Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Tác động của các quy định về “hạn điền” trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.65 KB, 17 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

KHOA LUẬT

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT VÀ PHÁT TRIỂN
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ “HẠN ĐIỀN” TRONG PHÁP
LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

GV: PGS.TS VÕ TRÍ HẢO
HỌ VÀ TÊN: TRẦN TRỌNG PHƯƠNG LOAN
EMAIL:
PHONE: 0914232030/0937712513
LỚP: THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ BD 2018 (K28-DC)

T11/2018


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[2]

MỤC LỤC

Contents
Contents.............................................................................................................2


1. Tổng quan các quy định về hạn điền..............................................................5
1.1. Khái quát về hạn điền.............................................................................5
1.1.1. Khái quát về hạn mức giao đất nông nghiệp...................................5
Hạn mức giao đất nông nghiệp theo Luật Đất đai 2013.............................8
1.1.2. Khái quát về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất......8
1.2. Tồn tại, hạn chế khi áp dụng các quy định về hạn điền ở Việt Nam......10
2. Tác động của các quy định về “hạn điền” trong pháp luật đất đai Việt Nam
đối với nông nghiệp Việt Nam......................................................................................12
2.1. Thành tựu..............................................................................................12
2.2. Hạn chế.................................................................................................12
2.2.1. Việc sử dụng đất nông nghiệp không hiệu quả...............................12
2.2.2. Chính sách hạn điền kìm hãm quá trình sản xuất lớn hay quá trình
công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp..............................................................13
2.2.3. Rào cản của các doanh nghiệp tiếp cận đất nông nghiệp...............13
3. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về hạn điền................................14
3.1. Đẩy nhanh quá trình tích tụ đất đai để sản xuất nông nghiệp tập trung.14
3.2. Xây dựng cánh đồng lớn.......................................................................15
3.3. Góp phần thành lập các công ty cổ phần..............................................15

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[3]
Kết luận...........................................................................................................16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................17
Chính sách tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp quy mô
lớn, ứng dụng khoa học công nghệ cao nhằm tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa nông
nghiệp đạt yêu cầu về cả chất lượng lẫn số lượng đã và đang được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm1. Nhà nước đã ban hành chính sách về đổi mới kinh tế nông
nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp nước nhà. Tuy nhiên,
quá trình tích tụ đất đai diễn ra chậm, nền nông nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn sản xuất
manh mún theo quy mô hộ tiểu nông, các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đến các sản
phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng cao. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền nông nghiệp đó là các quy định về “hạn
điền” trong pháp luật đất đai Việt Nam hiện nay.
Các chính sách, quy định về hạn điền luôn là điều mà người nông dân cũng
như những doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp quan tâm, trăn trở. Các chính
sách này đang dần trở thành chìa khóa để phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao.
Nhưng trong hơn 04 năm tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2014) các quy định về hạn điền đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến
việc tiếp cận đất đai vẫn là một trong những rào cản để cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh; quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp diễn ra còn chậm, chưa theo
kịp nhu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, cho phát triển nông nghiệp hàng
hóa quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng; đất
đai manh mún đang là yếu tố cản trở người dân và doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào
nông nghiệp. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành dự thảo để sửa
đổi bổ sung Luật Đất đai 2013 để khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên. Do đó,
1

Được thể hiện thông qua các văn bản: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
khóa VIII (tháng 12-1997); Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị (khóa VIII) tháng 11-1998; Nghị quyết số 19NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết 30/NQ-CP Phiên họp
thường kỳ Chính phủ tháng 02/2017.

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo


SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[4]
việc nghiên cứu những tác động của các quy định về hạn điền đối với nông nghiệp
cũng như đề xuất hướng hoàn thiện các quy định về hạn điền là vô cùng cần thiết để có
những đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình của đất nước và quốc tế, bảo vệ được
người nông dân trong tình hình mới.
Mỗi loại đất sẽ có mức hạn điền khác nhau và có tác động khác nhau đến nông
nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài tiểu luận hôm nay, người viết chỉ đề
cập đến hạn điền đối với đất nông nghiệp cũng như tác động của nó đối với nông
nghiệp Việt Nam.
Để trình bày ý tưởng một cách khoa học, đúng trọng tâm, trọng điểm người
viết thiết kế bố cục nội dung như sau:
1. Tổng quan các quy định về hạn điền
2. Tác động của các quy định về hạn điền trong pháp luật đất đai Việt Nam đối
với nông nghiệp Việt Nam
3. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về hạn điền
Kết luận

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988



Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[5]
1. Tổng quan các quy định về hạn điền
1.1. Khái quát về hạn điền
Hạn điền là một thuật ngữ được sử dụng trong các chính sách về đất đai của
những triều đại phong kiến trước đây. Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt
Nam hiện nay không sử dụng thuật ngữ “hạn điền” và cũng không quy định về “hạn
điền”. Do đó, hiện nay vẫn chưa có thống nhất về việc định nghĩa thuật ngữ hạn điền.
Theo như tìm hiểu của người viết thì có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa thuật
ngữ “hạn điền” như sau:
- Theo Từ điển Từ Mới Tiếng Việt thì hạn điền là giới hạn diện tích đất mà mỗi
hộ nông dân được phép canh tác2.
- Theo cách hiểu trong Giáo trình Luật Đất đai- Đại học Luật Hà Nội thì hạn
điền là diện tích đất nông nghiệp tối đa mà hộ gia đình, cá nhân được phép sử dụng
trên cơ sở đất được Nhà nước giao, nhận chuyển quyền hợp pháp từ người khác
hoặc do khai hoang, phục hóa. Người viết đồng tình với quan điểm này và sẽ phân
tích theo quan điểm này.
1.1.1. Khái quát về hạn mức giao đất nông nghiệp
Hạn mức nông nghiệp lần đầu tiên được quy định tại Điều 44 Luật Đất đai
1993. Khi ban hành Luật Đất đai 2003, quy định về hạn mức nông nghiệp đã được
chuyển thành hạn mức giao đất nông nghiệp và hạn mức nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nông nghiệp. Các quy định này tiếp tục được hoàn thiện khi Luật Đất đai
2013 được ban hành. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013 không giải thích thuật ngữ “hạn
mức giao đất”, nhưng trên cơ sở quy định của Điều 129 Luật Đất đai thì thuật ngữ
“hạn mức giao đất” là diện tích đất tối đa mà hộ gia đình, cá nhân được phép sử dụng
trên cơ sở được Nhà nước giao sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm


2

Viện ngôn ngữ học: Từ điển từ mới tiếng Việt, NXB tp.HCM, 2002, tr101

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[6]
nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối. Hạn mức giao đất cụ thể của từng loại đất
được Luật Đất đai 2013 quy định như sau3:
- Đối với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối:
Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 héc
ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.
- Đối với đất trồng cây lâu năm: Không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị
trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền
núi.
- Đối với đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất: không quá 30 hecta của mỗi
loại đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân.
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng
cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không
quá 05 héc ta. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm
thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở
đồng bằng; không quá 25 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao
đất rừng sản xuất không quá 25 héc ta.
- Đối với đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử
dụng: Luật Đất đai 2013 không quy định hạn mức giao đất cụ thể cho loại đất trống,
đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng mà giao cho Ủy ban nhân
dân tỉnh thẩm quyền quy định hạn mức giao đất đối với những loại đất nói trên.
Nguyên tắc để quy định hạn mức giao đất đối với nhóm đất này là “Hạn mức giao đất
trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá
nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, làm muối không quá hạn mức giao đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Luật
3

Điều 129 Luật Đất đai 2013

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[7]
Đất đai 2013”. Hạn mức giao đất của nhóm đất này không tính vào hạn mức giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân.
- Hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, trồng
rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối thuộc vùng đệm của rừng đặc dụng cho mỗi hộ gia
đình, cá nhân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 129 Luật
Đất đai 2013.

- Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do nhận chuyển nhượng,
thuê, thuê lại, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng
quyền sử dụng đất từ người khác, nhận khoán, được Nhà nước cho thuê đất không tính
vào hạn mức giao đất nông nghiệp nêu trên.
- Đối với diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng
ngoài xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì hộ gia đình, cá nhân
được tiếp tục sử dụng, nếu là đất được giao không thu tiền sử dụng đất thì được tính
vào hạn mức giao đất nông nghiệp của mỗi hộ gia đình, cá nhân.

Trồng cây hàng
Vùng/Mục đích sử dụng

năm, đất nuôi

Trồng cây lâu

trồng thủy sản,

năm

Đất rừng phòng
hộ, đất rừng sản
xuất

đất làm muối
Tỉnh thành phố trực thuộc
trung ương ở Đông Nam Bộ
và đồng bằng sông Cửu
Long
Tỉnh thành phố khác

Đồng bằng
Trung du, miền núi

03 ha

30 ha

02 ha

30 ha
30 ha
30 ha

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

10 ha
30 ha

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[8]
Hạn mức giao đất nông nghiệp theo Luật Đất đai 2013
1.1.2. Khái quát về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp là diện tích đất
tối đa mà một hộ gia đình, cá nhân được phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp

pháp từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác.
Việc nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào
mục đích nông nghiệp được thực hiện bằng các hình thức: nhận chuyển nhượng, nhận
tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo
lãnh bằng quyền sử dụng đất.
Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với từng loại đất
nông nghiệp được quy định tại Luật Đất đai 2013 và Điều 44 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) như sau:
- Đối với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:
Không quá 30 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 20 héc
ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Từ quy định
trên cho thấy hạn mức nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp ở miền Nam cao hơn
miền Bắc. Một trong những nguyên nhân cho sự khác biệt này là đất ở miền Bắc chủ
yếu là đất được nhà nước giao và tâm lý người dân muốn giữ lại cho con cháu, trong
khi đó đất ở miền Nam đa phần là do khai hoang, nhận chuyển nhượng nên họ dễ dàng
chuyển nhượng khi gặp khó khăn về tài chính hoặc muốn chuyển sang ngành nghề
khác.
- Đối với đất trồng cây lâu năm: không quá 100 héc ta đối với xã, phường, thị
trấn ở đồng bằng; không quá 300 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền
núi. Do đặc tính của cây lâu năm là phải qua một thời gian dài và diện tích rộng lớn thì

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”

trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[9]
mới khai thác được hiệu quả. Vì vậy, Nhà nước đã quy định hạn mức lớn hơn rất nhiều
so với nhóm đất trồng cây hàng năm.
- Đối với đất rừng sản xuất là rừng trồng: không quá 300 héc ta đối với các xã,
phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở
trung du, miền núi.
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổng diện tích được nhận
chuyển quyền trong hạn mức đối với mỗi loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng
cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối)
bằng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất cao nhất.
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
bao gồm nhiều loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản
xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) thì hạn mức nhận chuyển
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đó được xác định theo từng
loại đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 44 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
- Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển
quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển
quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2007 thì phần diện tích đất vượt hạn
mức được tiếp tục sử dụng như đối với trường hợp đất nông nghiệp trong hạn mức
nhận chuyển quyền.
- Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển
quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển
quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng đất và chỉ phải chuyển sang thuê đất của
Nhà nước đối với phần diện tích vượt hạn mức nhận chuyển quyền.


GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[10]
1.2. Tồn tại, hạn chế khi áp dụng các quy định về hạn điền ở Việt Nam
Luật Đất đai 2013 được ban hành đã tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật
đất đai đối với khu vực nông nghiệp nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng mở rộng hạn mức nhận
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân; khuyến khích nhận
góp vốn, thuê quyền sử dụng đất để tập trung đất đai. Tuy nhiên, qua thời gian thực
hiện các chính sách hạn điền theo quy định như hiện nay là chưa hợp lý và đang là một
trong những yếu tố hạn chế sự phát triển của dự án nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại,
có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cụ thể:
- Về hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 2013 quy định hạn mức giao đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng
thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
không quá 3 ha và nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp không được vượt quá
10 lần hạn mức. Như vậy hạn mức giao đất nông nghiệp là quá thấp so với thực tiễn,
diện tích nhỏ không thể áp dụng đồng bộ cơ giới hóa và tạo ra lượng sản phẩm đủ lớn
cung cấp ổn định cho thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu.
- Về những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất:
+ Tại Khoản 2, Điều 191 Luật Đất đai 2013 quy định thì: “Tổ chức kinh tế
không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất

rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử
dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt.”. Theo quy định này thì các doanh nghiệp có đủ tiềm lực về vốn,
công nghệ có nhu cầu sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng đất lúa,
đất rừng phòng hộ. Để có được đất lúa để thực hiện các dự án thì những doanh nghiệp
này phải thuê đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân; nhận góp vốn bằng quyền

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[11]
sử dụng đất nông nghiệp. Những hình thức này làm cho doanh nghiệp tốn nhiều chi phí
cho việc có được đất để thực hiện dự án. Quy định này đã và đang trở thành rào cản thu
hút các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp4.
+ Tại Khoản 3, 4 Điều 191 Luật đất đai 2013 quy định
“…3. Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được
nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
4. Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu
bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh
sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.”
Xét về khía cạnh pháp lý thì quy định trên không có tính khả thi. Bởi vì, trên
thực tế không phải cá nhân, hộ gia đình nào ở nông thôn cũng trực tiếp sản xuất nông
nghiệp và không phải cá nhân, hộ gia đình nào trực tiếp sản xuất nông nghiệp cũng

mặn mà, gắn bó, mong muốn phát triển hết mình trên diện tích đất nông nghiệp mình
được giao.
- Việc tiếp cận đất nông nghiệp của các doanh nghiệp: còn gặp khó khăn do
điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án quy mô lớn
trong nông nghiệp còn rất phức tạp, chưa có quy định trong việc hỗ trợ doanh nghiệp
thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân nên việc
triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quy mô lớn còn gặp
khó khăn.

4

Cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 8% tổng số doanh
nghiệp đang hoạt động trên cả nước; nhưng các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất các sản phẩm nông, lâm, thủy sản
chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp với số lượng 7.600 doanh nghiệp; còn lại là các doanh nghiệp trong
chuỗi các ngành liên quan đến nông nghiệp như chế biến hàng; cung cấp nguyên liệu đầu vào, doanh nghiệp dịch
vụ
thương
mại...(Theo
/>
GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[12]
2. Tác động của các quy định về “hạn điền” trong pháp luật đất đai Việt

Nam đối với nông nghiệp Việt Nam
2.1. Thành tựu
- Nhờ đổi mới các chính sách sử dụng đất nông nghiệp,mở rộng quy định hạn
mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng vùng đã khuyến khích người nông dân yên tâm sản xuất.
- Quy hoạch quỹ đất nông nghiệp cũng khá ổn định, lâu dài giúp người nông
dân yên tâm đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật và hình thành nên những vùng sản xuất
hàng hóa tập trung trong nông nghiệp, góp phần giải phóng sức lao động, đưa nông
nghiệp Việt Nam phát triển toàn diện và có nhiều sản phẩm có khối lượng xuất khẩu
chiếm thứ hạng cao trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, thủy
sản…
- Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp đã từng bước theo
nguyên tắc phù hợp với cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, nhờ đó bảo
đảm thị trường quyền sử dụng đất đai phát triển đúng hướng, ngăn chặn được đầu cơ,
đồng thời tạo nguồn vốn cho người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Chính
sách cũng tạo điều kiện để nông dân được góp vốn hoặc mua cổ phần bằng đất vào các
doanh nghiệp kinh doanh.
2.2. Hạn chế
Đất đai với vai trò là một tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế, do đó
các chính sách hạn điền tác động rất lớn đến nền nông nghiệp của quốc gia. Sau đây,
người viết xin phân tích một số tác động tiêu cực của chính sách hạn điền đối với nền
nông nghiệp Việt Nam.
2.2.1. Việc sử dụng đất nông nghiệp không hiệu quả
Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân còn rất thấp dẫn đến mức
lợi nhuận thu được từ những mảnh ruộng nhỏ không đủ để bảo đảm chi tiêu trong cuộc

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988



Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[13]
sống của họ. Rất nhiều nông dân vì làm nông nghiệp không hiệu quả, đã chuyển sang
lĩnh vực phi nông nghiệp nhưng họ vẫn muốn giữ đất như một sự bảo hiểm rủi ro vì ở
nông thôn thiếu hệ thống an sinh xã hội. Kết quả là, rất nhiều đất nông nghiệp không
được canh tác, bị hoang hóa.
2.2.2. Chính sách hạn điền kìm hãm quá trình sản xuất lớn hay quá
trình công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp
Ngày nay, thị trường đòi hỏi không chỉ sản lượng nông sản ngày càng lớn mà
chất lượng phải cao và đồng đều. Do đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển
sản xuất qui mô lớn đang trở thành xu hướng đang phát triển hiện nay. Sản xuất qui mô
lớn đòi hỏi sự tích tụ, tập trung đất đai ở một mức độ vừa đủ để có thể áp dụng những
tiến bộ kĩ thuật, đưa máy móc vào sản xuất, nhằm đảm bảo khai thác tối đa các công cụ
hiện đại làm tăng lợi thế về quy mô. Tuy nhiên, việc quy định mức hạn điền như hiện
nay đã không còn phù hợp với thực tế, kìm hãm quá trình tích tụ đất đai phục vụ cho
việc sản xuất quy mô lớn. Theo thống kê Tổng điều tra nông nghiệp, khoảng 90% đất
nông nghiệp là thuộc các hộ nông nghiệp và trang trại, 6% thuộc các doanh nghiệp và
số còn lại thuộc các cơ sở khác. Đa phần các hộ nông nghiệp đều có quy mô rất nhỏ.
Trong đó, nhóm hộ canh tác trên ruộng dưới 0,5 hecta chiếm tới 69%, nhóm có diện
tích từ 0,5 đến 2 hecta chiếm 25% và nhóm có diện tích lớn hơn 2 hecta chỉ chiếm 6%.
Từ số liệu trên cho thấy đây là một cản trở lớn làm hạn chế sức sản xuất, hạn chế khả
năng đầu tư dài hạn, thực hiện cơ giới hóa, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ
thuật tiên tiến để phát triển nông nghiệp hàng hóa, phân công lại lao động nông thôn
mà còn lãng phí đất nông nghiệp do có nhiều thửa, nhiều bờ, khó sản xuất lớn5.
2.2.3. Rào cản của các doanh nghiệp tiếp cận đất nông nghiệp
Doanh nghiệp có đủ tiềm lực về vốn, công nghệ có nhu cầu sản xuất nông

nghiệp không được nhận chuyển nhượng đất lúa, đất rừng phòng hộ. Việc tiếp cận đất
5

Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Australian và Đại học Nông nghiệp I Hà Nội: Phát
triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, 2007, tr.75.

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[14]
nông nghiệp của các doanh nghiệp còn gặp khó khăn do công tác công bố, công khai
quỹ đất dành cho phát triển nông nghiệp trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa
rõ ràng. Điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án quy mô
lớn trong nông nghiệp còn rất phức tạp, chưa có quy định trong việc hỗ trợ doanh
nghiệp thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân
nên việc triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quy mô
lớn còn gặp khó khăn.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về hạn điền
3.1. Đẩy nhanh quá trình tích tụ đất đai để sản xuất nông nghiệp tập trung
Để thúc đẩy tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô
lớn, cần tạo cơ chế đồng bộ để thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp phát triển.
Trong đó, cần sớm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận đối với đất nông nghiệp; giải
quyết dứt điểm việc cấp giấy chứng nhận sau khi dồn điền, đổi thửa; rà soát, hoàn thiện
các quy định về quyền của người sử dụng đất như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,

góp vốn, thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản hợp pháp gắn liền với đất; bổ sung
cơ chế để giải quyết đối với trường hợp người sử dụng đất không đồng thuận chuyển
nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất
nông nghiệp tập trung; sớm ban hành các chính sách khuyến khích việc thuê quyền sử
dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất nông
nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện các quyền của người
sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp tổ chức thực
hiện; thiết lập cơ chế tạo quỹ đất để phục vụ phát triển nông nghiệp tập trung, quy mô
lớn.
Bên cạnh với việc điều chỉnh mức hạn điền phù hợp với thưc tế thì phải ban
hành đồng bộ chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp để kiểm soát tình trạng đầu cơ,

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988


Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[15]
tình trạng bao chiếm đất nhưng không đưa đất vào sử dụng hoặc sử dụng không hiệu
quả.
3.2. Xây dựng cánh đồng lớn
Việc xây dựng các mô hình cánh đồng lớn hiện nay đều cho hiệu quả rõ rệt đối
với nông dân và các hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp tham gia liên kết 6. Không
chỉ giải quyết tình trạng manh mún, nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp, mô hình còn
tạo ra sản phẩm hàng hóa có khối lượng lớn, độ đồng đều cao, góp phần thúc đẩy, tạo
tiền đề kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nâng cao thu nhập

cho người dân. Tuy nhiên hiện nay, số diện tích triển khai chỉ chiếm gần 4% so với
tổng diện tích cây trồng. Số hộ nông dân, hợp tác xã tham gia liên kết xây dựng cánh
đồng lớn chưa nhiều. Hiện mới có hơn 10% các hợp tác xã thực hiện tiêu thụ nông sản
cho thành viên và nông dân trên địa bàn. Tỷ lệ bao tiêu sản phẩm qua hợp đồng chỉ đạt
bình quân gần 30%.
3.3. Góp phần thành lập các công ty cổ phần
Nếu thành lập công ty cổ phần nông nghiệp, sẽ có cả một quy trình khép kín,
từ sản xuất cho đến chế biến, tiêu thụ. Tuy nhiên, với hạn mức giao đất nông nghiệp
thấp, các công ty cổ phần trong nông nghiệp sẽ phải có số lượng cổ đông rất lớn. Trong
khi đó, việc quản lý công ty cổ phần có nhiều cổ đông chưa phù hợp với trình độ quản
lý của phần lớn chủ doanh nghiệp trong nông nghiệp hiện nay. Do vậy, việc mở rộng
hạn điền sẽ giúp người nông dân có cơ hội tiếp xúc với quy mô sản xuất lớn.

6

- Tăng năng suất, chất lượng và sản lượng lúa hàng hóa đồng nhất khối lượng lớn tạo điều kiện thuận
lợi tham gia thị trường lúa gạo địa phương.
- Giảm, tiết kiệm chi phí sản xuất thông qua áp dụng cơ giới hóa, kỹ thuật canh tác phù hợp (hạn chế
tác hại của điều kiện đất phèn mặn, nâng cao hiệu lực phân bón, phát huy ưu thế giống mới, tiết kiệm nước tưới
và thuốc bảo vệ thực vật) tự đó hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa.
- Góp phần bố trí lại lao động sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp tại HTX và giải phóng một
phần lao động chuyển sang ngành nghề khác để tạo ra sản phẩm mới, thu nhập mới cho nông dân.
- Cũng cố mối liên kết ngang giữa nông dân với nông dân thông qua tổ chức kinh tế hợp tác, nâng cao
vai trò quản lý, mở rộng dịch vụ của HTX với xã viên và từng bước hình thành chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm
(dịch vụ đầu ra) của HTX kiểu mới.

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988



Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[16]
Kết luận
Chính sách hạn điền là một trong những chính sách ảnh hưởng đến sự phát
triển nông nghiệp của một quốc gia. Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu để hoàn
thiện chính sách hạn điền nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ mới tập trung
nghiên cứu, phân tích về hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nông nghiệp, các điều kiện để được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nông nghiệp. Đây chính là lý do các chính sách hạn điền đã không đồng bộ sự phát
triển của lực lượng sản xuất, xu hướng phát triển tất yếu của ngành nông nghiệp và các
yếu tố khác. Nó làm chậm lại quá trình chuyên môn hóa và tích tụ đất đai quy mô lớn
trong sản xuất nông nghiệp, đất đai trở nên kém hiệu quả, manh mún, bị chia nhỏ.
Do đó, việc nghiên cứu và điều chỉnh hạn điền cần dựa vào thực trạng của các
yếu tố sau:
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp.
- Trình độ áp dụng KHKT của nông hộ.
- Sự phát triển của thị trường hàng hóa trong nông nghiệp.
- Tâm lý của nông dân đối với vấn đề đất đai.
- Đối tượng sản xuất và yếu tố vùng miền.

GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988



Tác động của các quy định về “hạn điền”
trong pháp luật đất đai Việt Nam đối với nông nghiệp Việt Nam

[17]
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.

Sách
1. Phạm Duy Nghĩa

2017 Phương pháp nghiên cứu Luật học

CAND
Đại học Luật Hà Nội

2016 Giáo trình Luật Đất đai

Nguyễn Đức Khả

2003 Lịch sử quản lý đất đai

Ngô Sĩ Liên

Đại Việt sử lý toàn thư (tập 2)

Viện Sử học 2007 Lịch sử Việt Nam (tập 4)

CAND

ĐHQG Hà Nội


Khoa học xã hội

Viện ngôn ngữ học 2002 Từ điển từ mới Tiếng Việt Tp.HCM
/> /> /> />
GV: PGS. TS Võ Trí Hảo

SV: Trần Trọng Phương Loan
SN: 14/7/1988



×