biển để bảo vệ đất liền, chứ chưa
kết hợp được phát triển kinh tế biển với phát triển ngoại thương và củng cố
quốc phòng.
1.1.3. Tư duy biển của người Việt từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Từ thế kỷ XVI trở đi, do sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn
phong kiến, Đại Việt bị tách thành hai tiểu quốc là Đàng Ngoài và Đàng
Trong. Một bộ phận cư dân ở Đàng Trong phải từng bước di cư xuống phía
Nam men theo bờ biển. Chính sách khai phá các vùng đất hoang vu, quan
tâm đến nông nghiệp, mở rộng thủ công nghiệp và phát triển ngoại thương
của các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho kinh tế Đàng Trong phát triển.
Nhiều đô thị ven biển và các hải cảng nổi tiếng như Hội An, Thanh Hà, Gia
Định được hình thành và phồn thịnh. Quan hệ buôn bán giữa Đàng Trong với
các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây được thiết
lập và phát triển. Trong tác phẩm “Tư Dung Vãn” của Đào Duy Từ đã nói tới
những cánh buồm của thương nhân trên vùng biển miền Trung: “Buồm ai
dàng dạng chân trời”8.
Được biết đến là thương cảng lớn nhất của Đàng Trong, lại nằm ở vị trí
giao thương quốc tế thuận lợi, Hội An nhanh chóng trở thành cửa ngõ giao
thương và đối ngoại quan trọng nhất với thế giới bên ngoài. Thương cảng này
đã đóng góp cho ngân sách chính quyền một lượng thuế lớn, giúp chúa
8

Lê Tiến Công:“Vị thế của biển trong cái nhìn của các vua đầu triều Nguyễn”, Tạp chí
Xưa và Nay, số 275 và 276, 2007, tr. 46.
11


Nguyễn có được nguồn tài chính vững chắc để xây dựng quân đội, củng cố
chính quyền và đương đầu với các cuộc tấn công của chính quyền Lê – Trịnh.
Sau thương cảng Hội An thế kỷ XVI - XVII, người Việt Nam ở Đàng Trong

lại có thêm thương cảng Hà Tiên thế kỷ XVIII… Các đền miếu thờ Long
Vương, Hải thần, phong tục thờ Cá Ông và các bài vè đi biển phổ biến suốt
vùng duyên hải Việt Nam từ đèo Hải Vân trở vào Nam còn cho thấy người
Việt Nam ở Đàng Trong đã nhất hóa nhiều yếu tố biển vào với sinh hoạt vật
chất và tinh thần của cộng đồng mình.
Bên cạnh việc mở mang phát triển kinh tế thì “Chúa Nguyễn Hoàng đã
sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để
phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc
chiếm lĩnh các quần đảo giữa biển Đông. Công việc thực thi chủ quyền ở khu
vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa
Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa đặc trách
công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một phương
thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần
đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có
được”9.
Trên thế giới, từ thế kỷ XVII trở đi là thời kỳ sôi động của các hệ
thống thương mại Đông - Tây, các “đế chế đại dương” bắt đầu chiếm ưu thế
đồng thời chấm dứt thời kỳ hoàng kim của các “đế chế lục địa”. Các “Quốc
gia thương nghiệp” được hình thành ở vùng hải đảo, hoặc khu vực ven biển
phát triển rực rỡ. Từ đó, biển trở thành một nhân tố hết sức quan trọng trong
việc phát triển kinh tế và chiến lược quốc phòng của mỗi quốc gia.
Với quyết tâm trở thành một lực lượng chính trị độc lập có thể đối chọi
lại với Đàng Ngoài và mở rộng lãnh thổ về phía Nam, các chúa Nguyễn
9

Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, .
12



không ngừng phát triển lực lượng hải quân. Qua một số ghi chép của các tác
giả nước ngoài thì thủy quân của Đàng Ngoài được trang bị số thuyền chiến
nhiều hơn so với Đàng Trong. Theo Alexandre de Rhodes, số lượng thuyền
chiến của Đàng Ngoài là khoảng 500 hay 600 thuyền, nhiều hơn gấp ba lần
10

con số 200 thuyền của Đàng Trong . Tuy chiến thuyền của Đàng Trong ít
hơn nhưng các chúa Nguyễn luôn tìm cách tăng số lượng thuyền và mở rộng
lực lượng thủy binh. Theo C. Borri, Đàng Trong thường xuyên cướp thuyền
của Đàng Ngoài. Mặt khác, họ thực hiện triều cống với nhà Trịnh để đổi lấy
gỗ đóng thuyền, gả con gái cho vua Campuchia để nhận được sự giúp đỡ về
11

thuyền chiến và binh lính nhằm chống lại sự gây hấn của quân Xiêm . Chính
vì vậy, sức mạnh thủy quân của Đàng Trong đến năm 1695 đã tăng lên một
cách đáng kinh ngạc. Điều chắc chắn là, nhờ có các phương tiện đi biển lớn
và an toàn đó mà chính quyền Đàng Trong (Nguyễn Phúc Chu) đã thành lập
đội Hoàng Sa, cho thuyền đến các đảo Hoàng Sa, Bắc Hải (Trường Sa) để
khai thác nguồn lợi hải sản, thu gom hóa vật, đo đạc hải trình và xác lập chủ
quyền trên các đảo đại dương của Tổ quốc. Cũng chính vì đạt được sự cân
bằng về tương quan lực lượng nên chúa Trịnh đã phải đồng ý ký thỏa hiệp
ngừng chiến, chấp nhận Đàng Trong như là một thế lực chính trị độc lập. Sau
khi cuộc nội chiến Đàng Trong – Đàng Ngoài kết thúc, chúa Trịnh ở phía
Bắc không còn chú tâm phát triển lực lượng thủy quân nữa mà tận dụng thời
gian yên bình để phát triển kinh tế. Ngược lại, chúa Nguyễn ở Đàng Trong
vẫn tích cực sắm thêm thuyền, phát triển thủy quân, phục vụ cho chiến lược
mở rộng thế lực trong suốt thế kỷ XVIII.
Trong khi các chúa Nguyễn tích cực quan tâm đến việc phát triển
ngoại thương và quân sự thì ở Đàng Ngoài, nhà nước Lê – Trịnh cũng đã
thực hiện chính sách thông thoáng hơn đối với các nhà buôn phương Tây.

10

Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, trích trong cuốn Người Việt với biển, Sđd, tr. 508.
11
Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, Sđd, tr. 509.
13


Thương nhân Hà Lan và sau đó là thương nhân Anh đã được cho phép đến
buôn bán, xây dựng nhà cửa, cửa hiệu tại một số nơi ở Phố Hiến hay kinh
thành Thăng Long. Thế kỷ XVII – XVIII có thể được coi là giai đoạn phát
triển phồn thịnh nhất của nền ngoại thương Việt Nam thời phong kiến.
Mặc dù các chúa Nguyễn ở Đàng Trong vẫn tiếp tục quan tâm đến việc
mở rộng lực lượng thủy quân vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhưng
sự phát triển đột phá về sức mạnh hải quân của Việt Nam chỉ có được là vào
cuối thế kỷ XVIII, cùng thời điểm với sự nổi dậy của nghĩa quân Tây Sơn.
Trong lịch sử phát triển của phong trào nông dân Tây Sơn, ngay từ thời kỳ
đầu đã có nhiều lần xuất quân vượt biển từ Qui Nhơn tấn công vào Gia Định
làm tan rã lực lượng cát cứ của chúa Nguyễn, tiêu diệt gần 4 vạn quân xâm
lược Xiêm. Đến năm 1786, sau khi giải phóng hoàn toàn đất Đàng Trong,
Nguyễn Huệ kéo đại quân ra Bắc tiêu diệt chế độ thống trị của họ Trịnh.
Riêng đạo quân tiên phong tập kết ở Vị Hoàng trước khi đánh thẳng vào
Thăng Long cũng có tới 400 chiến thuyền12. Đến cuối năm 1788, sau khi lên
ngôi hoàng đế, Quang Trung - Nguyễn Huệ tổ chức một cuộc hành quân
thần tốc ra Bắc diệt giặc Thanh. Phương tiện vận chuyển binh lính, vũ khí,
quân lương trong cuộc hành quân thần tốc này cũng chủ yếu là thuyền. Nét
độc đáo trong chiến dịch đại phá quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu 1789 là quân
Tây Sơn đã xây dựng được phòng tuyến thuỷ bộ liên hoàn Tam Điệp - Biện

Sơn làm bàn đạp cho ba đạo quân tấn công chính diện trên bộ và hai đạo
quân thuỷ vượt biển bao vây sau lưng địch.
Sau khi chiến thắng vẻ vang thù trong, giặc ngoài, trong chủ trương
xây dựng quân đội, vua Quang Trung muốn phát triển một cách tương đối hài
hoà các binh chủng bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, pháo binh để phát huy
sức mạnh tổng hợp của quân đội. Ông đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ quyền
trên biển, chăm lo xây dựng và phát triển lực lượng thủy binh, quyết tâm đưa
12

Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, .
14


hải quân lên hàng quân chủng: “Chiến thuyền của Tây Sơn bao gồm nhiều
loại, trong đó loại lớn trọng tải đến 900 tấn, có thể chở được voi chiến hoặc
13

có khi chở được 700 lính và 60 khẩu đại bác” . Trong quá trình xây dựng và
phát triển lực lượng thuỷ quân, hải quân đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao của đất nước, các vương triều Tây Sơn, đặc biệt là triều Quang Trung và
Cảnh Thịnh đều đặc biệt chú ý đến việc khai thác, sử dụng lực lượng Tàu Ô
đang có mặt trên Biển Đông. Họ là những người giỏi đi biển hay chuyên hoạt
động trên biển hoặc vì trung thành với triều đình nhà Minh, hoặc vì chống
đối chính quyền Mãn Thanh mà bị đánh đuổi phải phiêu bạt, nương náu trên
vùng biển đảo. Không ít trong số họ đã kết lại thành các băng đảng cướp biển
khét tiếng. Triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này qui
thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ họ “ra vào
nơi bể nước, tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là
việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm bậy, phần vì những

14

chính sách bạo ngược xua đẩy” và kêu gọi họ sớm đầu hàng. Quang Trung
luôn “mở lòng bao dung, tuỳ tài cất dụng” và chiều theo sở nguyện của từng
người, thậm chí chấp thuận cho cả “những người có chí lớn, muốn xông pha
15

nơi ngọn sóng cùng hải đảo” . Qui thuận những người Trung Quốc xiêu dạt
sống gửi trên mặt biển và sử dụng họ tham gia vào công việc giữ gìn Biển
Đông là một chính sách quan trọng và có hiệu quả cao của vương triều Tây
Sơn.
Sự phát triển của sức mạnh hải quân Việt Nam cuối thế kỷ XVIII làm
kinh ngạc tất cả những người châu Âu khi họ đến đây. John Barrow, một
người Anh đến Đàng Trong vào những năm 1792-1793 đã miêu tả tỉ mỉ kỹ
nghệ đóng thuyền của người Đàng Trong như là một trong những nghề mà họ
13

Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, .
14
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, .
15
Nguyễn Quang Ngọc: “Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của
vương triều Tây Sơn”, .
15


thành thạo nhất. Ông nhấn mạnh đến kỹ thuật chia đáy thuyền thành các
khoang khác nhau và vì thế thuyền sẽ không bị chìm dù va phải đá ngầm.

Theo J. Barrow, kỹ nghệ đóng thuyền này thậm chí đang được áp dụng cho
16

hải quân của hoàng gia Anh . Thủy quân Tây Sơn được đánh giá là một
trong những lực lượng thủy quân mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á thời
bấy giờ.
Cùng với việc phát triển lực lượng thủy quân hùng mạnh nhà Tây Sơn
cũng tăng cường thực thi chủ quyền trên các quần đảo ngoài Biển Đông, đặc
biệt là ở Hoàng Sa và Trường Sa. Giống như các chúa Nguyễn trước đây nhà
Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ
yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Trên thực tế hải
quân Tây Sơn đã kiểm soát được các tuyến giao thông, giao thương trên Biển
và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo kể cả khu vực ven bờ và giữa biển
Đông.
Nguyễn Ánh, hơn ai hết, hiểu rất rõ thế mạnh của thuỷ quân, hải quân
Tây Sơn nên từ đầu những năm 1790 đã mời và đặc biệt trọng dụng anh em
nhà Dayot (Jean Marie Dayot và Felix Dayot) trong chủ trương xây dựng lực
lượng hải quân, đóng mới tàu chiến hiện đại và điều tra thám sát, vẽ bản đồ
các hải cảng, bờ biển và toàn bộ vùng biển, đảo một cách khoa học, có hệ
thống với chất lượng chuyên môn cao. Anh em nhà Dayot đã góp phần rất
quan trọng giúp cho Nguyễn Ánh tạo ra năng lực trội vượt của hải quân, thuỷ
quân Nguyễn, làm cơ sở đánh bại lực lượng hải quân, thuỷ quân Tây Sơn vốn
rất mạnh nhưng lại sớm bị rơi vào tình trạng tàn tạ và tan tác của vương triều
giai đoạn cuối mùa. Sự thất bại của hải quân Tây Sơn trước hải quân Nguyễn
Ánh không hề phủ định một thời hoàng kim mạnh mẽ và oai hùng của nó,
nhất là vào những năm dưới thời Quang Trung và đầu thời Quang Toản.
16

Phạm Văn Thủy: “Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các
nguồn sử liệu phương Tây”, Sđd, tr. 515.

16


Năm 1802, triều Nguyễn được thiết lập sau khi đã lật đổ nhà Tây Sơn.
Các vị vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự
Đức vẫn tiếp tục bảo vệ vùng biển đảo, khẳng định chủ quyền của Việt Nam
đối với hệ thống các đảo và quần đảo ở Biển Đông, đặc biệt là quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như
vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải sản, tổ chức thu
thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ
quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ
nhận biết... Tiếp sau vương triều Tây Sơn, nhà Nguyễn đã có những đóng
góp quan trọng vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông
trong thế kỷ XIX.
1.2.

Chính sách biển của triều Nguyễn thế kỷ XIX

Đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn quản lý toàn bộ vùng bờ biển Việt Nam
dài, rộng, kéo dài từ Bắc vào Nam. Tại hơn 130 cửa biển lớn nhỏ và một số
hải đảo quan trọng của Việt Nam, các vua Nguyễn đã tổ chức lực lượng trấn
giữ, hình thành một hệ thống đồn, thành lũy, trấn thủ bao bọc bờ biển liên
hoàn kết hợp giữa lực lượng của triều đình và lực lượng dân binh sở tại của
các địa phương để canh giữ, kiểm soát bờ biển, hải đảo. Chính sách bảo vệ
vùng biển của triều Nguyễn có thể khái quát trên một số vấn đề như: chính
sách đóng cửa với phương Tây, chính sách phòng ngự bờ biển, chính sách
phòng chống hải tặc.
1.2.1. Chính sách đóng cửa với phương Tây
Vua Gia Long (Nguyễn Ánh) là một người am hiểu về biển và vị trí
quan trọng của biển đối với an ninh, quốc phòng. Khi cơ nghiệp của chúa

Nguyễn ở Đàng Trong bị nhà Tây Sơn lật đổ, Nguyễn Ánh nhiều lần bị quân
Tây Sơn truy sát đã phải bỏ chạy ra vùng biển và trốn ở các đảo hoang. Sự an
nguy của Nguyễn Ánh gắn liền với biển đảo. Nguyễn Ánh đã lấy biển đảo
làm bàn đạp để từng bước giành lại vương quyền. Thuỷ quân và thuyền chiến
17


thời Nguyễn được huấn luyện theo binh pháp châu Âu. Từ năm 1789, theo lời
khuyên của giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine): “Nguyễn Ánh ra sức
tăng cường thuỷ binh, trở thành lực lượng thuỷ binh mạnh nhất chưa từng có
17

ở vùng biển Ấn Độ” . Tuy nhiên, sau khi giành lại được vương quyền, vua
Gia Long lại không thực hiện những cải cách mở cửa thông thương với nước
ngoài, ngay cả với nước Pháp đã giúp vua trong cuộc chiến tranh cũng không
ngoại lệ. Tháng 11 - 1817 (năm Gia Long thứ 16), tàu nước Pháp cập cảng
Đà Nẵng, cho người mang thư đến nói với viên quan Nguyễn Văn Thắng
rằng: “Quốc vương đã về nước rồi, truyền kéo cờ đi khắp các cửa biển, để
18

cho các nước biết; xin đem phẩm vật vào Kinh chiêm yết” . Nhưng vua Gia
Long nghĩ rằng tàu này không có quốc thư nên không cho vào yết kiến. Mặc
dù vậy, vua cũng sai các quan ở Quảng Nam tiếp đãi thành viên của phái
đoàn, rồi yêu cầu họ đưa tàu ra. Nhân sự việc đó, vua truyền chỉ cho quan
Tấn thủ Đà Nẵng rằng: “Nếu tàu Đại Pháp có kéo cờ và phát 21 tiếng súng
mừng, thời trên đài Điện Hải cũng phát 21 tiếng súng. Từ nay về sau như tàu
nước khác vào cửa biển ta, dẫu nó phát súng nhiều nữa, mình chỉ phát 3
19

tiếng làm hiệu mà thôi” . Trước đấy, tháng 9 – 1816, nhà vua đã ra lệnh

“cấm thuyền buôn chở riêng thóc gạo, hóa vật thông thương với nước ngoài.
Người nào phạm thì lấy luật ra riêng ngoài cõi và luật phạm cấm ra biển để
xử, thuyền và hàng hóa xung công. Quan sở tại biết mà cố ý dung túng thì
20

cùng tội” . Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù đã dựa vào phương Tây để lấy
lại vương quyền nhưng ngay sau khi củng cố được quyền lực, vua Gia Long
đã quay lưng lại với nước Pháp, ông không những không thực hiện chính
sách mở cửa giao thương với nước ngoài mà còn cấm những thương nhân
trong nước chở hàng hóa ra nước ngoài buôn bán. Tư tưởng đóng cửa của
17

Lê Tiến Công:“Vị thế của biển trong cái nhìn của các vua đầu triều Nguyễn”, Tạp chí
Xưa và Nay, số 275 và 276, 2007, tr. 45.
18
Quốc sử Quán triều Nguyễn: Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb. Thuận Hóa, Huế,
1998, tr.135
19
Quốc sử Quán triều Nguyễn: Quốc triều chính biên toát yếu, Sđd, tr.135.
20 Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, HN, 2004, tr. 935.
18


vua Gia Long được hình thành do sự e sợ sức mạnh của các thế lực nước
ngoài sẽ làm ảnh hưởng đến vương quyền của triều đình, tư tưởng đó đã ảnh
hưởng mạnh mẽ đến vua Minh Mạng kế vị sau đó.
Vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820, ông vẫn tiếp tục thực hiện chính
sách đóng cửa từ thời vua Gia Long. Tuy nhiên, trong những năm đầu khi
mới lên ngôi, ông đã cho thi hành một số biện pháp giảm thuế cho thuyền
buôn nước ngoài. Tháng 11 – 1820, nhà vua cho đổi định lệ thuế cảng và lễ

cho các thuyền buôn nước ngoài. Theo lệ cũ, thuyền buôn Ma Cao và các
nước phương Tây đến buôn bán cũng đánh thuế như thuyền buôn Quảng
Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà thu khác nhau. Vua mới lên
ngôi, muốn tỏ lòng yêu mến người phương xa nên đã cho giảm bớt số tiền
thuế. Ví dụ, nếu thuyền đến buôn bán ở Gia Định, thuyền phủ Quảng Châu,
phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh
Phúc Kiến, tỉnh Chiết Giang, Ma Cao và các nước phương Tây, rộng 25
thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước là 160 quan) 21
v.v.. Mặc dù đã thực hiện giảm thuế cho các thuyền buôn nước ngoài, nhưng
đối với việc các nước phương Tây đến xin thông thương thì triều đình Huế lại
không chấp nhận. Biểu hiện rõ nét nhất của chính sách bế quan là việc triều
đình khước từ tất cả quốc thư và các yêu cầu thông thương của những nước
phương Tây như Anh, Pháp, Hoa Kỳ… Trong 20 năm vua Minh Mạng trị vì,
đã có rất nhiều lần phái đoàn của các nước phương Tây đến Việt Nam, đưa thư
xin thông thương buôn bán nhưng đều không được nhà vua chấp nhận.
Tháng 7 – 1822, “Tổng đốc Mạnh Nha Hố (tên đất) nước Anh Cát Lợi
là Hà Sĩ Định, sai Cá La Thoa Khắc mang thư đến dâng phương vật (500
khẩu súng tay, một đôi đèn pha lê lớn). Thuyền đến Đà Nẵng, Dinh thần
Quảng Nam dịch thư dâng lên. Trong thư chỉ xin thông thương, cũng như các
ngoại quốc khác, không dám xin lập phố để ở. Sai đưa đến Kinh. Cá La Thoa
Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb. Giáo dục, HN, 2004, tr.
101.
21


Khắc thành khẩn xin yết kiến. Vua nói: “Hắn là người của tổng đốc phái đi,
không phải do mệnh của quốc vương. Không cho”. Những phẩm vật dâng
biếu cũng không nhận. Sai hữu ty bàn định điều lệ về việc các nước đến
22


buôn, làm thư của Thương bạc bảo cho biết” . Tiếp đó, tháng 12 – 1824,
nước Pháp cũng cử một phái đoàn đem Quốc thư và phẩm vật tới xin thông
hiếu, tàu đến cửa Đà Nẵng, quan dinh Quảng Nam tâu lên, vua Minh Mạng
dụ rằng: “Nước Pháp với Anh Cát Lợi thù nhau, năm trước nước Anh thường
cầu nạp khoản, ta khước không chịu, nay có lẽ nào cho nước Pháp thông
hiếu, nhưng ta nghĩ đức Hoàng khảo ta khi mới khai quốc, có khiến ông Anh
Duệ thái tử qua nước Pháp, vẫn có ơn cũ, nếu khước ngay đi, e không phải ý
23

đãi người xa” . Sau đó, vua đề nghị Viện Thương bạc làm tờ thư trả lời phái
đoàn Pháp và thưởng cho một số đồ mang về; còn quốc thư và vật phẩm thì
không cho dâng lên. Tháng 11 – 1830, binh thuyền của nước Pháp lại đến
cửa biển Đà Nẵng, vua lệnh cho Thị lang Trương Đăng Quế, quyền chức
quan Viện Thương bạc, đến gặp thuyền trưởng của tàu nói chuyện: “Thuyền
trưởng ấy nói rằng vua nước Pháp muốn cùng nước ta giao hiếu, nhưng xa
cách biển khơi không đạo đạt được, nay nghe tin nước Hồng Mao (nước Anh)
mưu đồ xâm lấn đất Quảng Đông (Trung Quốc), thế tất rồi cũng lan đến
nước ta, nên vua nước ấy sai đến báo tin dặn ta đừng giúp Quảng Đông.
Trương Đăng Quế về tâu, vua cười nói rằng: “Nước ấy muốn mượn việc đó
làm ơn với ta để mong đạt kế muốn giao hiếu đó thôi. Nước Hồng Mao mưu
lấn nước Thanh, có can thiệp gì đến ta”. Lại sai Nguyễn Tri Phương đến bảo
cho họ biết. Khi Tri Phương đã về thuyền ấy vẫn còn dùng dằng chưa đi, tự
tiện lên núi Tam Thai (Non Nước) để xem xét, lại nói muốn được một người
hoa tiêu cùng đi ra các hạt Bắc Thành để vẽ đồ bản. Viên tấn thủ báo về, Bộ
Binh tâu lên. Vua nói: “Vào nước người ta tất phải hỏi các điều cấm. Vượt
qua hải phận có điều lệ nghiêm cấm huống chi muốn vào nước người mà vẽ
22
23

Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 2, Sđd, tr. 226.

Quốc sử Quán triều Nguyễn: Quốc triều chính biên toát yếu, Sđd, tr. 169.
20


địa đồ mang về sao họ vô lý đến thế. Tấn thủ không biết lấy lời lẽ nghiêm
nghị mà cự tuyệt, động một tý là tâu báo, sao lại không có định kiến như
thế”. Sai Tri Phương lại đến hiểu thị thuyền ấy mới đi. Bọn Thành thủ úy án
thủ hai đài thành An Hải, Điện Hải là Lê Văn Tường, Thủ ngự Đà Nẵng là
Nguyễn Văn Ngữ, Hiệp thủ là Trương Vân Loan, vì không ngăn cản được
24

việc họ lên núi đều bị cách chức” . Sau đó, vua điều người khác đến trấn thủ
hai đài này và lệnh xuống cho quan trấn thủ, từ nay nếu gặp thuyền nước
ngoài hoặc thuyền quan đậu ở cửa biển thì phải phái binh thuyền đi tuần xét
và cho viên án thủ đài hội đồng với viên trấn thủ mà làm cho ổn thỏa, nếu
việc phải tâu lên triều đình thì phải cho người báo ngay không được chậm trễ.
Tháng 11 – 1832, phái đoàn của nước Hoa Kỳ (khi đó gọi là nước Nhã
Di Lý) mang quốc thư đến đậu thuyền ở cửa Vũng Lẫm thuộc tỉnh Phú Yên,
muốn thông thương, buôn bán với nước ta. Vua Minh Mạng sai Nguyễn Tri
Phương, Lý Văn Phức cùng với quan tỉnh Phú Yên lên trên thuyền thiết tiệc
và hỏi ý họ đến làm gì. “Họ nói: chỉ đến vì muốn giao hiếu và thông thương,
nhưng dịch thư có nhiều chỗ không hợp thể thức, vua nói không cần dâng thư
lên rồi cho quan Thương bạc làm tờ trả lời, đại lược nói: “Nước ấy muốn xin
thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật
đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì chỗ đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà
Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư bảo họ
25

đi” . Đến tháng 9 – 1835, trước sự thay đổi của tình hình khu vực, vua Minh
Mạng càng tăng cường thêm việc kiểm soát đối với các tàu nước ngoài vào

Việt Nam, vua lệnh cho Bộ Binh: “Bộ phải tư ra các tỉnh miền biển về phía
Nam, hễ thấy có tàu lớn ghé lại ở địa hải phận tấn nào, thời người Tấn thủ
phải đem theo một người Thông ngôn hay là người Tàu hiểu tiếng Tây, đến
nơi xét hỏi tàu ở từ đâu mà tới, ấy là tàu trận hay tàu buôn cho rõ ràng, rồi
báo lập tức; nếu là tàu trận thời nhứt diện phi tâu, nhứt diện phái quân
24
25

Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 3, Nxb. Giáo dục, HN ,2004, tr. 118.
Viện Sử học: Đại Nam thực lục, Tập 3, Sđd, tr. 413.
21


×