Tải bản đầy đủ (.doc) (115 trang)

Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ tại Công ty TNHH Sinh Hoá Công Nghệ mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (745.53 KB, 115 trang )

Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết đại hội VI của Đảng đã đưa đất nước ta chuyển đổi từ nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước.
Do đó kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã có những bước chuyển
mình lớn lao, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO ngày 07/11/2006 đã
gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước ta. Cùng chung sự đổi mới toàn diện
của đất nước, hệ thống kế toán Việt Nam cũng có sự chuyển biến đáng kể nhằm
phù hợp với nền kinh tế đang phát triển, với tư cách là một công cụ quản lý góp
phần đảm bảo kinh doanh, công tác kế toán trở thành mối quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp vì kế toán đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu
trong mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Muốn đứng vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt,đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả, nâng cao chất lượng sản
phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu. Mặt khác, để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận, vật liệu là đối tượng lao động, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể
sản phẩm còn công cụ dụng cụ là tư liệu lao động góp phần quan trọng không
nhỏ trong quá trình sản xuất, nó được dịch chuyển từng phần giá trị vào chi phí
sản xuất, để làm tốt công tác đó doanh nghiệp cần thực hiện tốt từ khâu mua
vào đến khâu bảo quản sử dụng và dự trữ vật liệu, công cụ dụng cụ. Đối với
doanh nghiệp sản xuất, NVL là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản
xuất sản phẩm, là yếu tố chi phí chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá thành sản
phẩm. NVL không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm mà còn
ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy tổ
chức hạch toán kế toán NVL một cách khoa học, chặt chẽ, hợp lý và hiệu quả
sẽ giúp quá trình sản xuất diễn ra nhịp nhàng, đúng kế hoạch đồng thời sẽ tiết
kiệm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 1
đề tốt nghiệp


Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Sinh Hoá Công Nghệ mới,
nắm bắt được tình hình thực tế, kết hợp với kiến thức đã học trên giảng đường
đại học em đã nhận thức được vai trò quan trọng của việc hạch toán NVL,
CCDC ở công ty. Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thị Thanh
Loan, các anh chị trong phòng kế toán của công ty, em lựa chọn đề tài "Hoàn
thiện kế toán nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ tại Công ty TNHH Sinh Hoá
Công Nghệ mới" làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công tác tổ chức kế toán
nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng hạch toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Sinh
Hoá Công Nghệ mới.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu,công cụ dụng cụ tại Công ty TNHH Sinh Hoá Công Nghệ mới.

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 2
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Kinh tế

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC
KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Sự cần thiết phải quản lý và tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu,
công cụ trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Vật liệu, dụng cụ đều là hàng tồn kho thuộc tài sản lưu động. Đặc điểm chung
của vật liệu, công cụ dụng cụ là thời gian luân chuyển ngắn, thường là trong
vòng một chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc trong một năm. Tuy nhiên, mỗi loại
có công dụng, mục đích sử dụng hoặc đặc điểm khác nhau.
Vật liệu là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật hoá. Trong
các doanh nghiệp, vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, quản lý doanh nghiệp.
Đặc điểm của vật liệu:
+ Được mua sắm bằng vốn lưu động.
+ Nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định. Sau chu kỳ
sản xuất giá trị được bảo tồn và dịch chuyển toàn bộ vào sản phẩm.
+ Vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Mua ngoài, tự sản xuất,
nhận vốn góp liên doanh.....
Công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động chưa đủ tiêu chuẩn là tài sản
cố định (giá trị < 10,000,000đ, thời gian sử dụng < 1 năm).
Đặc điểm của công cụ dụng cụ.
+ Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, khi sử dụng bị hao mòn dần,
khi bị hư hỏng có thể sửa chữa, hỏng hẳn có thể thu hồi phế liệu, sau mỗi chu
kỳ sản xuất giá trị dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm.
+ Được mua bằng vốn lưu động, bảo quản ở kho như bảo quản vật liệu.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 3

đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
+ Công cụ dụng cụ sử dụng trong các doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động bán hàng và hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Nó được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Mua ngoài, tự sản xuất, nhận
vốn góp........trong đó, chủ yếu là mua ngoài.
1.1.2. Vị trí, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ trong doanh nghiệp sản xuất.
* Vị trí: Khi nhắc đến quá trình sản xuất là nhắc đến quá trình kết hợp của 3
yếu tố cơ bản: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Thiếu một
trong ba yếu tố đó thì doanh nghiệp không thể sản xuất được hoặc sản xuất sẽ
gặp phải khó khăn. Do đó vật liệu chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Việc quản lý chặt chẽ vật liệu co một ý nghĩa rất lớn trong việc phấn đấu
giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và tăng thu nhập cho doanh
nghiệp. Chính vì vậy việc tổ chức tốt công tác kế toán vật liệu đóng một vai trò
quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với công tác quản lý kinh tế tài chính của
doanh nghiệp.
* Yêu cầu quản lý vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Quản lý vật liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
Trong điều kiện như hiện nay, nền sản xuất ngày càng mở rộng và phát triển
trên cơ sở đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội. Sản phẩm tiêu thu nhiều thì doanh
thu đem lại càng cao, việc sử dụng vật liệu một cách tiết kiệm hợp lý, có hiệu
quả ngày càng được coi trọng.

Trước hết phải quản lý chặt chẽ quá trình thu mua, vận chuyển bảo quản,
sử dụng vật tư để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành một cách thuận lợi và nhanh chóng. Qua đó tạo điều kiện tốt
cho việc thực hiện tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, không
ngừng nâng cao chất lượng cuả sản phẩm, hàng hoá, là cơ sở để tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 4
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Ngoài ra, quản lý vật liệu chăth chẽ tránh những mất mát hư hỏng, giảm
bớt những rủi ro thiệt hại xảy ra trong quá trình sản xuất sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, quản lý tốt vật liệu còn là điều kiện tốt để xác định và đánh giá
tài sản của một đơn vị một cách đầy đủ, xác thực, đảm bảo tính trung thực
khách quan của số liệu, thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.
Với những ý nghĩa đó, việc quản lý vật liệu trong các doanh nghiệp sản
xuất phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Trong khâu thu mua: Phải quản lý về mặt số lượng, quy cách, chất lượng và
đúng chủng loại, Giá mua và chi phí thu mua của vật liệu phải được phản ánh
đầy đủ và chính xác, kế hoạch thu mua vật liệu phải đúng tiến độ thời gian, phù
hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trong khâu bảo quản: Tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bến bãi, chế độ bảo
quản đối với từng loại vật liệu nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những hư hỏng,
mất mát có thể xảy ra.

- Trong khâu sử dụng: Tổ chức tốt việc ghi chép phản ánh chính xác kịp thời
tình hình xuất dùng vật liệu, đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các
định mức và dự toán về nguyên vật liệu.
- Trong khâu dự trữ: để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra
bình thường, không bị ngừng trệ hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn quá nhiều, đòi
hỏi các doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu.
* Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh:
Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh gay gắt
giữa các doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Trong cuộc tranh đua này
ai biết cách quản lý, bố trí sắp xếp công việc nhịp nhàng theo một guồng máy,
không để sản xuất bị ngừng trệ thì doạh nghiệp đó sẽ thuận lợi và phát triển
hơn.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 5
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Vật liệu là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nếu quản lý và
sử dụng tốt sẽ tạo cho các yếu tố đầu ra những cơ hội tốt để tiêu thụ. Vì vậy
trông quá trình luân chuyển, việc giám sát chặt chẽ số lượng mua vào, xuất
dùng đảm bảo đúng yêu cầu đòi hỏi cán bộ kế toán vật liệu phải thực hiện
những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu
mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu về mặt số
lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời vật liệu cho

quá trình sản xuất, kiểm tra giá cả vật liệu và tính đúng giá thực tế của vật liệu
mua vào.
Thứ hai: áp dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán vê vật liệu, mở
sổ thẻ kế toán chi tiết để ghi chép, phân loại tổng hợp số liệu về tình hình biến
động tăng, giảm của vật liệu. Tính toán đúng trị giá vốn vật liệu xuất dùng,cung
cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Thứ ba: Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản dự trữ và sử dụng vật
liệu, kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch mua vật liệu, kiểm tra việc thực hiện
kế hoạch giá thành vật liệu mua vào, kiểm tra việc tuân thủ các định mức tiêu
hao vật liệu dùng vào sản xuất.
Thứ tư: Tham gia kiểm kê đánh giá lại vật liệu tồn kho theo đúng chế độ
nhà nước quy định, lập báo cáo về vật liệu phục vụ cho công tác quản lý, tiến
hành phân tích tình hình thu mua bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu nhằm
đưa ra đầy đủ thông tin cần thiết cho quá trình quản lý.
Như vậy tổ chức công tác kế toán vật liệu sẽ góp phần thúc đẩy cung ứng
kịp thời, đồng bộ vật liệu cần thiết cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng.
1.1.3. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
1.1.3.1. Phân loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
* Phân loại vật liệu:

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 6
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vât liệu được sử dụng với khối

lượng lớn, bao gồm nhiều loại khác nhau, vai trò công cụ kinh tế tính năng lý
hoá khác nhau và biến động thường xuyên liên tục hàng ngày. Để quản lý vật
liệu một cách chặt chẽ, khoa học, hợp lý thì phải phân loại theo những tiêu thức
nhất định.
Tuy nhiên việc phân loại cũng tuỳ thuộc vào từng loại hình trong doanh
nghiệp sản xuất khác nhau. Xong nhìn chung các doanh nghiệp sản xuất việc
phân loại vật liệu được chia thành các loại sau:
 Phân loại nguyên vật liệu theo nội dung kinh tế:
- Nguyên vật liệu chính : Là đối tượng chủ yếu của doanh nghiệp, đó là nguyên
vật liệu mà khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể vật
chất của sản phẩm như sắt, thép trong công nghiệp cơ khí. bông trong công
nghiệp dệt, vải trong công nghiệp may mặc...vv...
- Nguyên vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất,
được sử dụng với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hoặc
dùng để bảo quản, tăng chất lượng sản phẩm, tăng giá trị sử dụng của sản phẩm
hàng hóa ví dụ như: Thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn, hương liệu, xà phòng, dầu
mỡ, giẻ lau, thuốc chống ẩm...
- Nhiên liệu: Là vật liệu dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất
như than, củi, xăng dầu, hơi đốt, khí đốt...
- Phụ tùng thay thế: Là những chi tiết, phụ tùng dùng để sủa chữa và thay thế
cho máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, như: Vòng bi, vòng đệm, săm lốp...
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp,
không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ...) mà doanh nghiệp mua vào nhằm
mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản.
- Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hoặc bán ra ngoài như phôi bào, vải vụn, gạch, sắt, thép vv..

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 7
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1


Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Vật liệu khác: Là những vật liệu không nằm trong những vật liệu kể trên như
bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng..
- Tác dụng của cách phân loại này là cơ sở để xác định mục đích tiêu hao dự trữ
cho từng loại, từng thứ vật liệu và là cơ sở để hạch toán chi tiết vật liệu trong
doanh nghiệp.
 Phân loại nguyên vật liệu theo danh điểm.
Theo cách phân loại này người ta dựa vào tính chất lý, hoá tính của vật
liệu để phân loại vật liệu thành những nhóm sau:
- Nhóm kim loại (đen, màu).
- Nhóm hoá chất (chất ăn mòn, chất nổ).
- Nhóm thuỷ tinh, sành sứ.
- Tác dụng của cách phân loại này thống nhất được giá, ký hiệu được các loại
vật liệu sẽ giúp cho việc quản lý vật liệu tốt, việc quản lý kho bãi hợp lý, khoa
học sẽ góp phần bảo quản tốt vật liệu, tránh hư hỏng, mất mát..
 Phân loại vật liệu theo nguồn cung cấp.
- Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài:
+ Vật liệu góp vốn liên doanh
+ Vật liệu được cấp
+ Vật liệu góp vốn cổ phần
+ Vật liệu được biếu tặng
+ Vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự chế( do doanh nghiệp tự sản xuất)
- Tác dụng của cách phân loại này làm căn cứ cho kế hoạch thu mua và kế
hoạch sản xuất vật liệu, xác định giá vốn của nguyên vật liệu nhập kho.

 Căn cứ vào mục đích, công dụng:
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh gồm:
+ Nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 8
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
+ Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán
hàng, quản lý doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: Đi góp vốn liên doanh, đem biếu
tặng, nhượng bán.
* Phân loại công cụ, dụng cụ
 Phân loại theo nguồn hình thành:
- Công cụ dụng cụ mua ngoài
- Công cụ dụng cụ tự chế
- Công cụ dụng cụ thuê ngoài gia công chế biến
- Công cụ dụng cụ góp vốn liên doanh
- Công cụ dụng cụ được cấp
- Công cụ dụng cụ được biếu tặng
 Phân loại theo mục đích và nơi sử dụng công cụ dụng cụ.
- Dụng cụ dùng trực tiếp cho sản xuất kinh doanh: Dụng cụ giá lắp, dụng cụ đo
lường, dụng cụ cắt gọt.
- Dụng cụ chuyên dùng để chế tạo các đơn đặt hàng: Mô hình, khuôn đúc..
- Dụng cụ thay thế: Dùng để thay thế những dụng cụ dễ bị hao mòn (săm, lốp ô

tô..)
- Dụng cụ quản lý: Bàn, tủ, ghế, máy tính, dụng cụ thí nghiệm..
- Dụng cụ bảo hộ: Quần áo, giầy, mũ, kính, găng tay...
- Dụng cụ khác: Bóng điện, chổi quét nhà..
- Dụng cụ dùng cho tiêu thụ hàng hoá, vật liệu: Bao bì, cân..
 Phân loại theo hình thức quản lý:
- Công cụ dụng cụ ở trong kho (công cụ dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng
cho thuê)
- Công cụ dụng cụ đang sử dụng
 Phân loại theo các phương pháp phân bổ(theo giá trị và thời gian sử
dụng):
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 9
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Loại phân bổ 1 lần
- Loại phân bổ 2 lần
- Loại phân bổ nhiều lần
1.1.3.2. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị vật liệu
theo những nguyên tắc nhất định. Kế toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu, dụng cụ
phải theo trị giá vốn thực tế (giá gốc).
* Tính giá vật liệu theo giá thành thực tế của vật liệu, dụng cụ nhập kho:
 Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài:
Giá thực

Giá mua
tế của vật
liệu,dụng = ghi trên +
hoá đơn
cụ mua
ngoài

Thuế nhập
Chi phí
Giảm giá
khẩu phải +
thu mua
hàng mua
nộp
(nếu có)
(nếu có)

 Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ tự gia công chế biến:
Giá thực tế
Giá thực tế
của vật
của vật liệu,
=
+
liệu,dụng cụ tự
dụng cụ xuất
chế biến
chế biến
 Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến:
Giá thực tế của

Giá thực tế của
=
+
vật liệu,dụng
vật liệu, dụng
cụ thuê gia
cụ xuất thuê
công
 Đối với vật liệu, dụng cụ gia
nhậncông
vốn góp liên doanh:

Chi phí
chế biến

Chi phí
chế biến
Là giá do hội đồng

liên doanh đánh giá cộng các chí phí khác phát sinh khi tiếp nhận vật
liệu, dụng cụ.
 Đối với vật liệu, dụng cụ được cấp: Là giá ghi trên biên bản giao nhận và
các chi phí phát sinh khi tiếp nhận.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 10
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên



Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
 Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ nhận viện trợ, biếu tặng: Giá thực tế là
giá trên thị trường tương đương cộng các chi phí liên quan tiếp nhận (nếu
có).
* Tính giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho:
Để xác định giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho trong kỳ,
tuỳ theo từng đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, vào yêu cầu quản lý
và trình độ nghiệp vụ của kế toán mà doanh nghiệp có thể sử dụng một trong
những phương pháp sau đây (theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu
có thay đổi phương pháp phải giải thích rõ ràng).
- Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, giá thực tế của
vật liệu, công cụ được xác định theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc
nhập vào cho đến lúc xuất kho. Phương pháp này thường được sử dụng trong
các doanh nghiệp có ít loại vật liệu, dụng cụ hoặc chúng ổn định,có tính tách
biệt và nhận diện được.
- Phương pháp giá bình quân:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu, dụng cụ xuất kho được tính
theo công thức:
Giá thực tế vật liệu, = Số lượng vật liệu, x
Đơn giá xuất kho
dụng cụ xuất kho
dụng cụ xuất kho
bình quân
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 công thức
sau:
Cách 1:
Giá đơn vị bình = Giá thực tế vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
quân cả kỳ dự
Số lượng vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ

trữ
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao. Hơn
nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác quyết
toán nói chung.
Cách 2:
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 11
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Giá đơn vị bình = Giá thực tế vật liệu, dụng cụ tồn kho cuối kỳ trước (đầu
quân cuối kỳ
kỳ)
trước (đầu kỳ)
Số lượng vật liệu, dụng cụ tồn kho cuối kỳ trước (đầu kỳ)
Cách tính này đơn giản, đáp ứng được yêu cầu kịp thời của thông tin kế
toán nhưng kết qủa tính toán không chính xác vì không tính đến sự biến động
về giá cả của vật liệu, công cụ dụng cụ trong kỳ.
Cách 3:
Giá đơn vị bình quân = Giá thực tế vật liệu, dụng cụ tồn kho sau mỗi lần nhập
Số lượng vật liệu, dụng cụ tồn kho sau mỗi lần nhập
sau mỗi lần nhập
Cách tính này khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên,
vùa chính xác, vừa cập nhập. Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều
công sức tính toán nhiều lần.
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):

Theo phương pháp này thì số hàng nào nhập trước sẽ được xuất trước,
Xuất hết số hàng nhập trước mới xuất đến số hàng nhập sau theo giá thực tế của
số hàng mua vào sau cùng sẽ là giá trị hàng tồn kho cuối kỳ.
- Phương pháp nhập sau, xuất sau (LIFO):
Theo phương pháp này ngược lại với phương pháp nhập trước, xuất
trước, tức là đơn giá hàng nào nhập vào sau sẽ được xuất trước. Giá thực tế của
vật liệu ,công cụ dụng cụ xuất dùng sẽ tính theo giá của vật liệu, công cụ nhập
kho sau cùng. Phương pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát.
- Phương pháp giá hạch toán:
Theo phương pháp này toàn bộ vật liệu, công cụ dụng cụ biến động trong
kỳ được tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong
kỳ). Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế
theo công thức sau:
Trị giá thực tế của vật liệu, = Trị giá hạch toán của vật x Hệ số giá
dụng cụ xuất trong kỳ
liệu, dụng cụ xuất kho
Trong đó:
Trị giá vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ theo thực tế
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 12
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Hệ số = Trị giá vật liệu, dụng cụ tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ theo hạch toán
giá
Hệ số giá có thể tính cho từng loại hàng, từng nhóm hàng hoặc từng thứ

hàng chủ yếu tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý của từng đơn vị hạch
toán.
1.2. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
1.2.1. Chứng từ và sổ sách kế toán sử dụng
Chứng từ kế toán sử dụng:
- Phiếu nhập kho (Mẫu 01 - VT)
- Phiếu xuất kho (Mẫu 02 - VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03 - VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá (Mẫu 08 - VT)
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
- Hoá đơn giá trị gia tăng (Mẫu 01.GTKT)
- Hoá đơn bán hàng (Mẫu 02.GTKT- 2LN)
- Hoá đơn cước vận chuyển (Mẫu 03- BH)
Ngoài những chứng từ bắt buộc sử dụng trên các doanh nghiệp có thể sử
dụng thêm các chứng từ hướng dẫn sau:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (Mẫu 04- VT)
- Biên bản kiểm nghiệm (Mẫu 05- VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 07- VT)
Sổ sách sử dụng trong kế toán chi tiết vật liệu, dụng cụ tuỳ thuộc vào
phương pháp kế toán chi tiết mà doanh nghiệp sử dụng, thông thường có các
loại sổ sách sau:
- Thẻ kho
- Thẻ kế toán chi tiết vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá
- Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá
- Sổ số dư
- Sổ đối chiếu luân chuyển
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 13
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1


Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Phiếu giao nhận chứng từ nhập kho (hoặc xuất kho)
- Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho
1.2.2. Các phương pháp kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ.
Kế toán chi tiết vật liệu, dụng cụ trong các doanh nghiệp có thể theo một
trong ba phương pháp là phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu
luân chuyển và phương pháp sổ số dư. Nội dung, trình tự và cách thức kế toán
chi tiết theo từng phương pháp nói trên bao gồm công việc ghi chép của thủ
kho tại kho, của kế toán tại phòng kế toán.
1.2.2.1. Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp này việc hạch toán chi tiết vật liệu, dụng cụ tại các
doanh nghiệp được diễn ra như sau:
- Ở kho: Thủ kho căn cứ vào phiếu nhập, phiếu xuất vật tư , dụng cụ để thực
hiện việc nhập, xuất vật liệu, dụng cụ. Sau đó mới căn cứ vào phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho vào thẻ kho cho từng loại. Thủ kho có nhiệm vụ thường xuyên
đối chiếu giữa số tồn thực tế và số tồn trên thẻ kho để đảm bảo sổ sách và hiện
vật luôn khớp nhau. Sau mỗi khi ghi song thẻ kho, định kỳ (hàng ngày hoặc 3-5
ngày) thủ kho phải chuyển toàn bộ chứng từ cho phòng kế toán để kế toán ghi
sổ.
- Ở phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận được chứng từ do thủ kho chuyển lên,
kế toán nguyên vật liệu phải kiểm tra, đối chiếu các chứng từ ghi đơn giá và
tính thành tiền cho từng chứng từ, sau đó vào sổ chi tiết vật liệu, dụng cụ có
liên quan cả về mặt giá trị và số lượng. Cuối kỳ, kế toán phải tính toàn bộ số
nhập, xuất, tồn cho từng danh điểm vật liệu, dụng cụ cả về mặt giá trị và hiện
vật. Sau đó tiến hành đối chiếu với thẻ kho của thủ kho về mặt số lượng. Trên
cơ sở đó kế toán tiến hành lập bảng kê nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu,

dụng cụ, sau đó tiến hành đối chiếu với kế toán tổng hợp về mặt giá trị.
Sơ đồ 1: Hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp thẻ song song

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 14
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Thẻ kho

Phiếu xuất kho

Phiếu nhập
kho
Sổ kế toán chi tiết

Bảng kê
nhập,xuất,tồn

Sổ kế toán tổng
hợp
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Ghi đối chiếu hàng ngày
: Ghi đối chiếu cuối tháng.

- Ưu điểm : Phương pháp này đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu số liệu.
- Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về chỉ
tiêu số lượng, khối lượng ghi chép.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp ở các doanh nghiệp có quy mô
nhỏ, sử dụng ít chủng loại nguyên vật liệu, số lượng nghiệp vụ ít.
1.2.2.2. Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
- Ở kho: Theo phương pháp này thì nhiệm vụ của thủ kho giống như phương
pháp thẻ song song.

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 15
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Ở phòng kế toán: Mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhập,
xuất, tồn kho của từng thứ (danh điểm) vật liệu, dụng cụ theo từng kho, kế toán
phải phải lập các bảng kê nhập, bảng kê xuất trên cở sở các chứng từ nhập, xuất
định kỳ của thủ kho gửi lên. Cuối tháng kế toán nguyên vật liệu tiến hành kiểm
tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho về số lượng và
kế toán tổng hợp về mặt giá trị.
Sơ đồ 2: Kế toán chi tiết vật liệu, dụng cụ theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển

Thẻ kho
Phiếu nhập


Bảng kê
nhập

Phiếu xuất

Sổ đối chiếu luân
chuyển

Bảng kê
xuất

Sổ kế toán tổng hợp

Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Ghi đối chiếu cuối tháng
- Ưu điểm: Khối lượng ghi chép có giảm bớt hơn so với phương pháp thẻ song
song.

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 16
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về chỉ

tiêu số lượng. Việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán chỉ tiến hành
vào cuối tháng nên hạn chế tác dụng kiểm tra của kế toán.
- Phạm vi áp dụng: Thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật
liệu, dụng cụ. Nghiệp vụ phát sinh không nhiều, hệ thống kho tàng phân tán,lao
động kế toán không đủ để thực hiện ghi chép.
1.2.2.3. Phương pháp ghi sổ số dư
- Ở kho: Công việc cụ thể tại kho giống như các phương pháp trên. Định kỳ,
sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho
phát sinh theo từng vật liệu, dụng cụ. Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và
nộp cho kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất kho vật liệu, dụng cụ. Ngoài
ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu, dụng cụ tồn kho cuối tháng theo từng
danh điểm vào sổ số dư.
- Ở phòng kế toán: Định kỳ, nhân viên kế toán phải xuống kho để xuống kho để
hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng từ.
Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ (giá
hạch toán) tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng
từ. Đồng thời, ghi số tiền vừa tính được của từng nhóm vật liệu, dụng cụ (nhập
riêng, xuất riêng) vào bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng
để tính ra số dư cuối tháng của từng nhóm vật liệu, dụng cụ . Số dư này được
dùng để đối chiếu với cột thành tiền trên sổ số dư.

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 17
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Kinh tế

Sơ đồ 3: Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp sổ số

Thẻ kho
Phiếu nhập

Phiếu xuất

Giấy giao nhận
chứng từ nhập

Sổ số dư

Bảng kê luỹ kế
chứng từ nhập

Bảng tổng hợp
nhập - xuất tồn

Giấy giao nhận
chứng từ xuất

Bảng kê luỹ kế
chứng từ xuất

Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Ghi đối chiếu cuối tháng

- Ưu điểm:
+ Phương pháp này giảm được khối lượng ghi sổ kế toán do chỉ ghi theo chỉ
tiêu số tiền và ghi theo nhóm. Công việc được tiến hành đều trong tháng.
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên của kế toán với việc nhập, xuất
vật liệu, dụng cụ hàng ngày.
- Nhược điểm: Do kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị, nên muốn biết số hiện có
và tình hình tăng, giảm từng thứ nguyên vật liệu về mặt số lượng phải xem số

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 18
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
liệu trên thẻ kho, gây khó khăn cho việc đối chiếu, kiểm tra sai sót, nếu có
nhầm lẫn, sai sót thường khó phát hiện.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy
mô sản xuất lớn, mhiều chủng loại nguyên vật liệu, mật độ nhập xuất cao, trình
độ nhân viên kế toán cao và những doanh ngiệp tính vật liệu tồn kho theo giá
hạch toán.
Theo xu hướng hiện nay, phương pháp thẻ song song ngày càng được áp
dụng phổ biến. Trong điều kiện công tác kế toán ngày càng hiện đại hoá, các
doanh nghiệp sản xuất đang dần dần chuyển kế toán thủ công sang kế toán trên
máy, các phần kế toán trên máy giúp kế toán có thể xử lý một khối lượng ghi
chép lớn của phương pháp thẻ song song. Đồng thời với ưu điểm việc ghi chép
đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm tra, đối chiếu của phương pháp này rất phù hợp với
kế toán máy và được kế toán máy phát huy.

1.3. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh
nghiệp sản xuất.
Vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp.
Việc mở các tài khoản tổng hợp,ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị hàng tồn
kho, giá trị hàng bán ra hoặc xuất dùng trong kỳ phụ thuộc vào việc doanh
nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
hay kiểm kê định kỳ. Việc vân dụng phương pháp nào phải được thực hiện nhất
quán trong một niên độ kế toán.
Trong luận văn này em xin đi vào trình bày kế toán nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ theo phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê
định kỳ tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.
1.3.1. Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp kê khai
thường xuyên
* Đặc điểm của phương pháp kê khai thường xuyên:

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 19
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Phương pháp kê khai thường xuyên (perpetual inventory method) là
phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng
tồn kho một cách thường xuyên, liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại
hàng tồn kho. Phương pháp này sử dụng phổ biển ở nước ta hiện nay vì tiện ích
của nó. Tuy nhiên, nó không thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều chủng
loại vật tư, hàng hoá có giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, xuất bán vì nó tốn

rất nhiều công sức. Dầu vậy, phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp
thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật. Theo phương pháp này,
tại bất cứ thời điểm nào, kế toán cũng có thể xác định được lượng nhập, xuất,
tồn kho của từng loại hàng tồn kho nói chung và nguyên vật liệu nói chung.
* Tài khoản sử dụng: Để hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu, dụng cụ kế toán
sử dụng các tài khoản sau:
- TK 152 "Nguyên liệu, vật liệu": Tài khoản này được dùng để theo dõi giá trị
hiện có, tình hình tăng, giảm của các nguyên liệu, vật liệu theo giá thực tế. Có
thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ...tuỳ theo yêu cầu quản lý và phương
tiện tính toán.
Bên Nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của nguyên
liệu, vật liệu trong kỳ (mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp, phát hiện
thừa......).
Bên Có: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm giảm nguyên, vật liệu trong kỳ
theo giá thực tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, chiết khấu thương mại,
thiếu hụt khi kiểm kê...).
Số dư Nợ: Giá trị nguyên, vật liệu tồn kho cuối kỳ.
- TK 153 "Công cụ, dụng cụ": Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và
tình hình tăng giảm của công cụ, dụng cụ trong kỳ của doanh nghiệp theo giá
thực tế.
Nội dung kết cấu:

Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 20
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Kinh tế
Bên Nợ: Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm tăng giá thực tế của công cụ
dụng cụ nhỏ trong kỳ (do mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công chế biến, phát
hiện thừa khi kiểm kê....).
Bên Có: Phản ánh các nghiệp vụ làm giảm công cụ, dụng cụ nhỏ trong kỳ theo
giá thực tế (xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt khi kiểm kê.....).
Số dư Nợ: Giá trị thực tế của công cụ, dụng cụ tồn kho cuối kỳ.
- TK 151 "Hàng mua đang đi đường": Tài khoản này dùng để phản ánh giá
trị thực tế của từng loại vật liệu, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá mà doanh nghiệp
đã mua, đã chấp nhận thanh toán nhưng cuối tháng chưa về nhập kho và tình
hình hàng đang đi đường kỳ trước, kỳ này đã về nhập kho (kể cả số hàng gửi ở
kho người bán).
Nội dung kết cấu TK 151:
Bên Nợ: Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi đường
Bên Có: Phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá đang đi đường đã về nhập kho hay
chuyển giao thẳng cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.
Số dư bên Nợ: Giá trị hàng mua đang đi trên đường của doanh nghiệp chưa về
nhập kho.
- Kế toán phải mở sổ chi tiết để theo dõi hàng mua đang đi đường theo từng
chủng loại hàng, vật tư...
Ngoài các tài khoản trên doanh nghiệp còn sử dụng một số tài khoản liên
quan khác như: TK 111, 112, 133, 331......
1.3.1.1. Hạch toán biến động tăng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp được nhập từ nhiều nguồn khác
nhau. Để phản ánh chính xác kịp thời giá vốn thực tế của từng loại, từng thứ vật
liệu, dụng cụ nhập kho phải căn cứ vào chứng từ nhập vật liệu tuỳ thuộc theo
từng trường hợp cụ thể để hạch toán.
* Tăng do mua ngoài:
 Trường hợp hàng và hoá đơn cùng về.
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 21

đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
- Khi mua hàng về nhập kho, căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập, biên bản kiểm
nhận Nếu hàng về kho đủ theo hoá đơn, đúng quy cách, phẩm chất theo hợp
đồng
kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153: (Giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho chưa
thuế)
Nợ TK 133(1) : Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Có TK 111, 112, 141, 331......Tổng giá thanh toán
- Khi ứng trước tiền hàng hoặc trả tiền cho người bán
Nợ TK 331
Có TK 111, 112, 141.....
- Chi phí thu mua thực tế phát sinh:
Nợ TK 152, 153: Chi phí thực tế
Nợ TK 133(1) : Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Có TK 111, 112, 141, 331......Tổng giá thanh toán
- Trường hợp doanh nghiệp được hưởng giảm giá hàng mua (do mua nhiều,
hàng kém phẩm chất, sai quy cách, giao hàng chậm...), hàng đã mua trả lại cho
người bán. Kế toán ghi như sau:
Nợ TK 331: Trừ vào số tiền còn nợ người bán
Nợ TK 111, 112: Số tiền người bán trả lại
Nợ TK 138(8): Số tiền được người bán chấp thuận nhưng chưa trả
Có TK 152, 153: Xuất kho số giảm giá hay trả lại

Có TK 133(1): Thuế GTGT tương ứng
 Trường hợp hàng thừa so với hoá đơn:
Trong trường hợp khi hàng thu mua về kiểm nhận, nhập kho phát hiện
thừa so với hoá đơn. Về nguyên tắc, bên mua phải làm văn bản báo cho các bên
liên quan biết để cùng xử lý. Về mặt kế toán ghi như sau:
- Nếu nhập kho toàn bộ số hàng mua ngoài (kể cả số thừa):
Nợ TK 152, 153: Trị giá toàn bộ số hàng
Nợ TK 133(1) : Thuế giá trị gia tăng theo hoá đơn
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 22
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Có TK 338(1): Trị giá hàng thừa chưa có thuế
Có TK 331: Trị giá thanh toán theo hoá đơn
- Căn cứ vào quyết định xử lý, nếu trả lại cho người bán kế toán ghi:
Nợ TK 338(1): Trị giá hàng thừa đã xử lý
Có TK 152, 153: Xuất kho trả lại số hàng thừa
+ Nếu doanh nghiệp mua tiếp số hàng thừa, kế toán ghi:
Nợ TK 338(1): Trị giá hàng thừa đã xử lý
Nợ TK 133(1): Thuế giá trị gia tăng của hàng thừa
Có TK 331: Tổng giá thanh toán
+ Nếu thừa không rõ nguyên nhân, kế toán ghi tăng thu nhập khác:
Nợ TK 338(1): Trị giá hàng thừa chưa có thuế
Có TK 711: Số hàng thừa không rõ nguyên nhân
Lưu ý: Ngoài cách ghi trên, trị giá hàng thừa ghi ở TK 338(1) có thể ghi

nhận theo tổng giá thanh toán (cả thuế giá trị gia tăng đầu vào). Khi xử lý, kế
toán sẽ căn cứ vào quyết định để ghi sổ cho phù hợp.
- Nếu nhập kho theo hoá đơn: Kế toán ghi nhận số nhập kho bình thường như
trường hợp hàng về nhập kho đủ. Số thừa coi như giữ hộ người bán và ghi như
sau:
+ Giữ hộ người bán: Nợ TK 002
+ Khi xử lý số thừa: Có TK 002
Căn cứ vào quyết định xử lý kế toán hạch toán tương tự như trường hợp
doanh nghiệp nhập kho toàn bộ số hàng.
 Trường hợp hàng thiếu so với hoá đơn
Kế toán chỉ ghi tăng vật liệu, dụng cụ theo trị giá hàng thực nhận, số
thiếu căn cứ vào biên bản kiểm nhận thông báo cho bên bán biết và ghi sổ như
sau:
- Khi nhập kho, kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153: Trị giá thực tế nhập kho chưa thuế
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 23
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
Nợ TK 133(1) : Thuế giá trị gia tăng theo hoá đơn
Nợ TK 138(1) : Trị giá hàng thiếu chưa có thuế
Có TK 111, 112, 141, 331......Tổng giá thanh toán
- Khi xử lý số hàng thiếu: Nếu do người bán xuất nhầm và giao tiếp số hàng
thiếu:
Nợ TK 152, 153: Trị giá số hàng thiếu

Có TK 138(1): Số hàng thiếu đã xử lý
Trường hợp người bán không còn hàng, bên bán căn cứ vào biên bản
kiểm nhận vật tư, tiến hành lập hoá đơn GTGT chỉnh giảm cho hoá đơn GTGT
về số hàng thiếu đã lập để giao cho bên mua, kế toán bên mua căn cứ vào hoá
đơn điều chỉnh giảm, ghi:
Nợ TK 331: Trừ vào số tiền phải trả người bán
Có TK 138(1): Trị giá hàng thiếu đã xử lý
Có TK 133(1): Thuế GTGT của số hàng thiếu
+ Nếu cá nhân làm mất phải bồi thường:
Nợ TK 138(8), 334 : Cá nhân phải bồi thường
Có TK 138(1): Trị giá hàng thiếu đã xử lý
Có TK 133(1): Thuế GTGT của số hàng thiếu
+ Nếu không xác định được nguyên nhân, kế toán ghi tăng giá vốn trong kỳ:
Nợ TK 632: Số hàng thiếu không rõ nguyên nhân
Có TK 138(1): Xử lý số hàng thiếu
 Trường hợp hoá đơn về nhưng hàng chưa về (hàng mua đang đi trên
đường).
- Trong tháng khi hoá đơn về mà hàng chưa về, kế toán chưa ghi sổ ngay mà
lưu hoá đơn vào tập hồ sơ "hàng mua đang đi đường". Nếu trong tháng hàng về
thì ghi sổ bình thường.
- Nếu cuối tháng hàng chưa về, căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi:
Nợ TK 151: Trị giá mua của hàng đang đi đường chưa thuế
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 24
đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Khoa Kinh tế
Nợ TK 133(1): Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Có TK 111, 112, 141, 331......Tổng giá thanh toán
- Sang tháng sau hàng về, kế toán đối chiếu hoá đơn với phiếu nhập ghi:
Nợ TK 152, 153: Giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ về nhập kho
Nợ TK 621, 627, 641, 642: Xuất thẳng cho sản xuất sản phẩm,cho phân
xưởng...
Có TK 151: Hàng mua đang đi đường đã về
- Chi phí thu mua thực tế phát sinh hạch toán tương tự như trường hợp hàng và
hoá đơn cùng về.
 Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn.
Trong tháng nếu hàng về chưa có hoá đơn kế toán vẫn làm thủ tục nhập
kho như bình thường, nhưng chưa ghi sổ ngay mà lưu phiếu nhập kho vào tập
hồ sơ "hàng chưa có hoá đơn". Nếu cuối tháng hàng về thì ghi sổ bình thường.
- Nếu cuối tháng mà hoá đơn vẫn chưa về thì kế toán ghi sổ theo giá tạm tính
bằng bút toán:
Nợ TK 152, 153: Giá tạm tính
Có TK 331: Giá tạm tính
- Sang tháng sau, khi hoá đơn về nếu có sự chênh lệch giữa giá ở hóa đơn và
giá tạm tính, kế toán sẽ điều chỉnh sổ sách kế toán cho phù hợp với giá thực tế
bằng các phương pháp sau:
+ Phương pháp 1: Xoá giá tạm tính bằng bút toán đỏ, rồi ghi giá thực tế bằng
bút toán thường.
+ Phương pháp 2: Điều chỉnh số chênh lệch giữa giá thực tế với giá tạm tính.
Nếu giá tạm tính > giá thực tế thì ghi bút toán đỏ (chênh lệch giảm)
Nợ TK 152, 153: Chênh lệch giảm
Nợ TK 133(1) : Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Có TK 331: Tổng giá thanh toán
Nếu giá tạm tính < giá thực tế thì ghi bình thường (chênh lệch tăng)
Họ và Tên: Nguyễn Thị Thuỷ 25

đề tốt nghiệp
Lớp: TCĐHKT4-K1

Chuyên


×