Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân nhằm bảo tồn rừng tại xã ba vì, huyện ba vì, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.92 MB, 51 trang )

Mục lục
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................3
2. Mục tiêu:.................................................................................................................... 4
3. Nội dung....................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM...................................................................5
1.1 Cơ sở lý luận quản lý rừng dựa vào cộng đồng....................................................5
1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM).....................................................5
1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM...........................................................................5
1.1.3. Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM........................................7
1.2 Tổng quan mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) ở Việt Nam......8
1.2.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)
..................................................................................................................................... 8
1.2.2 Xu thế của quản lý rừng dựa vào cộng đồng của Việt Nam........................10
1.2.3 Một số kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam.............................................11
1.3 Tổng quan về xã Ba Vì..........................................................................................12
1.3.1 Điều kiện tự nhiên...........................................................................................12
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội...............................................................................14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................17
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...........................................................................17
2.2. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................17
2.2.1. Phương pháp điều tra xã hội học.....................................................................17
2.2.2. Phương pháp thu thập số thứ cấp.....................................................................18
2.2.3. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)......................................................18
2.2.4. Phương pháp tổng hợp số liệu và viết báo cáo.................................................18
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................................20
3.1 Hiện trạng sinh kế của người dân tại vườn quốc gia Ba vì................................20
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất...................................................................................20
3.1.2 Sản xuất nông nghiệp.....................................................................................21
1




3.1.3. Hoạt động phi nông nghiệp:..........................................................................24
3.1.4 Các hoạt động khác........................................................................................27
3.1.5 Tổng thu nhập của người dân vùng đệm Ba Vì............................................27
3.2 Khảo sát tính khả thi khi thực hiện mô hình sinh kế bền vững để bảo tồn tài
nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở VQG Ba Vì........................................................29
3.2.1 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường..........................................29
3.2.2 Khả năng tham gia của người dân................................................................29
3.2.3 Mức độ tham gia của người dân....................................................................30
3.3 Đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho dân cư xã Ba Vì:...................................31
3.3.1 Phát triển nông nghiệp bền vững..................................................................31
3.3.2 Mô hình sinh kế bền vững với các hoạt động phi nông nghiệp...................33
KẾT LUẬN..................................................................................................................... 35
KIẾN NGHỊ.................................................................................................................... 36
Tài liệu tham khảo.........................................................................................................37
PHỤ LỤC........................................................................................................................ 39
Phụ lục 1: Phiếu điều tra............................................................................................39
Phụ lục 2: Ảnh thực tế................................................................................................46

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Rừng là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người nói
riêng và gần như tất cả sinh vật trên đất liền nói chung. Rừng có rất nhiều công dụng hữu
ích. Nó là nơi trú ẩn, sinh sống cho động vật, là ngân hàng gen giúp bảo tồn đa dạng sinh
học; cung cấp lâm sản như gỗ, thảo dược, thức ăn; chống xói mòn đất, điều hòa lượng
nước giúp duy trì nguồn nước ngầm. Không chỉ vậy, rừng còn góp phần chống lại các

thiên tai như bão lũ; cây rừng qua quá trình quang hợp sẽ cung cấp oxi giúp duy trì sự
sống của các sinh vật trên trái đất, hấp thụ bớt CO2 làm giảm nhẹ đi hiệu ứng nhà kính;
khu rừng có rất nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp đẽ và hoang sơ là nguồn lợi to lớn cho phát
triển du lịch. Tuy nhiên tài nguyên rừng không phải là vô tận, nếu không được bảo tồn và
khai thác hợp lý nó sẽ dần bị hủy hoại bởi các hoạt động của con người.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2018, nước ta có
14.491.295 ha rừng, độ che phủ là 41,65%, tăng 3,45% so với năm 2008. Tuy nhiên trên
thực tế tại Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồn
rừng. Trong đó đặc biệt có thể kể tới việc suy giảm diện tích rừng nguyên sinh. Theo báo
cáo của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2005, Việt Nam
là quốc gia có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh cao thứ 2 thế giới, chỉ sau Nigeria. Nguyên
nhân chính là do công tác quản lý còn yếu kém và tham nhũng, tiếp tay cho lâm tặc hay
phê duyệt các dự án chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang mục đích khác. Chính vì vậy việc
nâng cao chất lượng công tác quản lý và xã hội hóa, dân chủ hóa việc quản lý môi trường
rừng đang là một hướng đi mới vô cùng phù hợp và hiệu quả tại Việt Nam. Và để phát
triển theo hướng đi đó, chúng ta có thể áp dụng phương pháp quản lý môi trường rừng
dựa vào cộng đồng.
Vườn Quốc Gia Ba Vì nằm tại địa bàn thành phố Hà Nội và một phần của tỉnh
Hòa Bình với diện tích 11.462 ha (theo cục Kiểm Lâm). Nơi đây có tài nguyên rừng vô
cùng phong phú với 8.192,5 ha trong đó 51,27% là rừng tự nhiên và 2.752 ha là rừng
nguyên sinh. VQG Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao, 45 loài thú, 115 loài chim, 27
loài lưỡng cư, 61 loài bò sát, 86 loài côn trùng, trong đó có 23 loài động vật quý, hiếm có
trong sách đỏ (theo ban quản lý VQG). Dân cư ở VQG Ba Vì chủ yếu là dân tộc thiểu số
với người Mường chiếm 77,3% dân số (theo số liệu từ UBND tỉnh) và phụ thuộc vào khu
3


vực vườn Quốc gia bởi các hoạt động kinh tế từ du lịch, trồng rừng, cây ăn quả, trồng
mốc lấy măng và làm thuốc nam.
Việc bảo tồn VQG Ba Vì phải phụ thuộc rất nhiều vào người dân ở 7 xã thuộc khu

vực đệm của Vườn Quốc Gia. Chính vì vậy việc đảm bảo sinh kế, nâng cao đời sống
người dân nơi đây đồng thời giúp người dân có thể mưu sinh một cách bền vững, không
gây ra những tác động xấu tới tài nguyên rừng là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, nhóm
đã quyết định thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân
nhằm bảo tồn rừng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
2. Mục tiêu:
- Tìm hiểu hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì.
- Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì.
3. Nội dung
- Xác định hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì.
- Xác định mức độ và khả năng tham gia vào mô hình sinh kế mới của người dân xã Ba
Vì.
- Đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì.

4


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM.
1.1 Cơ sở lý luận quản lý rừng dựa vào cộng đồng
1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)
Mô hình sinh kế bền vững là một trong những mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng
đồng. Vậy nên trước tiên chúng ta cần phải hiểu quản lý môi trường dựa vào cộng đồng
là gì.
- PFM: participation forest management là một thuật ngữ chung mô tả cộng đồng trong
quản lý rừng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) là một dạng của phương pháp
PFM và được áp dụng cho khu đất thuộc quản lý cấp xã, những khu rừng giao cho tư
nhân quản lý hoặc được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã.
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia quản lý rừng
thuộc nguồn gốc hình thành thứ ba. Rừng trong trường hợp này cộng đồng là những chủ

thể quản lý trực tiếp tham gia và được hưởng lợi.
1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM
- Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: quản lý rừng dựa vào cộng đồng đưa ra hình
thức quản lý rừng ở cấp xã, nơi mà người dân địa phương đóng vai trò vừa là người quản
lý vừa là chủ rừng. Để triển khai mô hình này một cách tốt nhất thì một cơ quan ở cấp xã
là đại diện triển khai mô hình này. Vai trò của cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp đỡ
người dân quản lý rừng một cách hiệu quả và bền vững.
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình có thể áp dụng cho tất cả các loại
rừng:
+ CBFM có thể áp dụng cho bất kỳ loại rừng nào, những khu rừng có độ đa dạng
sinh học cao hay thấp, rừng nguyên sinh hay rừng đã bị suy kiệt, những khu rừng rộng
lớn hay nhỏ… điều quan trọng nhất là ta cần hiểu được rằng CBFM được áp dụng cho
những khu rừng và đất rừng thuộc địa bàn xã chứ không áp dụng mô hình này cho những
khu bảo tồn của địa phương hay quốc gia. Mục tiêu của mô hình CBFM có thể là bảo tồn
và phát triển cả rừng phòng hộ và sản xuất hoặc hỗn hợp cả hai loại rừng này. Trong một
vài trường hợp, người dân mong muốn bảo tồn rừng của họ vì truyền thống hoặc những

5


mục đích thiêng liêng, trong một vài trường hợp khác nó có thể để bảo vệ một nguồn
nước quan trọng.
- Người dân là mục tiêu tổng quan nhất của mô hình CBFM: người dân địa phương hoặc
cộng đồng trong trường hợp này là những người sống trong hoặc sống ngay bên cạnh
những khu rừng thuộc địa bàn xã của họ. Mối quan hệ lâu đời giữa người dân và những
khu rừng và sự gần gũi của họ với rừng khiến họ trở thành những người tốt nhất để quản
lý rừng bền vững.
- Cộng đồng không chỉ là những người bảo vệ mà còn là những người có quyền ra quyết
định: việc quản lý trong mô hình CBFM bao gồm tất cả những hình thức quản lý rừng,
bảo vệ rừng, đánh giá rừng thường kỳ, trồng rừng và những hoạt động phục hồi và phát

triển khả năng sản xuất của rừng. Người dân không chỉ phải có trách nhiệm quản lý rừng
đúng với mục đích mà còn có quyền đưa ra các quyết định. Điều này đã định hướng cho
cách thức hoạt động của mô hình. CBFM là một chiến lược phân chia quyền lợi. Nó thực
thi dựa trên cơ sở các chính sách của nhà nước trong việc cho phép sự tham gia của người
dân địa phương trong quản lý rừng và thực tế cần đưa ra những biện pháp kiểm soát và
quản lý ở cấp địa phương hợp lý hơn. Nó tập trung vào bảo tồn những khu rừng không
chỉ thông qua việc phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn phân chia quyền
sử dụng hay hưởng lợi từ chúng. Vì vậy mục tiêu của mô hình này là cộng đồng không
chỉ là những người hưởng lợi thụ động mà còn là những người hưởng tiền hoa lợi mà gắn
với đó là trách nhiệm quản lý rừng.
- Tối ưu hóa cơ cấu tổ chức xã hiện hành: CBFM không tạo ra những tổ chức, cơ quan
mới nhưng nó dựa vào cơ cấu hiện hành để tồn tại. Xã là đơn vị hành chính thấp nhất, là
tập hợp một cộng đồng người được thừa nhận là cùng chung sống trên một khu vực cụ
thể và có quyền bầu ra bầu ra cơ quan hành chính làm đại diện cho quyền lợi của cộng
đồng (ủy ban nhân dân xã) để quản lý những công việc của xã. Ủy ban nhân dân xã đã
đóng vai trò khá tích cực và có khả năng để vận hành mô hình CBFM tốt. ủy ban nhân
dân xã có quyền ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt
động của các thực thế trong phạm vi địa lý của xã đó, ủy ban nhân dân xã cũng là cơ quan
có trách nhiệm pháp lý đối với những người dân, hoạt động vì lợi ích của người dân.
Ranh giới giữa các xã có thể phân chia dựa theo những ranh giới tự nhiên, hoặc những
ranh giới chạy qua các khu rừng.

6


- Sử dụng khu đất dự trữ như là nền tảng cơ bản CBFM được dựa trên khu đất dự trữ đó
để xây dựng một vùng phát triển rừng (phòng hộ hoặc/và sản xuất). hai quá trình phân
chia đất dự trữ quan trọng diễn ra trong CBFM:
+ Người dân được giúp đỡ về kỹ thuật để xác định đặc tính của đất và phân loại
quỹ đất dự trữ ra khỏi những khu đất khác thuộc địa bàn xã.

+ Những nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng được giúp đỡ để xác định đặc tính và
phân chia những khu đất rừng dự trữ mà họ sẽ cùng nhau làm chủ.
- Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp:
Theo truyền thống, cán bộ kiểm lâm huyện đóng vai trò như một cảnh sát. Theo mô hình
mới, cán bộ kiểm lâm huyện hiện nay có một chức năng mới là giúp người dân nhận biết,
điều tra và quản lý rừng của họ vì lợi ích chung của cộng đồng. Cán bộ kiểm lâm giống
như một đối tác của cộng đồng, tư vấn cho họ làm cách nào để quản lý rừng tốt nhất
trong cả ngắn hạn và dài hạn. phương pháp luận của việc thiết lập mô hình CBFM dựa
vào cán bộ lâm nghiệp như là những cố vấn viên (khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn).
trong khi đang làm thay đổi mối quan hệ giữa cán bộ kiểm lâm với cộng đồng: từ vai trò
người chỉ đạo sang:
+ Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng: cung cấp những thông tin kỹ thuật thích hợp
+ Tạo ra sự liên kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện
+ Người trung gian hòa giải giữa các cộng đồng hoặc giữa các nhớm
+ Cảnh giới môi trường: cán bộ kiểm lâm giám sát tiến độ thực thi và họ biết lúc
nào cần hỗ trợ, lúc nào cần can thiệp nếu cộng đồng không tuân theo cam kết quản lý
rừng đã được ký kết.
Trong khi những kiến thức chủ yếu không phải từ đào tạo mà từ thực tế, những thành quả
đạt được thông qua cách giải quyết hợp lý khi cộng đồng phải đối mặt với một vấn đề và
khả năng nhận dạng và giải quyết các vấn đề tiếp theo được nâng lên.Hướng dẫn chứ
không phải ra lệnh, nhân viên kiểm lâm là những người giúp đỡ và tư vấn cho người dân
địa phương.
1.1.3. Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM
- Giai đoạn 1: Khởi động

7


Giai đoạn này được triển khai ở cấp huyện, với việc lựa chọn những xã và hướng
dẫn cho cán bộ huyện cộng với đó là hình thành một nhóm cán bộ với những kỹ năng

khác nhau để làm việc ở cấp xã. Tổ chức các cuộc gặp và cuộc họp cấp xã để việc thiết
lập và định hướng cho bản cam kết được thuận lợi hơn.
- Giai đoạn 2: Thực hiện quản lý và đánh giá
Giai đoạn này bắt đầu bằng việc xác định và quy hoạch lại ranh giới về đất và rừng
giữa các xã. Sau đó rừng sẽ được rà soát hoặc đánh giá và dựa vào đó một kế hoạch quản
lý sẽ được đưa ra cùng với những quy định của xã.
- Giai đoạn 3: Chính thức hóa và hợp pháp hóa
Kế hoạch quản lý và những quy định riêng của xã được đưa ra trong những cuộc
họp cấp xã để được thông qua và cuối cùng là được chấp thuận bởi ủy ban nhân dân cấp
huyện. khi đã được phê duyệt, xã có thể chuyển sang giai đoạn 4 và bắt đầu thực hiện kế
hoạch quản lý rừng của họ.
- Giai đoạn 4: Thực thi
Giai đoạn này sẽ được triển khai ở cộng đồng. hệ thống quản lý rừng cần bổ nhiệm
và đào tạo đội tuần tra với chức năng ban đầu là giám sát và đảm bảo rằng những quy
định đã được phổ cập tới từng người dân. Huyện đảm nhiệm vai trò quan trắc và hỗ trợ
bằng việc giám sát tiến độ và giúp giải quyết các vấn đề.
- Giai đoạn 5: Xem xét và đưa ra những đề xuất hợp lý
Sau năm năm cộng đồng sẽ được xem xét và phê duyệt lại kế hoạch quản lý của họ
dựa vào những gì đã làm được trong khoảng thời gian đó. Từ đó có thể rút ra những bài
học kinh nghiệm và thay đổi những cách thức không còn phù hợp.
- Giai đoạn 6: Mở rộng mô hình sang những địa bàn khác
Giai đoạn này là giai đoạn triển khai mô hình ở những xã khác. Trong suốt giai
đoạn này chúng ta cần đưa ra những kế hoạch cụ thể và dự thảo ngân sách cho việc mở
rộng mô hình sang xã khác.

8


1.2 Tổng quan mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)

Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi, thôn, bản,
buôn là đơn vị xã hội truyền thống, cơ bản trong nông thôn, miền núi cấu thành đơn vị
hành chính cơ sở, có tính tương đối độc lập và ổn định cao, là cộng đồng dân cư tự nhiên
của các tộc người có mối quan hệ ràng buộc, bởi có chung các yếu tố như: chung nơi cư
trú, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, chung văn hóa, biểu hiện rõ nét trong ngôn ngữ và tập
quán thống nhất của cộng đồng và chung huyết thống. Mỗi thôn buôn đều có quy định rõ
ràng về đất đai của mình. Ranh giới thường căn cứ vào sông suối, mảnh đất, vạt ruộng mà
cư dân trong thôn, bản canh tác từ lâu đời… Có thể có những đường ranh giới chỉ mang
tính ước lệ, nhưng đều được các cộng đồng thôn bản bên cạnh thừa nhận và tôn trọng.
Ranh giới này thường do người già và người có công khai phá vùng đất đó hoạch định.
Cương vực của thôn không phải chỉ là khu vực đất cư trú, thường bao gồm: đất ở, đất
canh tác, là những phần rừng đã được khai phá đưa vào canh tác: nương rẫy đang gieo
trồng, ruộng bãi… đất dự trữ là những cánh rừng sẽ được khai phá trong thời gian những
mùa rẫy sắp tới và những rẫy cũ đang bỏ hoá, đất cấm canh tác là những rừng đầu nguồn
nước, rừng trên chóp núi để giữ nước, chống xói mòn và những khu rừng làm nơi chôn
cất người chết, rừng thờ cúng, rừng thiêng, rừng sử dụng vào mục đích lấy gỗ, lâm sản,
săn bắn; bến nước, nơi đánh bắt cá… Các dân tộc thiểu số thường có có tập quán quản lý
cộng đồng với đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong địa phận thôn buôn. Trước đây, với
tập quán làm nương rẫy phổ biến thì tài nguyên quan trọng đối với cộng đồng là rừng và
đất rừng. Tuy có vài khía cạnh khác nhau, nhưng nét đặc trưng chung nhất trong việc
quản lý đất đai, tài nguyên của các dân tộc thiểu số là quản lý theo cộng đồng thôn buôn,
bản. Theo các quan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sở hữu và quyền sử dụng
đất đai, tài nguyên rừng trong thôn là sở hữu cộng đồng, của tất cả các thành viên trong
thôn bản, mọi thành viên trong cộng đồng đều được bình đẳng trong việc khai thác sử
dụng theo luật tục/quy ước của thôn do sự điều khiển của già làng, trưởng bản, người
ngoài cộng đồng không được vi phạm.
Chẳng hạn người dân ở vườn quốc gia Ba Vì có tập quán phân loại rừng núi thành
các khu vực, nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống cộng đồng: rừng phòng
hộ nằm trên các khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác, rừng dành cho việc


9


khai thác tre gỗ dựng nhà và các nhu cầu khác thì tuyệt đối không được phát nương làm
rẫy, thường là vùng núi cao.
Ở Việt Nam rừng và cộng đồng dân cư địa phương có mối quan hệ rất mật thiết, có
ảnh hưởng qua lại trực tiếp với nhau bởi các đặc điểm sau:
- Đặc điểm về tập quán. Trên diện tích đất quy hoạch cho sản xuất Lâm nghiệp có
khoảng 24 triệu dân sinh sống với 54 dân tộc, chủ yếu sinh sống ở vùng núi. Đời sống
của đồng bào rất gắn bó với rừng, một số lượng không nhỏ dân cư này có cuộc sống phụ
thuộc vào rừng, từ đất rừng để làm nương rẫy, đến khai thác gỗ, củi thu hái lâm sản và
săn bắt chim thú...
- Đặc điểm về xã hội. Trong đời sống xã hội của người dân vùng Ba Vì thì tính
cộng đồng thôn bản là một thể chế xã hội cơ bản đã có từ lâu và đến nay vẫn còn tồn tại.
Mỗi khu vực có một lối sống riêng, một quy ước riêng do cộng đồng tự xác lập, được các
cộng đồng khác thừa nhận và tôn trọng. Các cộng đồng này có truyền thống riêng về sở
hữu, sử dụng đất đai, trong đó tính sở hữu theo quản lý cộng đồng là một đặc điểm nổi
bật. Qua nhiều biến động về chính trị xã hội, các truyền thông trên tuy có bị mai một,
nhưng vẫn được duy trì trong công tác quản lý rừng.
1.2.2 Xu thế của quản lý rừng dựa vào cộng đồng của Việt Nam
Rừng cộng đồng đang tồn tại như một xu thế mang tính khách quan và ngày càng
có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam. Tính đến
nay diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý chiếm khoản 15,5% diện
tích đất lâm nghiệp của cả nước (Trong đó được cấp có thẩm quyền giao chiếm khoảng
51%) Vị trí pháp lý của cộng đồng dân cư làng bản, trước khi có Luật bảo vệ và phát triển
rừng công bố năm 2004. Trong thời gian gần đây đã có một số Nghị quyết của Đảng và
văn bản của Chính phủ đề cập đến một số nội dung có liên quan đến vị trí của cộng đồng
dân cư làng bản như là:
- Xác định nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng hương ước.
- Xác định các vùng người dân xung quanh không phải là một cấp chính quyền,

nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp
và rộng rãi nhằm giải quyết công việc trong một bộ phận cộng đồng dân cư. Người đại
diện cho cộng đồng dân cư trực tiếp liên hệ, đề đạt nguyện vọng của cộng dân cư với cấp

10


chính quyền cơ sở (uỷ ban nhân dân xã). Người đại diện do nhân dân bầu ra và được uỷ
ban nhân dân xã công nhận.
- Điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư. Có cùng phong tục, tập quán, có
truyền thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hóa, tín ngưỡng, có
khả năng quản lý rừng, có nhu cầu được giao rừng và phải phù hợp với quy hoạch, kế
hoạch bảo vệ và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với khả năng qũy đất của địa phương.
- Các khu rừng được xem xét giao cho cộng đồng thôn gồm có 3 loại:
+ Các khu rừng hiện do cộng đồng thôn đang quản lý có hiệu quả.
+ Các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng và lợi ích khác
của cộng đồng mà không thể giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý.
+ Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các xã, huyện, không thể giao cho tổ chức hộ
gia đình, cá nhân quản lý.
1.2.3 Một số kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam
a. Xã Phúc Sen - Cao Bằng
Xã Phúc Sen là một xã vùng cao với dân số 2.027 người, trong đó đa số là người
dân tộc Nùng An, sống ở 12 bản. Người dân sống bằng nghề nông và ít liên hệ với thị xã
Cao Bằng, nơi cách xã Phúc Sen khoảng 40 km. Xã Phúc Sen có diện tích 1.300 ha trong
đó 23 ha là khu dân cư, 267 ha là đất nông nghiệp và 1.010 ha là đất rừng. Trước đây,
nhân dân xã Phúc Sen đã phải đương đầu với tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng và
người dân có mức sống rất thấp. từ năm 2003 thực hiện áp dụng mô hình quản lý rừng
dựa vào cộng đồng cuộc sống của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác. Việc giao đất
được thực hiện chủ yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại hiện trường. Mỗi

làng được giao quản lý hai hay ba ngọn núi đá vôi riêng biệt hay một nửa sườn núi.
Thông qua việc bàn bạc và dàn xếp với dân làng, xã đã giao rừng trên cơ sở vị trí đất
rừng, khả năng quản lý rừng và mức độ phụ thuộc vào các khu rừng đó của người dân.
Sau đó các bản làng lại giao lại cho các hộ dân sử dụng và quản lý dựa trên các quy định
riêng của từng bản, làng. Trong diện tích do bản quản lý, người dân được phép lấy củi sau
khi đã được phép của lãnh đạo trong bản. Nếu xảy ra tình trạng chặt cây trái phép, thì
người vi phạm bị phạt 5kg gạo cho 1kg củi chặt trái phép. Sau hơn 5 năm thực hiện mô
hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã mang lại cho người dân cũng như những khu
11


rừng nơi đây những thay đổi đánh kể. các khu rừng già bị chặt phá trước dây đã phục hồi
bình tốt che phủ một diện tích trên 71 ha. Khoảng 176 ha đã tái sinh tốt và bình quân một
ha có 412 cây con được trồng bổ sung. Đời sống của người dân trong bản được nâng cao
nhờ các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
b. Sơn La
Sơn La là tỉnh vùng cao nằm phía Tây Bắc Việt Nam. Tổng diện tích tự nhiên toàn
tỉnh là 1.421.000 ha. Trong đó đất lâm nghiệp có 1.034.100 ha, đất nông nghiệp có
147.360 ha, đất khác và núi đá chiếm 239.530 ha. Trong điều kiện khi mà tài nguyên
rừng đã cạn kiệt, nền nông nghiệp đang đứng trước những thử thách mới. Sơn La đã áp
dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng. Lâm
Nghiệp đang dần chuyển hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xây
dựng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nông
lâm kết hợp. Bình quân mỗi năm tỉnh đã trồng 4000 – 5000 ha rừng tập trung, hơn 1 triệu
cây phong trào, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha, bảo vệ 162.000 ha rừng hiện còn, đưa độ
che phủ rừng lên 11,5%. 25.000 hộ nông dân đã nhận khoán bảo vệ rừng. Bộ mặt nông
thôn đang từng bước được cải thiện về thu nhập: có 1,72% số hộ giàu, 8,3% hộ khá,
70,3% hộ trung bình, còn 19,5% hộ nghèo. Đổi mới sinh hoạt của hộ gia đình: nhà kiên
cố 10,45%, nhà bán kiên cố 31,36%, được dùng điện 28,25%, dùng nước giêng 17,15%.
1.3 Tổng quan về xã Ba Vì

1.3.1 Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã Ba Vì là một trong 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, nằm ngay dưới chân núi Ba Vì có
nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nông lâm kết hợp.

12


Hình: Vị trí địa lý xa Ba Vì, huyện Ba Vì, TP .Hà Nội (Qua ảnh VT Google Map)
-

Phía Bắc giáp xã Ba Trại và xã Tàn Lĩnh

-

Phía nam giáp xã Khánh Thượng

-

Phía đông giáp xã Vân Hòa

-

Phía Tây giáp xã Minh Quang

b. Địa hình:
Xã Ba Vì cách trung tâm huyện khoảng 28 km, có đường tỉnh lộ 45 chạy qua, có hệ thống
đường giao thông liên thôn, liên xóm thuận tiện, tạo điều kiện về giao lưu kinh tế và đi lại
với các xa trong huyện.
Xã Ba Vì có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng theo định hướng nông lâm

nghiệp kết hợp.
Nhìn chung địa hình xã Ba Vì từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây có 7 dốc cao, địa
hình rộng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng.
c. Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu:

13


Ba Vì có nhiệt độ bình quân năm là 23,4oC, ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống
tới 2,7oC, nhiệt độ tối cao lên tới 42 oC, ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm là 20,6 oC,
Từ độ cao 1.000m trở lên nhiệt độ chỉ cong 16 oC. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống
0,2oC. Nhiệt độ cao tuyệt đối chỉ còn 33,1oC. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân
bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%.
Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 1, tháng 12. Từ cốt 400 trở lên, khí hậu ít khô
hanh hơn khu vực dưới cốt 400. Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40%. Mùa hạ có gió
Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam.
- Thủy văn:
Sông Đà chảy ở phía Tây Bắc núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như
Suối ổi, Suối Ca, Suối Mít, Suối Ba Gò, Suối Xoan, suối Yên Cư, suối Củi…Thường
xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng. Bên cạnh còn
có các hồ chứa nước nhân tạo như Hồ Suối Hai, Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn, Hồ Cóc Cua
và các hồ chưa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha
đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân. Đồng thời, tạo nên không gian thắng cảnh
tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu du lịch và thắng cảnh cho du khách.

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Tình hình phát triển kinh tế
Sản xuất lương thực: Năng suốt lúa 2 vụ của xã đạt trung bình 196.3 tấn/năm, bình
quân cho hộ đạt 401kg/hộ/năm. Sản lượng cây sắn đạt 680 tấn/năm , sản lượng cây Dong

diềng đạt 100 tấn/năm, sản lượng cây chè đạt 144taans/năm, sản lượng cây bương đạt
570 tấn/năm. Tuy hiên, sản lượng lương thực không đủ tiêu dùng tại chỗ mà nhiều hộ vẫn
phải mua từ bên ngoài vào.
Chăn nuôi: Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt. Ngoài việc cung
cấp sức kéo, trâu bò còn cung cấp phân bón phục vụ cho sản xuất, góp phần tăng năng
xuất cây trồng, cung cấp thực phẩm tại chỗ. Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi trong
vùng gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp.
Khai thác rừng tại vùng Đệm: khai thác chủ yếu từ rừng trồng Keo, Bạch đnà trong
các vườn hộ. Sản lượng khai thcas năm 2014 khoảng 10.000 cây Luồng và 500 khối gỗ
Keo.
14


Khai thác nguồn lâm đặc sản: là cây thuốc trong rừng tự nhiên: Hiện nay, tại các
bản Yên Sơn và Bản Hợp Nhất thuộc xã Ba Vì, nhiều hộ gia đình người Dao có nghề
thuốc cổ truyền. Hầu hết cây thuốc được lấy từ rừng tự nhiên trên Núi Ba Vì (vùng Lõi).
Việc khai thác quá mức và thiếu kiểm soát đã làm giảm mạnh về số lượng và chất lượng
của nhiều loài cây thuốc quý chữa các bệnh xương khớp, bệnh gan, thận, các bệnh phụ
nữ… Đây thực sự là điều cảnh báo, nếu Vườn và địa phương không kiểm soát chặt chẽ
hoặc không có phương án quy hoạch bảo vệ và gây trồng thì một số loài cây thuốc quý có
nguy cơ không còn.
Canh tác nương rãy: Nhiều nương rãy nơi tập trung, nơi xen kẽ hiện đang được bà
con xã Ba Vì canh tác cũng nằm trong phân khu phục hồi sinh thái. Tuy nhiên, diện tích
này được người dân canh tác từ lâu đời. Canh tác chủ yếu trồng cây sắn, một số diện tích
trồng luân canh. Nhìn chung, năng suất ngày càng giảm dần do đất bạc mầu rửa trôi.
Sản xuất tiêu thủ công nghiệp: Trên địa bàn vùng Đệm có 2 cơ sở sản xuất, quy mô
của các cơ sở nhỏ (số lao động trong các cơ sở này từ 10 – 20 người) lực lượng lao động
là người địa phương. Cơ sở sản xuất thủ công, dịch vụ thương mại chủ yếu do gia đình tự
làm.
Tính đến 30/11/2015 thì tổng thu nhập từ nông nghiệp đạt 9 tỷ 371 triệu đồng, từ

chăn nuôi đạt 2 tỷ 800 triệu đồng, từ thuốc nam đạt 9 tỷ 600 triệu đồng và từ thu nhập
khác đạt 3 tỷ 100 triệu đồng.
b. Dân số, lao động, thu nhập và mức sống:
Trên địa bàn xã dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao. Dân số của xã có 2.177
khẩu, số hộ là 489 hộ gia đình, số lao động là 880 người, mật độ dân số trung bình là
72,87 người/km2, dân cư sông chủ yếu bằng nghề nông nghiệp chiếm 94% ngành
nghề khác 4,8%, cán bộ công nhân viên nhà nước 1,2% tỷ lệ dân số tự nhiên bình
quân nhưng năm gần đây từ 0,9% đến 1,2% tăng dần số cơ học không có.
Mức thu nhập của cộng đồng dân cư xã Ba Vì thấp, chủ yếu ở mức dưới 700.000
đồng (1 người/hộ/năm) đây là mức thư nhập của hộ nghèo, cận nghèo trên 700.000
đồng (1 người/hộ/năm), hộ trung bình 1.000.000 đồng (1 người/hộ/năm) hộ khá giả từ
1.500.000 – 2.000.000 đồng (1 người/hộ/năm)
c. Y tế, giáo dục:

15


Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được thường xuyên quan tâm.
Mạng lưới y tế được cũng cố từ xã đến cơ sở thôn bản. Từng bước nâng cao chất lượng
khám và điều trị, hoạt động y tế dự phòng có chuyển biến, dịch bệnh xảy ra được dập tắt
kịp thời. Tổ chức tốt các chương trình y tế Quốc gia như tiêm chủng mở rộng. Công tác
dân số gia đình và trẻ em được các cấp, các ngành quan tâm chúng đúng mức để động
viên kịp thời, tổ chức thực hiện tốt chương trình chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia
đình cho tất cả cộng đồng.
Các cấp học được duy trì và phát triển đồng đều, hệ thống trường lớp được bố trí hợp
lý trên địa bản xã.
Nhà trẻ mẫu giáo. Hiện có một trường mầm non bán công với 60 cháu vào học, số
cháu vào mẫu giáo 176 cháu.
-


Trường tiểu học: Có 703 học sinh, 44 giáo viên với cơ sở hạ tầng gầm 4 cơ sở đào
tạo, đã có một trường đã được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn một.

-

Trường THCS: có 670 học sinh, 36 giáo viên với cơ sở hạ tầng có 3 nhà 2 tầng
gồm 18 phòng và 1 nhà cấp 4 làm văn phòng.

Với cơ sở hạ tầng như trên về cơ bản đã đảm bảo phần nào chất lượng giáo dục đào tạo,
không ngừng được nâng cao, tỷ lệ học sinh đến lố, thi tốt nghiệp hàng năm đều đạt và
vượt chỉ tiêu được giao. Số học sinh giỏi năm sau cao hơn năm trước. Duy trì, giữ vững
chất lượng phổ cập tiểu học, xóa mù chữ. Công tác khuyến học, xây dựng trung tâm học
tập công cộng ở xã được triển khai sâu rộng, mặt khác công tác bồi dưỡng giáo viên
nhằm đáp ứng yêu cầu thay sách và thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy.
d. Giao thông, thủy lợi, đường điện:
Hệ thống đường giao thông liên thôn xóm có tổng chiều dài 25 đã được bê tông hóa.
Bằng nhiều hifh thức huy động vốn như vốn đầu tư xây dwujng của nhà nước, vốn tư
nhân dân tự đóng góp trong những năm qua xã đã đầu tư gần 100 triệu đồng để phát triển
giao thông.
Công tác đầu tư cho thủy lợi được đặc biệt coi trọng. Trong những năm qua xã đã triển
khai xây dựng được 7.000m kênh mương cứng, nạo vét, đào đắp với khối lượng 140m3.
Ngoài ra hệ thống kênh mương tưới tiêu trên địa bàn xã có tổng chiều dài trên 7km, rộng
từ 0,4 – 1m.
16


Xã có 3 máy biến áp với công suất 330kw, mạng lưới đường dây được phân bố đều đến
từng xóm, từng hộ gia đình. Đến nay đã có 100% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia.

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tương nghiên cứu
- Về không gian lãnh thổ: địa bàn nghiên cứu là VQG Ba Vì
- Về giới hạn khoa học: chuyên để chỉ đi sâu vào nghiên cứu mô hình quản lý rừng
dựa vào cộng đồng được thực hiện tại VQG Ba Vì.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp được tiến hành thông qua:
- Việc khảo sát, quan sát thực tế hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại
VQG Ba Vì.
- Sử dụng phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn đối với đối tượng người dân.
Bảng 1: Đối tượng phỏng vấn tại VQG Ba Vì
STT

Đối
tượng Số lượng Mục đích
phỏng vấn
phiếu
17


1

Người dân

2

Người quản lý

20


Hình 2: Nhóm đi điều tra người dân tại VQG Ba Vì

18


2.2.2. Phương pháp thu thập số thứ cấp
- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từ các nguồn có sẵn:
các phòng ban, cơ quan quản lý chuyên nghành, sách, báo, các tạp chí khoa học, dữ liệu
Internet.
- Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng và công
tác quản lý.
2.2.3. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
- Dựa trên phương pháp CVM để biết được mức độ sẵn lòng chi trả của một người dân tại
VQG Ba Vì cho việc bảo vệ tài nguyên Rừng. Người dân sẽ được đặt mình ở trong tình
huống giả định và xem xét trong trường hợp đó họ sẽ quyết định như thế nào.
2.2.4. Phương pháp tổng hợp số liệu và viết báo cáo.
- Tiến hành tổng hợp các tài liệu, số liệu sau khi đã thu thập và xử lý được, mặt khác kết
hợp với quá trình nghiên cứu thực địa và thông qua kết quả của việc sử dụng bảng hỏi
phỏng vấn rút ra được mối quan hệ giữa trách nhiệm của người dân và hoạt động quản lý
của nhà nước.

19


CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hiện trạng sinh kế của người dân tại vườn quốc gia Ba vì
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất
Theo điều tra thu thập tài liệu từ báo cáo hiện trạng sử dụng đất của xã Ba Vì thì
tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.540.69 ha, tình hình sử dụng đất được thể hiện

trong bảng sau:
STT
1

2

Mục đích sử dụng

Diện tích (ha)

Vườn quốc gia quản lý

2.201.98

Đất rừng sản xuất

40.98

Đất rừng đặc dụng

2.161.04

UBND xã Ba vì trực tiếp quản lý

338.73

Đất sản xuất nông nghiệp

211.77


-

Đất trồng cây hàng năm

-

Đất trồng cây lâu năm

22.62
189.15

Đất nông thôn

14.63

Đất chuyên dung

39.18

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

2.98

Đất song suối, núi đá

69.87

(Nguồn báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất chi tiết sử dụng đất
của xã Ba Vì đến năm 2019)
Do đất đai thường xuyên có sự biến động vì thế việc kiểm kê đất đai hàng năm có

vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Qua báo cáo kiểm kê đất tại địa bàn xã Ba Vì nhận thấy diện tích đất nông nghiệp của
cộng đồng dân cư rất ít trong khi đó đất lâm nghiệp thì cao. Trong tổng diện tích đất sản
xuất nông nghiệp là 211.77 ha thì đất trồng cây hàng năm là rất nhỏ chỉ 22.62 ha, điều đó
cho thấy vấn đề bức xúc hiện nay đặt ra là người dân thiếu đất canh tác nên hoạt động sản
xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất của Vườn quốc gia.

20


3.1.2 Sản xuất nông nghiệp
Ở xã Ba Vì sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người dân. Nguồn
thu nhập chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi:
- Sản xuất ngành trồng trọt
Bảng: Tình hình sản xuất cây trồng của (50 hộ)
Năm 2015
Loại cây

Diện tích (ha)

Năng suất
(tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

Lúa vụ xuân

0.87

5.81


5.05

Lúa vụ hè

0.87

5.1

4.437

Cây sắn

7.97

17

135.49

Dong diềng

4.25

20

85

Cây chè

3.175


1.8

5.715

Măng

11.5

6

69

Cây thuốc nam

2.92

Tổng

31.555

304.692

(Nguồn số liệu điều tra tháng 12/2015)
Theo nguồn số liệu điều tra phỏng vấn các hộ gia đình và báo cáo kết quả thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016
phát triển kinh tế của UBND xã Ba Vì thì diện tích cây trồng nông nghiệp chính tại khu
vực nghiên cứu là:
- Trồng bương để lấy măng là lớn nhất với diện tích là 11.5 ha chiếm 36.44% so với tổng
diện tích của 50 hộ.

- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 2 là cây sắn với diện tích là 7.97 ha chiếm 25.26% so
với tổng diện tích của 50 hộ
- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 3 là cây dong diềng với diện tích 4.25 ha chiếm
13.47% so với tổng diện tích của 50 hộ.

21


- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 4 là cây chè với diện tích là 3.175 ha chiếm 10.06 %
so với tổng diện tích của 50 hộ.
- Tiếp theo là cây thuốc nam, các thôn đã tiến hành trồng cây thuốc trong vườn và xen
dưới tán rừng nên diện tích cây thuốc cũng đáng kể với 2.92 ha chiếm 9.25% so với tổng
diện tích của 50 hộ.
- Lúa cũng là cây trồng chính nhưng diện tích rất nhỏ chỉ với 1.74 ha chiếm 5.51% so với
tổng diện tích của 50 hộ
- Còn một số loại cây trồng như cây ăn quả, rau các loại do diện tích rất nhỏ và trồng theo
kiểu gia đình không có quy mô nên không liệt kê được cụ thể.
- Từ kết quả trên cho thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trên địa bàn
xã Ba Vì là rất nhỏ.
Bảng: Hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất nông nghiệp (50 hộ)
STT

Cây trồng

Số hộ
phỏng
vấn

Số hộ sử dụng


Số hộ không sử
dụng

Số hộ

Tỷ lệ (%)

Số hộ

Tỷ lệ (%)

1

Cây sắn

50

48

96

2

4

2

Dong diềng

50


45

90

5

10

3

Cây bương

5

31

62

19

38

4

Cây chè

50

7


14

43

86

5

Cây thuốc nam

50

2

4

48

96

(Nguồn điều tra tháng 12/2015)
- Hoạt động chăn nuôi
Nhìn chung tổng đàn gia súc, gia cầm của xã trong những năm qua còn hạn chế về
số lượng nhưng đã có sự tăng lên so với cùng kỳ trước, tăng mạnh nhất là đàn lợn và đàn
gia súc. Qua số liệu điều tra tình hình chăn nuôi ở địa bàn nghiên cứu và được tổng hợp
dưới bảng đây:

22



Bảng: Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình (50 hộ)
STT

Loại vật
nuôi

Số hộ gia
đình nuôi

Số lượng vật Giá (triệu
nuôi
đồng/con)

Thành tiền

1

Trâu

10

16

8.2

131.2

2




28

57

7.5

427.5

3

Lợn

30

86

2

172

4

Gia cầm

39

367


0.09

33.03

5



15

67

1.5

100.5

Qua bảng điều tra cho thấy: người dân ở đây có quan niệm rằng “con trâu là đầu
khởi nghiệp” nên hầu hết nhà nào cũng nuôi trâu, bò. Trâu, bò được nuôi chủ yếu để lấy
sức kéo (như: kéo cày, kéo bừa, kéo xe, kéo gỗ), ngoài ra nuôi để lấy phân bón. Trâu bò
được xem là tài sản có giá trị trong gia đình là của để giành khi gia đình có việc lớn phải
bán đi để lấy tiền trang trải công việc.
Ngoài nuôi trâu, bò thì ở đây cũng chăn nuôi thêm lợn, gà, dê để giải quyết các
vấn đề về kinh tế, thực phẩm cải thiện những bữa ăn của gia đình. Lợn, gia cầm nuôi chủ
yếu để lấy giống và làm thịt, còn dê thì chiếm ít vốn tuy nhiên nguồn thu nhập từ dê chưa
cao.
Chăn nuôi đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu nhập của nông dân. Tuy
nhiên, nó còn gặp nhiều khó khăn: vốn đầu tư cao, dễ gặp dịch bệnh. Gia súc và gia cầm
được nuôi phần lớn theo cách thả rông vào vườn quốc gia Ba Vì vì vậy việc quản lý và
chăm sóc khá khó khăn.
Thực trạng nghành chăn nuôi phát triển chậm, nguyên nhân là do người dân thiếu

vốn, thiếu đất để xây dựng dựng chuồng trại, thiếu kỹ thuật chăn nuôi tuy nhiên có sự
quản lý của kiểm lâm nhưng hiện tượng thả gia súc vẫn xảy ra. Để phát triển nghành chăn
nuôi trong thời gian tới ngoài vốn đầu tư còn phải quan tâm đến chất lượng giống vật
nuôi
3.1.3. Hoạt động phi nông nghiệp:
- Sản xuất lâm nghiệp
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã từng bước chú trọng và thực hiện lâu dài cho
nhân dân trong xã. Thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính Phủ, đến
23


nay toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp có rừng của xã đã được giao khoán cho các tổ chức,
hộ gia đình cá nhân chăm sóc, quản lý và bảo vệ. Với lợi thế tự nhiên và ý thức của người
dân trong việc phát triển kinh tế rừng, khi có chủ trương giao đất từng nhân dân đã nhận
đất, mua giống về làm vườn ươm, chủ yếu là keo và cây bạch đàn. Tuy nhiên nguồn thu
nhập từ hoạt động lâm nghiệp là rất thấp, cứ khoảng 10 năm thì người dân mới có 1 đợt
thu bán gỗ, cao nhất chỉ đạt được 15 – 20 triệu đồng/10 năm, thấp nhất chỉ được 5 – 7
triệu đồng/10 năm (Theo số liệu điều tra các hộ gia đình tại xã Ba Vì năm 2015).
Hiện nay diện tích trồng keo và bạch đàn từ cốt 100 – cốt 400 của cộng đồng dân cư
xã Ba Vì không được phép khai thác mà VQG Ba Vì thu hồi để quản lý, để đạt độ phủ
xanh đất trống đồi trọc, tạo rừng phòng hộ nên hầu hết người dân không còn nguồn thu từ
hoạt động này mà chỉ được phép khai thác củi, không được khai thác cây từ vườn giao
khoán.
- Khai thác gỗ
Con người là lực lượng quan trọng nhất tác động đến khu bảo tồn. Người dân sống
trong xã Ba Vì kề cận Khu Bảo tồn phụ thuộc tài nguyên của nó để sinh tồn. Khu Bảo tồn
còn bị những người buôn bán gỗ và hoạt động hoang dã khai thác.
Do kinh tế của xã còn khó khăn, nhiều hộ gia đình đã khai thác gỗ để làm nhà, làm
chuồng trại chăn nuôi, bên cạnh đó có 1 số hộ khai thác gỗ với mục đích buôn bán. Mặc
dù đội kiểm lâm quản lý chặt chẽ song vẫn không tránh khỏi hiện trạng khai thác gỗ trái

phép xảy ra trên địa bàn xã.
- Khai thác lâm sản ngoài gỗ
Sống trong vùng đệm VQG Ba Vì, lại là xã nghèo nhất trong 7 xã miền núi, cộng
đồng dân cư xã Ba Vì sống dựa vào nguồn tài nguyên rừng là chủ yếu, để phục vụ nhu
cầu sinh sống, người dân nơi đây thường xuyên vào rừng khai thác những nguồn lợi
từ lâm sản ngoài gỗ để phục vụ mình, bán ra thị trường lấy tiền mặt để phục vụ chi
tiêu hoặc đổi lấy hàng hóa khác
Bảng: Các lâm sản ngoài gỗ thu hoạch được từ rừng (50 hộ)
Tên lâm
sản ngoài
gỗ

ĐVT

Lượng
Lượng
thu/hộ/năm bán/hộ/năm

24

Lượng sử
dụng/hộ/nă
m

Tổng
(đ/hộ/năm)


Củi




600

215

385

1,935,000

Tre/nứa

Cây

2,600

2000

600

2,000,000

Măng

Kg

400

300


100

1,800,000

Mật ong

Lít

3

2

1

900,000

Cây thuốc
nam

Kg

150

120

30

1,200,000

( Nguồn điều tra tháng 12/2015)

Nạn thu lượm các lâm sản ngoài gỗ như tre, nứa, măng, mật ong, cây thuốc nam
nằm trong số những áp lực mà VQG phải chịu ảnh hưởng. Đã có nhiều biện pháp để
hạn chế việc khai thác lâm sản ngoài gỗ nhưng hoạt động này vẫn đang tồn tại một
cách phổ biến trong địa bàn xã do điều kiện sống còn khó khăn, người dân dựa vào tài
nguyên rừng để làm kế sinh nhai. Hoạt động khai thác ở xã Ba Vì được thể hiện trong
bảng trên. Qua bảng trên ta có thể thấy rằng việc khai thác và sử dụng các loại tài
nguyên rừng đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của
VQG Ba Vì.
- Hoạt động khai thác củi đun:
Gỗ củi là nhu cầu hàng ngày của gần 489 hộ dân trong xã và được khai thác từ
VQG Ba Vì và các khu vực xung quanh vườn. Gỗ củi được thu lượn không chỉ để nấu
ăn, sấy nông sản mà còn để bán. Họ chặt cây mà không hề quan tâm đến việc cây
thuộc loài nào hay đạt kích thước ra sao.
- Hoạt động lấy tre/nứa, lấy măng:
Tre nứa được khai thác đưa về làm bờ rào, làm chuồng trại và đưa xuống dưới
xuôi bán, măng được lấy về để ăn và đưa đi chợ bán. Do người dân khai thác quá mức
nên dẫn đến các nguồn tài nguyên như tre/nứa, măng càng ngày càng cạn kiệt. Tre
nứa được khai thác ở một số tiểu khu rừng mà hầu hết nằm gần nơi con người định cư
và một số khai thác đi sâu vào trong lõi rừng. Tre, nứa, măng là nguồn thu nhật cho
một số hộ gia đình nghèo trong xã Ba Vì.
- Khai thác mật ong:
Đây là một hoạt động khá phổ biến và mang lại nguồn thu tương đối cho người
dân vùng đệm xã Ba Vì nhưng tác hại của nó là rất lớn. Khi đi lấy mật ong thì phải lấy
25


×