SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
MÃ SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 1 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC
Lĩnh vực: Môn Tiếng Việt
Cấp
: Tiểu học
NĂM HỌC 2017 - 2018
MỤC LỤC
Nội dung
PHẦN A
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trang
1
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Cơ sở lý luận
3
3. Cơ sở thực tế
3
4 . Mục đích của đề tài
3
5 . Đối tượng , phạm vi và thời gian thực hiện
3
6 . Phương pháp nghiên cứu
3
7. Nắm bắt thực trạng, tình hình học sinh qua khảo sát điều tra
4
kiến thức đầu năm.
7.1 . Thực trạng vấn đề khi chưa thực hiện đề tài
5
7 . 2 . Kết quả thu được như sau:
5
PHẦN B : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
7
1.Tên đề tài:
7
2. Mục tiêu:
7
2. THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG , LỚP
7
2 .1.Thuận lợi:
7
2.2. Khó khăn:
8
3 . CƠ SỞ LÝ LUẬN
9
3. 1. Cơ sở tâm lí học :
9
3. 2. Cơ sở ngôn ngữ học của việc rèn kỹ năng viết theo hướng
10
tiếp cận năng lực.
3.3. Cơ sở nghiên cứu
10
3. 4 . Các giải pháp thực hiện:
11
4. 5 . Các biện pháp thực hiện.
11
4 . BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
14
4 .1.Biện pháp tác động giáo dục
14
4.2. Cách sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn dạy Tập
15
Viết
4.3.
Học sinh cần thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi
16
viết, cách cầm bút, để vở và cách trình bày bài viết:
4.4. Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy
19
định để dạy học sinh.
4.5. Dạy cho học sinh có kỹ thuật viết:
20
4.5.1. Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ
20
bản:
4.5.2.Dạy các nét cơ bản
21
4.5.3.Dạy cách rê bút
22
4.5.4.Dạy cách lia bút
22
4.5.5. Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ
22
4.5.6. Rèn luyện học sinh viết đúng mẫu chữ
24
4.5.7. Khắc sâu những lỗi học sinh thường gặp khó khăn.
24
5.6. Dạy phân môn Tập viết phải được kết hợp song song và đồng
24
bộ với các môn học khác.
5.7. Lập kế hoạch bài học và phương pháp dạy học cụ thể cho
26
mỗi tiết học Tập viết và mỗi phần luyện tập.
5. 8. Tổ chức các trò chơi và phong trào thi đua “ Giữ vở sạch -
29
Viết chữ đẹp”.
5. DẠY THỰC THỰC NGHIỆM
30
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
30
5.1. Xác định khoảng cách
35
5.3 Giáo viên phối hợp với phụ huynh
35
5.4 Động viên, khen thưởng
35
6. KẾT QUẢ
35
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
36
1. Kết luận
36
2 . Đề xuất
36
3 . Khuyến nghị
37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
38
PHẦN A : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, được
học đọc, học viết. Biết đọc, biết viết thì cả một thế giới mới rộng lớn mênh
mông sẽ mở ra trước mắt các em. Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các
em đến trường. Vì vậy dạy chữ chính là dạy người. Cố vấn Phạm Văn Đồng đã
nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng,
viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ
luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thày và bạn mình”. Chữ viết
và dạy viết được cả xã hội quan tâm. Nhiều thế hệ thày cô giáo đã trăn trở, góp
công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy học chữ
viết. Ở trong trường tiểu học cũng vậy, trong những năm học gần đây, học sinh
viết chữ xấu là một tình trạng đáng báo động. Hiện nay học sinh lựa chọn đủ các
loại bút để viết, đặc biệt là học sinh rất yêu thích với chiếc bút bi của mình hơn
là những loại bút chấm mực như ngày xưa. Mặt khác, chữ viết của khá nhiều
giáo viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết
của học sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để
học sinh soi rọi vào đó. Lứa tuổi của học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt
chước”, giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế đó; đặc biệt là ở lứa
tuổi học sinh lớp 1.Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết. Nếu phân
môn tập đọc – học vần giúp trẻ biết đọc thông thì phân môn tập viết sẽ giúp trẻ
viết thạo. Trẻ đọc thông, viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt
hơn.
Thật vậy, nhìn trang vở của học sinh với những dòng chữ đều tăm tắp, sạch
sẽ thì cả cha mẹ và thầy cô đều dấy lên một niềm vui. Chúng ta như đặt niềm tin
vào tương lai con trẻ.Việc rèn chữ viết cho học sinh còn là môi trường quan
trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, tinh thần kỷ
luật và óc thẩm mỹ. Nhưng muốn viết thạo trẻ phải gắng công khổ luyện dưới sự
dìu dắt tận tình của các thầy giáo, cô giáo.Trong trường tiểu học, việc dạy tập
viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy học vần, chính tả, tập làm văn, việc ghi
bài vào vở các môn học, vở luyện viết chữ đẹp của học sinh.Dạy tập viết không
chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ viết mà còn rèn kỹ
thuật viết chữ. Trong các tiết tập viết, học sinh nắm bắt được các tri thức cơ bản
về cấu tạo các chữ cái tiếng Việt được thể hiện trên bảng cài, bảng lớp, bảng
con, trong vở tập viết và vở ghi bài các môn học khác… Đồng thời, học sinh
được giáo viên hướng dẫn các yêu cầu kỹ thuật viết từng nét chữ để hình thành
nên một chữ cái rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu.
1/41
Ở giai đoạn đầu, trọng tâm của việc dạy tập viết là dạy viết chữ cái và kết nối
các chữ cái lại để ghi tiếng. Ở giai đoạn cuối, song song với việc rèn viết chữ
hoa, học sinh còn được rèn viết văn bản, có thể là: nhìn một đoạn văn, đoạn thơ
chép lại cho đúng (tập chép) hoặc nghe giáo viên đọc mẫu, học sinh viết bài vào
vở (nghe viết) hoặc nhớ để viết lại (nhớ viết).Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết
sai, viết xấu, viết chậm. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới các môn học khác.
Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay thời đại vi tính điện thoại thông minh phát
triển nhanh…
Mọi người không chú trọng đến chữ viết nhiều lắm nên thường không chú
ý đến việc rèn con em mình viết chữ mà ở Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy
Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng ta đã trao cho các em chìa khóa để
mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt
đời. Mặt khác, quan sát thực tế ở các lớp trong trường tôi nhận thấy: các lớp đạt
chỉ tiêu "vở sạch chữ đẹp" còn chưa cao, năm nay đạt, năm sau mất, chữ viết
không đúng độ cao, thiếu nét, thừa nét, khoảng cách giữa các chữ chưa đều,
chưa chuẩn... Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 theo định hướng phát triển
năng lực ”
2 . Cơ sở lý luận
- Chữ viết là sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự xuất hiện của chữ viết
đánh dấu một giai đoạn phát triển về chất của ngôn ngữ. Chữ viết và dạy chữ
viết được mọi người quan tâm.Việc rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh Tiểu học
đã được nhiều thế hệ thầy, cô giáo quan tâm, trăn trở, góp nhiều công sức cải
tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy chữ viết. Dạy Tập viết là dạy
học sinh có những khái niệm cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình
dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo các chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các
khái niệm liên kết nét chữ, hoặc liên kết chữ cái…Từ đó hình thành cho các em
những biểu tượng về hình dáng, đường nét các con chữ, độ rộng, độ cao sự cân
đối, tính thẩm mĩ của chữ viết.
- Dạy học sinh biết được những kỹ năng và thao tác viết chữ từ đơn giản
đến phức tạp bao gồm những kỹ năng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái và liên kết
chữ cái tạo chữ ghi tiếng. Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ
chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kỹ năng viết đúng mẫu, rõ ràng, đếu nét, liền
mạch, viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ và cao hơn là viết nhanh, viết đúng,
viết đẹp. Ngoài ra, tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở, cách trình bày bài viết
cũng là một kỹ năng đặc thù của dạy Tập viết mà giáo viên cần thường xuyên
quan tâm.
2/41
3. Cơ sở thực tế
Thực tế hiện nay, chữ viết của các em học sinh tiểu học chưa được đẹp,
chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét chữ hoặc liên kết giữa các chữ cái chưa
chuẩn, tốc độ viết còn chậm, học sinh sử dụng nhiều loại bút, nhiều màu mực để
viết bài nên còn hạn chế trong việc giữ gìn “vở sạch - viết chữ đẹp”. Đây là một
mảng quan trọng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng học sinh mà được các trường
quan tâm. Nâng cao chất lượng giờ dạy để học sinh viết đúng, viết nhanh, viết
đẹp thì phong trào “vở sạch - chữ đẹp” mới có chất lượng trong giai đoạn hiện
nay.
Qua việc giảng dạy phân môn Tập Viết tôi nhận thấy rằng đối với học
sinh lớp 1 nếu cùng một lúc đòi hỏi các em viết đúng, viết đẹp ngay là một điều
không thực tế, khó có thể thực hiện được. Do vậy đối với từng lớp, giáo viên
cần lựa chọn mục tiêu trọng tâm của môn học phù hợp với lứa tuổi để học sinh
tiếp thu bài một cách vững chắc nên tôi đã xác định muốn viết chữ đẹp thì việc
đầu tiên cần làm ở lớp 1 là rèn cho trẻ có nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng thì
mới có cơ sở để viết chữ đẹp. Đây chính là yêu cầu có tính quyết định trong việc
rèn viết chữ đẹp cho suốt quá trình học tập của học sinh.
4 . Mục đích của đề tài
Vậy mục đích của việc biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1theo định
hướng phát triển năng lực là gì?
Mục đích giúp và đưa đến cho các em cảm nhận cái hay cái đẹp. Nhận
thức về thế giới sung quanh, về cuộc sống con người và xã hội. Giáo dục tình
cảm, rèn luyện ý trí thế giới quan cho con người. Việc kỹ năng viết chữ cho các
em là rèn cho các em tính cẩn thận tỉ mỉ từng trong từng chi tiết nhỏ trong từng
con chữ chúng ta đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước
vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời, giáo dục học sinh có tình
yêu đối với dân tộc. Con người phải biết yêu thương nhau.
5 . Đối tượng , phạm vi và thời gian thực hiện
Học sinh lớp 1A năm học 2017 - 2018.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2017- tháng 4/2018
6 . Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp: Sử dụng các phương pháp chủ yếu trên từng tiết dạy.
Phương pháp trực quan, phương pháp luyện tập, phương pháp đàm thoại ...
Sau khi xem xét thực tế của vấn đề tôi đã quyết định sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu. Trong những phương pháp đó tôi sử dụng chủ yếu các
phương pháp sau:
3/41
*Phương pháp trực quan
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ viết cho các em bằng nhiều con
đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện viết.
Chữ mẫu là hình thức quan trọng ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện
đầu tiên để các em viết đúng.
*Phương pháp đàm thoại gợi mở
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo
viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ
việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh
nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với các chữ cái phân
tích.
* Phương pháp điều tra
Tôi sử dụng phương pháp này dùng để theo dõi, điều tra chất lượng chữ
viết của học sinh trong lớp. Ngoài ra tôi còn điều tra quan sát về tư thế ngồi học,
cách cầm bút, cách để vở của học sinh lớp 1.
* Phương pháp trắc nghiệm
Tôi sử dụng phương pháp này bằng cách đưa ra các bài kiểm tra viết cho
học sinh trước khi thực nghiệm và sau khi thực nghiệm để so sánh kết quả.
* Phương pháp đàm thoại, trao đổi
Phương pháp này tôi dùng để trao đổi với giáo viên trong tổ chuyên môn và
các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong trường, với học sinh và gia đình học
sinh về phương pháp, cách học .
- Phối kết hợp: Tăng tiết luyện viết, học sinh phải tự luyện viết ở nhà, thay
đổi phương pháp dạy mới, luyện tập trong các tiết học, trò chơi.
Tôi thường nghiên cứu các giáo trình Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt
1. Các tài liệu liên quan: Sách Giáo Viên, Sách Giáo Khoa, Các Tham Luận dạy
Tiếng Việt cho học sinh lớp Một, Các ấn phẩm: để học tốt, dạy tốt môn Tiếng
Việt lớp Một vv….để dạy các em đọc tốt các giờ tập viết, chính tả trong sách
giáo khoa.
7. Nắm bắt thực trạng, tình hình học sinh qua khảo sát điều tra kiến
thức đầu năm.
- Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học Mẫu Giáo và số học sinh
Không đi học Mẫu Giáo, hoặc đi học không đều. Tìm hiểu nguyên nhân, lý do
vì sao học sinh đó không đi học Mẫu Giáo.
- Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái, viết được chữ cái các em đã học
ở Mẫu Giáo.
4/41
7 . 1 . Thực trạng vấn đề khi chưa thực hiện đề tài
+ Học sinh:
- Học sinh đọc, viết rất chậm
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em năng
lực phát triển, học tốt viết đẹp, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể
chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí
nhớ,chữ viết nguệch ngoạc học trước quên sau, chậm tiến.
- Còn phụ huynh chủ yếu ở vùng nông thôn, không và chưa quan tâm đúng
mức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để con em mình
đến lớp cũng như nhắc nhở các em viết bài, đọc bài ở nhà.
7.2 .Kết quả thu được như sau:
- Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái, viết được chữ cái các em đã học
ở Mẫu Giáo và kết quả điều tra năm thu được như sau:
Tình hình học sinh: lớp 1A sĩ số : 34 học sinh
* Kết quả khảo sát số học sinh học Mẫu giáo, không học Mẫu giáo, đi
học không đều
Học sinh
Tổng số HS
không học mẫu giáo
Lớp 1A
SL
%
34 học sinh
5
14,7
Học sinh
đi học không đều
SL
%
12
35,3
Học sinh
đi học đều
SL
%
17
50
* Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái đã học ở đầu năm học:
Tổng số HS
Lớp 1A
34 học sinh
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Học sinh biết từ
Học sinh nhận biết hết
5 – 10 chữ
SL
%
SL
%
10
29,4
19
55,9
Chưa hoàn thành
Không biết chữ cái
nào
SL
%
5
14,7
Qua quan sát học sinh khi viết và qua chất lượng bài viết của các em, tôi
nhận thấy học sinh thường mắc các lỗi sau:
- Chữ viết chưa đúng cỡ, chưa đúng độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, điểm
dừng bút chưa đúng.
- Chữ viết chưa liền mạch, nối chữ chưa đúng quy định.
- Vị trí dấu thanh, dấu phụ đặt chưa đúng. Nhiều em viết dấu quá to hoặc
quá bé, dấu đặt xa chữ, chưa đúng vị trí âm chính của tiếng, có em dấu chạm vào
chữ.
5/41
- Rất nhiều em viết xấu, chữ viết không đều, nét cao, nét thấp, nét ngắn,
nét dài, nét nghiêng ngả, nhất là con chữ o và những con chữ được kết hợp bởi
nét cong tròn các em đều viết méo, hoặc nghiêng nghẹo, không có em nào viết
được chữ o tròn theo đúng quy định, khoảng cách giữa các chữ không đều.
-Tư thế ngồi viết sai, cách cầm bút chưa đúng. Đa số các em ngồi cúi mặt
sát với vở, vẹo lưng, lệch vai, khuỳnh tay... Rất nhiều em cầm bút bằng 4 đầu
ngón tay, có em cầm cả 5 ngón tay, thậm chí cầm 3 ngón tay nhưng chưa chụm
cả 3 ngón tay vào quản bút, cán bút vuông góc với mặt vở, có em cầm bút ngả
về phía trước, có em khoằm tay vào phía trong…
- Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế. Giáo viên
còn tự làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời
gian đầu tư.
* Học sinh:
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát
triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn
so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên
sau, chậm tiến.
Trước thực trạng của việc dạy phân môn Tập viết. Tôi thấy, cần phải
tìm ra những biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy phân môn Tập viết
cho học sinh lớp 1. Xuất phát từ mong muốn giúp học sinh viết đúng, viết đẹp
tôi đã tìm hiểu và tham khảo nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp cụ thể.
6/41
PHẦN B : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Tên đề tài: “ Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1theo
định hướng phát triển năng lực ‘’
1. MỤC TIÊU
Mục tiêu giáo dục trong nhà trường Tiểu học, không chỉ là định hướng
phát triển năng lực kiến thức, hiểu biết cơ bản của môn học được quy định ở
chương trình mà phải giáo dục toàn diện cho học sinh. Trong đó việc rèn chữ
viết cũng góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách học sinh. Đây là
vấn đề quan trọng được đồng nghiệp và ngành quan tâm
Cho nên hoạt động này phải được diễn ra liên tục trong quá trình dạy học.
Do đó phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể để rèn để rèn luyện chữ viết cho học
sinh. Việc này giúp cho học sinh có ý thức chuẩn mực, cẩn thận trong khi viết.
Từ đó chữ viết của các em mỗi ngày đẹp hơn. Ý thức này không những được
hình thành ở học sinh lớp 1 mà ở tất cả các lớp trên.
2. THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG , LỚP
2 .1.Thuận lợi:
* Giáo viên:
- Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ
hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút
ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng
dạy.
- Sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức
bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học
sinh tiểu học v v… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi,
giảng dạy.
- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có
nhiều kinh nghiệm rèn chữ cho học sinh tiểu học nhất là đối với học sinh lớp 1,
có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về
chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường
hợp học sinh cá biệt về năng lực cũng như phẩm chất.
- Học sinh lớp 1 mới đi nên các em rất thích học, ham học, ham viết.
- Phụ huynh cho con đến trường ở đầu năm cũng rất quan tâm đến việc
học tập của con em mình.
- Môi trường giao tiếp, bố mẹ, phương tiện thông tin đại chúng, cô giáo...
đều biết Tiếng Việt.
- Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất: Bộ chữ mẫu của giáo viên, những
bảng chữ mẫu (với nhiều kiểu chữ) cho học sinh quan sát.
7/41
- Nhà trường, ngành giáo dục quan tâm đến chất lượng chữ viết của các
em ngay từ lớp 1.
* Học sinh:
- Ở độ 6 -7 tuổi của học sinh lớp 1. Các em đa số rất ngoan, dễ vâng lời,
nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên
khen thưởng vv….
- Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ
huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên,
và cùng với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ
sách vở, đồ dùng học tập,thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con
em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà.
2.2. Khó khăn:
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi trên, bản thân tôi vẫn còn gặp một số
khó khăn sau:
* Giáo viên:
- Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế nhất là
mẫu chữ truyền thống có quá nhiều mẫu chữ khác nhau chưa thống nhất. Giáo
viên còn tự kẻ bảng trong từng bài dạy, tiết dạy tập viết làm thêm đồ dùng dạy
học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư.
- Một số giáo viên chưa hiểu rõ được vai trò, tác dụng của một số phương tiện
trực quan trong giờ Tập viết như bảng con, chữ mẫu.
- Một số giáo viên chưa có sự thống nhất về tên gọi của các nét chữ, con
chữ trong một giờ dạy Tập viết. Chưa có sự kết hợp đồng bộ với các môn học
khác như: Học vần, Tập đọc để giúp học sinh đọc đúng, đọc hiểu, từ đó
dẫn đến viết đúng, viết đẹp.
- Một số giáo viên chưa nắm được kỹ thuật viết chữ, cách gọi các thuật
ngữ khi dạy viết chữ Tiếng Việt như: chữ ghi âm, chữ ghi vần, chữ ghi tiếng,
chữ ghi từ. Mặt khác còn nhiều giáo viên còn nhầm lẫn giữa cách rê bút, cách lia
bút, điểm đặt bút, điểm dừng bút, cách nối chữ khi viết.
- Một số giáo viên chưa có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh trong
lớp chủ nhiệm, điều đó hạn chế việc tạo điều kiện về tinh thần, vật chất cho học
sinh và việc rèn luyện chữ viết trong phong trào “ Vở sạch - Chữ đẹp”. Đa số
giáo viên còn coi nhẹ việc hình thành nề nếp học của học sinh chưa chú ý đến tư
thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở của học sinh.
* Học sinh:
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát
triển năng lực vượt trội, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé
8/41
nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm vềnăng lực, học
trước quên sau, chậm tiến.
- Do đặc trưng vùng miền nên các em chủ yếu viết sai l / n ; r/d ; ch/tr
- Các em từ mẫu giáo (còn có cả các em không qua mẫu giáo)vào lớp 1
nên chữ chưa thống nhất. Có em không biết viết, hoặc chỉ viết chữ in, chưa xác
định đúng được dòng kẻ, viết không đúng mẫu chữ, ngồi viết chưa đúng tư thế
vì còn mải chơi, hay nghịch.
- Các em chưa xác định được điểm đặt bút, điểm dừng bút khi viết chữ.
- Học sinh chưa thực hiện tốt, nghiêm túc các quy định trong giờ Tập viết
như:
+ Cầm bút chưa đúng cách.
+ Ngồi viết chưa đúng tư thế.
+ Vị trí đặt vở khi viết chưa đúng.
- Đa số học sinh chưa nắm được kĩ thuật viết, cách rê bút, cách lia bút,
nét nối, điểm đặt bút, điểm dừng bút trong một chữ ghi tiếng và khoảng cách
giữa các chữ ghi tiếng, ghi từ.
- Một số em còn thiếu đồ dùng học tập, một số em chưa học qua mẫu
giáo. Bản thân các em chưa phát huy được tính tự học, tự rèn luyện ở trường
cũng như ở nhà. Các em còn ham chơi chưa chú ý đến học tập.
- Chưa xác định được khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong
từ.
- Các em viết sai về độ cao, thế chữ chưa đúng mẫu.
- Viết nối giữa các con chữ (ch, tr, nh, ph, ng, ngh, gh, gi) chưa đẹp.
- Mặt khác các em chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học nhiều
hơn, phải viết nhiều các em mỏi tay dẫn đến nản trí khi viết.
- Đa số phụ huynh trong lớp đều làm nông nghiệp, nên các em chưa được
quan tâm đúng mức đến việc học tập, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em
mình học bài, viết bài ở nhà hơn nữa chưa nắm được mẫu chữ mới để hướng dẫn
các con luyện viết.
3 . CƠ SỞ LÝ LUẬN
3. 1. Cơ sở tâm lí học :
Học sinh tiểu học chủ yếu ở độ tuổi từ 6- 11 tuổi . Ở độ tuổi này nó còn
ngây thơ trong trắng hay bắt chước học đòi . Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã nói “ nhi đồng là hoa thiếu niên là quả . Hoa như thế nào thì quả như thế đó .
Nếu hoa hỏng thì quả thối chột ”.
Vậy đi học lớp 1 là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong đời sống của
trẻ. Từ trước hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi , ở giai đoạn mẫu
giáo chuyển sang một loại hoạt động mới , hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩa
9/41
của từ này .Các em trở thành những ‘’cậu học sinh ‘’, những ‘’cô học sinh ‘’, có
một ‘’địa vị ‘’mới trong gia đình và ngoài xã hội .Sự chuyển đổi hoạt động chủ
đạo này có tác động lớn đến tâm lý của trẻ .Những hiểu biết về về tâm sinh lý
của trẻ lớp 1 đã hình thành khả năng tư duy bằng tín hiệu , là những tín hiệu thay
thế ngữ âm .Ở độ 6-7 tuổi khả năng phân tích , tổng hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh ,
từ đây các em có khả năng tập tách từ thành tiếng , thành âm và chữ ,câu và
đoạn văn tập viết âm, vần, tiếng, từ câu, đoạn văn, bài thơ….
-Việc làm quen với chữ viết đối với các em thật khó khăn bởi đôi tay còn
vụng về, lóng ngóng. Ở mẫu giáo các em mới được làm quen với đọc và tô các
chữ cái, chưa có khái niệm về đường kẻ, dòng kẻ, chưa nắm được cấu tạo của
các nét cơ bản, cấu tạo của các chữ cái. Chưa nắm được độ cao, độ rộng, của
từng con chữ, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng, cách viết các chữ thường, dấu
thanh và các chữ số. Chưa nắm được quy trình viết chữ cái. Nhiều em còn viết
chữ ngược, số ngược.
Do vậy tuổi của các em là tuổi sống bằng tình cảm . Nếu như không biết
giáo dục các em ngay từ buổi đầu thì quả là điều thiêú sót lớn
* Cơ sở tâm sinh lý của trẻ. So sánh bàn tay của người lớn với bàn tay trẻ
em có thể thấy những chỗ khác nhau rõ rệt. Các cơ và xương tay người lớn đã
hoàn chỉnh nên có thể cử động rõ ràng theo một hướng.
Ngược lại, cơ và xương bàn tay của trẻ đang ở độ phát triển, nhiều chỗ
còn là sụn nên cử động của các ngón tay còn vụng về chóng mệt mỏi. Khi cầm
bút (nhất là trẻ lớp 1) các em có tâm lý sợ, điều này gây một phản ứng tự nhiên
là các em cầm bút chặt, các cơ tay căng nên rất khó di chuyển. Do vậy, dường
như các em viết bằng toàn thân chứ không chỉ bằng tay (khi viết mím môi, tròn
mặt...)
3. 2. Cơ sở ngôn ngữ học của việc rèn kỹ năng viết theo hướng tiếp cận
năng lực.
Kỹ năng viết cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi
của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả
nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần,
ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng viết từ, viết câu sau cùng là viết
được một bài văn ngắn, một bài thơ ngắn vv…
- Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết viết vần, viết tiếng, viết từ, viết câu
còn yêu cầu các em phải viết đúng, viết chuẩn, viết chính xác, viết đẹp.
3.3. Cơ sở nghiên cứu
Tôi thường nghiên cứu các giáo trình Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt
Các tài liệu liên quan: Sách Giáo Viên, Sách Giáo Khoa lớp 1, Các Tham Luận
dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp Một. Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 . Các
10/41
ấn phẩm: để học tốt, dạy tốt môn tập viết lớp Một. Phần mềm dạy tập viết . Sách
báo , Các loại sách tham khảo, bổ trợ việc rèn chữ cho học sinh tiểu học . .
3. 4 . Các giải pháp thực hiện:
- Trong quá trình thực hiện tôi sẽ tìm hiểu phần đọc để đưa ra phương pháp
phù hợp.
- Hiểu và nắm chắc phương pháp đổi mới của phân môn.
- Tìm hiểu tình hình giảng dạy của đồng nghiệp .
- Tìm hiểu bài tập viết, chính tả có trong chương trình lớp 1.
- Thường xuyên kiểm tra phân loại đối tượng học sinh.
Ánh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế của học sinh:
Đồ dùng học tập của học sinh:
3. 5 . Các biện pháp thực hiện.
Ánh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế của học sinh:
Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc viết chữ và sức khoẻ
của học sinh. Hiện nay hầu hết các trường Tiểu học trong nội thành đều đảm bảo
các yêu cầu cơ bản, nhất là đối với trường tôi – một trường đã có nhiều thành
tích về phong trào rèn chữ , giữ vở hiện nay. Ánh sáng phòng học đảm bảo theo
tiêu chuẩn học đường, có bảng chống loá, có dòng kẻ rõ ràng, bàn ghế đúng kích
cỡ tiêu chuẩn đối với học sinh tiểu học.
Đồ dùng học tập của học sinh:
Từ loại bút và mực thích hợp đến cách chọn vở, chọn bảng và phấn viết
cũng được tôi lưu tâm đến. Hướng dẫn học sinh, phụ huynh tìm mua cho các em
những quyển vở có đường kẻ tin đều, rõ ràng và khi viết không bị nhoè mực.
Thực tế dạy viết hiện nay cho thấy sử dụng bảng con trong việc rèn chữ cho học
sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1 vẫn là tối ưu nhất. .
Cho nên trong buổi họp phụ huynh đầu năm, giáo viên nên đưa ra những quyển
vở, bút chì, bút mực để phụ huynh tham khảo. Riêng bảng con thì giáo viên
thống nhất toàn lớp để tránh tình trạng của em này thì có ô to, bảng của em kia
thì có ô nhỏ sẽ gây khó khăn khi dạy Tập viết.
Cây bút là công cụ để tạo ra chữ viết.Để viết chữ đẹp thì cây bút cũng có
vai trò vô cùng quan trọng. Để có được cây bút phù hợp và sử dụng hiệu quả thì
việc hướng dẫn lựa chọn và cách sử dụng là cần thiết.
Sau khi tìm hiểu những điều kiện về cơ sở vật chất tôi có thể sử dụng một số
phương pháp sau trong quá trình dạy học luyện chữ:
Những phương pháp sử dụng trong dạy luyện chữ thông qua các tiết
học tập viết:
Phương pháp kể chuyện nêu gương
11/41
Khi dạy tập viết cho học sinh, điều quan trọng là phải gây được hứng thú,
làm cho học sinh yêu thích rèn viết chữ đẹp từ đó các em say mê và quyết tâm
rèn chữ cho đẹp. Giáo viên có thể nêu những gương sáng về rèn chữ viết,cần
nêu ngay những gương người thật việc thật, ví dụ: Em N chữ viết đẹp nhất
trường, các em hãy quan sát chữ viết của bạn và học tập. Giáo viên có thể phô tô
các bài viết của học sinh đạt giải nhất nhì cấp huyện để làm mẫu cho các
em,đồng thời động viên các em nếu cố gắng, kiên trì rèn luyện thì chữ viết của
các em cũng đạt được như vậy thậm chí có thể đẹp hơn. Khi đã gây được hứng
thú cho học sinh, lúc đó các em rất thích rèn viết chữ đẹp. Cô giáo lúc này sẽ
cung cấp các bài tập để rèn kĩ năng viết.
Phương pháp đàm thoại gợi mở
Sử dụng trong giai đoạn đầu của tiết học để hướng dẫn học sinh phân tích
nhận xét cấu tạo của chữ cái, độ cao, độ rộng con chữ, nét giống nhau và khác
biệt giữa con chữ mới với con chữ đã học từ trước. Giáo viên đặt câu hỏi và định
hướng cho học sinh trả lời.
Phương pháp trực quan
Trong luyện viết cho học sinh thì đồ dùng trực quan có tác dụng không
nhỏ, nó hỗ trợ và là phương tiện giúp cho việc luyện viết của học sinh. Những
đồ dùng này nhằm mục đích là giúp học sinh khắc sâu những biểu tượng về chữ
viết, có ý thức viết đúng mẫu và tạo không khí sôi nổi, phấn chấn trong quá trình
dạy viết chữ theo hướng “Đổi mới phương pháp dạy học”. Đồ dùng trực quan có
thể sử dụng trong quá trình dạy bài mới, luyện tập hoặc củng cố bài học.
Sử dụng khi hình thành biểu tượng về chữ cho các em. Phương tiện trực quan là
chữ mẫu: Chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng, chữ trong vở tập viết, hộp
chữ mẫu, hoặc một bài viết đẹp, chữ của giáo viên khi sửa chấm bài… Chữ mẫu
phải đúng quy định, rõ ràng và đẹp. Bảng mẫu chữ cần cố định thường xuyên để
giáo viên có thể chủ động sử dụng khi cần thiết không chỉ trong giờ Tập viết mà
ngay trong cả những môn học khác khi có học sinh viết chưa đúng mẫu chữ. Để
việc rèn chữ được lồng vào trong tất cả các môn học hiệu quả, ở trường tôi các
bảng đều được kẻ ô li để giáo viên dễ dàng trong việc rèn chữ cho các em.
Cần đưa giáo cụ trực quan là chữ viết mẫu được in sẵn từng chữ cái, bảng chữ
cái. Đây là việc làm để cung cấp cho học biểu tượng về chữ viết, chưa cung cấp
được kĩ năng viết. Ngoài việc đưa chữ mẫu, chữ phóng to trên bảng thì quan
trọng nhất vẫn là nét chữ giáo viên . Chữ giáo viên phải chuẩn, đúng mẫu, biết
được học sinh viết đúng chỗ nào và sai chỗ nào, chỗ nào cần chỉnh sửa đó là
điều quan trọng nhất. Giáo viên viết chưa đẹp, chưa đúng thì học sinh không
thần tượng, đã không thần tượng thì các em chê liền. Khi dạy chữ viết giáo viên
vừa viết, vừa phân tích từng nét của chữ cái hoặc từng kĩ thuật nối liền nét các
12/41
con chữ trong một chữ.Việc viết mẫu của giáo viên còn có tác dụng tạo niềm tin
cho học sinh, mặt khác học sinh cũng dễ tiếp thu hơn, tạo điều kiện cho việc rèn
kĩ năng viết liền mạch, viết nhanh. Khi chấm bài, chữa bài, lời phê, chữ viết của
giáo viên được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu. Vì vậy giáo viên cũng
phải chú ý rèn chữ viết cho mình được đúng mẫu, rõ ràng, đều, đẹp. Ngoài ra
khi dạy viết chữ giáo viên cũng chú ý đọc mẫu các chữ đó. Đọc đúng cũng góp
phần quan trọng để đảm bảo viết đúng. Điều quan trọng nhất khi dạy viết chữ
hoa vẫn là cho học sinh biết điểm đặt bút và điểm dừng bút để học sinh viết
đúng quy trình viết chữ.
Ví dụ: Hướng dẫn bài Tập viết “Chữ A hoa”
Giáo viên treo chữ mẫu và giảng: Từ điểm đặt bút ở đường kẻ ngang thứ 3, viết
nét móc ngược (trái) từ dưới lên, nghiêng về bên trái và lượn ở phía trên, dừng
bút ở đường kẻ 6. Từ điểm dừng bút của nét 1, chuyển hướng bút viết nét móc
ngược phải, dừng bút ở đường kẻ ngang 2, (vừa nói, giáo viên vừa di chuyển
viên nam châm ở phía sau tờ bìa).
Giáo viên giảng tiếp: Cô lia bút lên khoảng giữa của thân chữ (trên đường kẻ
ngang thứ 3 một chút), viết nét lượn ngang mềm mại chia đôi con chữ.
Phương pháp luyện tập thực hành
Giáo viên có thể sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú được
nhìn vào tranh ảnh sinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tò mò, ham học hỏi
của học sinh giúp các em chủ động trong giờ học.
Sử dụng để hình thành kĩ năng viết chữ cho học sinh. Đây là một phương
pháp cực kì quan trọng. Chữ viết, tập viết chữ có tính chất thực hành. Phải
thường xuyên nhắc nhở học sinh ở mọi lúc mọi nơi, không chỉ ở môn tập viết
mà còn ở tất cả các môn khác, môn nào cũng cần chữ viết để ghi nội dung bài.
Các bài tập cho học sinh luyện tập cần chú ý. Các chữ có nét giống nhau thì
cùng xếp vào một nhóm để rèn. Rèn chữ với số lượng ít nhưng lặp lại nhiều lần
với yêu cầu cao dần. Cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài để giáo viên
dễ dàng nhận ra lỗi sai của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ của
học sinh. Hướng dẫn học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp nên cao, tăng dần
độ khó để học sinh dễ tiếp thu: viết đúng rồi viết nhanh viết đẹp. Việc luyện chữ
phải được tiến hành một cách đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, phân môn tập viết
cũng như các môn khác, môn học khác.
Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần chú ý uốn nắn để các em
cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Nơi ngồi viết cần phải đảm bảo đủ ánh sáng,
ghế ngồi viết phải phù hợp với chiều cao của học sinh
Các hình thức luyện tập:
13/41
+ Tập viết chữ trên bảng lớp: Khi kiểm tra bài cũ, hoặc sau bước giải thích cách
viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.
+ Tập viết chữ vào bảng con của học sinh: Trước khi tập viết giáo viên cần chú
ý nhắc nhở học sinh lau bảng từ trên xuống, cách sử dụng và bảo quản phấn,
cách lau tay sau khi viết. Khi viết xong giơ bảng lên để kiểm tra theo lệnh của
giáo viên. Cần chú ý giữ trật tự trong lớp khi dùng hình thức này và nên tận
dụng hai mặt bảng.
+ Luyện tập trong vở tập viết: Giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu
cầu về kĩ năng của từng bài viết. Trước khi học sinh viết giáo viên cần nhắc nhở
một lần nữa về tư thế ngồi viết cách cầm bút và để vở.
+ Luyện tập viết chữ khi học các môn học khác: Giáo viên phải có những yêu
cầu về chữ viết của học sinh khi học những môn học khác. Coi chữ viết là một
trong những tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá tất cả các môn học.
Phương pháp chia nhóm
Căn cứ vào đặc điểm của từng chữ cái, căn cứ vào các nét đồng dạng giữa
các chữ cái trong bảng chữ cái, căn cứ vào kích thước quy trình viết các chữ cái.
Chúng ta có thể chia nhóm chữ như sau:
* Chữ thường có thể chia làm 3 nhóm.
– Nhóm 1 : i, u, ư, t, p, y, n, m, v, r, s
– Nhóm 2 : l, b, h, k
– Nhóm 3 : o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, c, e, ê, x
Cần chú ý khi dạy các chữ thường là phân tích kĩ chữ đầu tiên của nhóm. Dựa
vào nét chữ đồng dạng với đầu nhóm, giáo viên cho học sinh tự rèn các chữ còn
lại chú ý nhắc học sinh rèn kĩ các nét cơ bản.
4 . BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
4 .1.Biện pháp tác động giáo dục
Chuẩn bị đầy đủ điều kiện vật chất, thiết bị dạy - học:
Việc chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học học của nhà
trường, giáo viên và học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy- học ở
Tiểu học. Đó chính là điều kiện dẫn tới sự thành công của việc dạy - học ở bất
cứ môn học nào đặc biệt nhất là phân môn dạy Tập viết trong trường tiểu học.
Ánh sáng phòng học:
- Phòng học phải đủ ánh sáng cho mọi học sinh ngồi học theo quy định của
vệ sinh học đường.
- Mỗi phòng cần có 4 bóng đèn tuýp 1,2m.
Bảng lớp:
- Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải ngang tầm với đầu học sinh ngồi
học. Kích thước 1,2m x 2,9m.
14/41
- Chất lượng bảng chống loá, trên bảng có dòng kẻ phù hợp, bên phải là
dòng kẻ ô li nhỏ giống như trong vở Tập viết của học sinh để giáo viên viết mẫu
và hướng dẫn viết vở.
-Bảng lớp phải luôn luôn được xoá sạch bằng khăn lau sạch, có độ ẩm
vừa phải.
Bàn ghế học sinh:
- Bàn ghế học sinh: Đầy đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng.
Trung bình 2 học sinh/1 bàn. Tránh tình trạng học sinh ngồi chặt chội sẽ khó
viết.
- Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trung bình của học sinh
lớp1.
Bảng con, phấn, giẻ lau:
- Chất lượng: Yêu cầu học sinh dùng bảng Mic hai mặt có dòng kẻ ô li
giống trong vở Tập viết của các em. Phấn phấn trắng có chất liệu tốt, không
dùng phấn cứng quá hoặc kém chất lượng. Giẻ lau phải mềm, sợi bông thấm
nước, giữ độ ẩm vừa phải, có thể gấp nhiều lần, độ dày thích hợp và luôn sạch.
- Số lượng: Bảng con, giẻ lau đảm bảo đủ cho từng học sinh mỗi em một
cái, học sinh phải có hộp đựng phấn.
Vở tập viết và bút:
- Chất lượng: Vở Tập viết phải do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành hàng
năm. Giấy viết phải đảm bảo không bị thấm mực, dòng kẻ phải ngay ngắn, chữ
mẫu phải đúng chuẩn, ngòi bút chì phải gọn nét, bút mực phải trơn không gai,
nét viết không quá thanh hoặc quá đậm, mực xuống đều, dễ viết.
- Số lượng vở: Vở viết luôn đủ dùng cho từng học sinh ở mỗi giai đoạn
như: Ở học kỳ I các em có vở Tập viết Tập một, sang học kì II có vở Tập viết
tập hai.
Ngoài ra tôi thường xuyên phối hợp với phụ huynh học sinh của lớp để
giúp đỡ các em. Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã bàn bạc, thống nhất
về sự chuẩn bị và cách dạy các cháu ở nhà. Tôi đề nghị cha mẹ học sinh chuẩn
bị cho các em bàn học, góc học tập đủ ánh sáng và chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học
tập cho học sinh như: bảng con, phấn trắng, giẻ lau, bút chì, bút mực, khăn lau…
4.2. Cách sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn dạy Tập Viết:
Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trìnhrèn chữ cho học
sinh. Trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức nội dung bài học dưới sự tổ
chức dẫn dắt của giáo viên có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học. Tư duy của
học sinh lớp 1 chủ yếu từ trực quan cụ thể đến lô gic trừu tượng. Đồ dùng dạy
học giúp học sinh khắc sâu các biểu tượng về chữ viết bằng nhiều con đường:
mắt nhìn, tai nghe, tay viết. Qua đó sẽ chủ động phân tích hình dáng, kích thước,
15/41
cấu tạo của chữ mẫu, tìm sự giống nhau và khác nhau giữa chữ cái đang học với
chữ cái đã học. Vì vậy đồ dùng dạy học đưa ra phải đảm bảo tính khoa học,
đúng lúc, đúng chỗ, nhịp nhàng và phù hợp với nội dung bài dạy. Tránh lạm
dụng đồ dùng dạy học gây sự nhàm trán cho học sinh.
Đồ dùng dạy - học trong môn dạy Tập viết lớp 1 là: Bảng con, phấn trắng,
giẻ lau, vở Tập viết, vở thực hành luyện viết của học sinh và bảng phụ có kẻ ô li
viết sẵn chữ mẫu của giáo viên, chữ mẫu trong khung chữ của bộ chữ dạy Tập
viết của giáo viên, hoặc chữ mẫu trong các bài giảng điện tử mà giáo viên đã cài
đặt. Việc sử dụng tốt các đồ dùng dạy học giúp học sinh tiếp thu kiến thức một
cách nhẹ nhàng dễ hiểu, giáo viên không phải nói nhiều gây căng thẳng, nhàm
trán trong giờ học.
Để giúp học sinh có kỹ năng, kỹ sảo sử dụng đồ dùng học tập đúng cách
và thành thạo đạt hiệu quả cao trong giờ Tập viết tôi thường hướng dẫn học sinh
thực hiện theo yêu cầu của giáo viên.
Cách sử dụng đồ dùng dạy - học khi viết bảng con:
-Bảng con phải luôn luôn được lau sạch sẽ bằng khăn lau sạch.
- Học sinh viết bảng con: yêu cầu ngồi viết đúng tư thế, cầm và điều khiển
phấn đúng cách, giơ bảng và xoá bảng theo các lệnh của giáo viên:
4.3. Học sinh cần thực hiện tốt nề nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách
cầm bút, để vở và cách trình bày bài viết:
Một số quy định về nề nếp học tập:
Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm được một số các kí hiệu mà tôi đã quy
định và ghi kí hiệu này lên góc trái phía trên bảng để các em thực hiện trong các
giờ học như sau:
- Kí hiệu ngồi đúng tư thế học tập và trật tự khi giáo viên chỉ vào trong
hình:
- Kí hiệu lấy bảng khi giáo viên chỉ vào trong hình, cất bảng khi giáo viên
chỉ ra ngoài hình:
- Kí hiệu V: vở ( mở vở khi giáo viên chỉ vào kí hiệu )
- Kí hiệu ngồi giãn khoảng cách khi giáo viên chỉ vào hình:
- Kí hiệu ngồi thẳng lưng khi giáo viên chỉ vào hình:
Việc hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các kí hiệu trên nhằm mục đích đảm
bảo tính kỉ luật, trật tự trong lớp học, giúp học sinh tập trung chú ý vào các hoạt
động học tập tránh gây mất trật tự và lộn xộn trong giờ học nhất là khi thao tác
sử dụng đồ dùng học tập.
Tư thế ngồi viết:
Để học sinh có thể tránh được một số bệnh học đường trong trường học
như: bệnh cong vẹo cột sống, bệnh cận thị… thì giáo viên phải luyện cho học
16/41
sinh có được một tư thế ngồi viết thật đúng, thật thoải mái. Muốn vậy, người
giáo viên phải có tư thế ngồi thật đúng để học sinh bắt trước. Ngay từ những tiết
học đầu tiên tôi đã làm mẫu kết hợp giải thích, hướng dẫn rất tỉ mỉ về từng động
tác tư thế ngồi học để các em hiểu và làm theo như sau:
- Lưng thẳng; không tì ngực vào bàn.
- Đầu hơi cúi, mắt cách vở 25-30cm.
-Tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ.
- Hai vai ngang bằng.
- Hai chân để song song vuông góc với mặt đất, thoải mái
Cần rèn cho trẻ ngồi thẳng lưng và vuông góc với phần mặt ghế, không
được tì sát ngực vào thành bàn. Đầu hơi cúi xuống cách mặt sách vở khoảng
cách tầm 25 cm đến 30 cm. Giữ cân bằng hai vai và đặt hai chân song song,
đồng thời vuông góc với chân. Không nên ngồi gác chân hoặc cho chân co duỗi,
khi ngồi học trong thời gian lâu nên cho trẻ đi lại để giúp cơ thể lưu thông máu.
Cách cầm bút:
- Cầm bút bằng ba đầu ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa.
- Khi viết dùng ba ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, cán
bút nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động mềm mại, thoải
mái.
- Không nên cầm bút tay trái.
Tôi cũng làm mẫu và hướng dẫn tỉ mỉ cách cầm bút: Ngón cái và ngón trỏ
đặt ở phía trên, ngón giữa ở phía dưới đỡ đầu bút cách đầu bút khoảng 1 đốt
ngón tay. Cầm bút xuôi theo chiều ngồi, bút đặt nghiêng so với giấy khoảng 45
17/41
độ. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ Khi viết đưa bút từ trái qua phải,
từ trên xuống dưới, các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải nhẹ tay.
Tay cầm bút: Tay cầm bút viết phải bằng tay phải với ba ngón làm trụ đó
là: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Ngón cái và ngón trỏ đặt ở phần trên của
thân bút và ngón giữa đỡ lấy phần dưới. Khoảng cách tính từ đầu ngòi bút đến
đầu ngón trỏ là 2,5 cm. Đầu ngón trỏ cách đầu ngòi bút chừng 2,5 cm, lúc này
bàn tay sẽ làm điểm tựa cho cánh tay để thực hiện động tác viết.
Góc nghiêng bút: Ngồi xuôi hướng nào, cầm bút theo hướng đó, góc bút
nghiêng khoảng 45 độ so với mặt giấy. Cách cầm bút dựng đứng 90 độ, quá
nghiêng so với chuẩn hoặc quá ngửa, quá sấp bàn tay đều sẽ khiến bé khó viết,
viết chậm và viết xấu.
Góc nghiêng của vở khi viết: Khác với tư thế ngồi vuông góc, vở của trẻ phải
được để nghiêng sao cho mép vở phần dưới nghiêng một góc 15 độ so với mép
bàn. Khi viết, độ nghiêng của nét chữ sẽ vuông 90 độ so với mép bàn.
Thứ tự các nét chữ: Trẻ đưa bút theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.
Khi kéo ngang tạo chiều rộng hoặc khi đưa nét lên tạo chiều cao nên thả lỏng tay
và nhẹ nhàng lướt các nét. Tránh tì xát đầu bút vào mặt giấy khi kéo nét để làm
dơ và hỏng phần tập viết.
Cách để vở, xê dịch vở khi viết:
Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt. Nếu tập viết
chữ nghiêng (tự chọn) cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vở phía dưới cùng với
18/41
mép bàn tạo thành một góc khoảng15 độ. Khi viết độ nghiêng của nét chữ cùng
với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 90 độ như vậy dù viết theo kiểu chữ
đứng hay chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ khác nhau về
cách để vở). Khi viết xuống những dòng dưới, các em tự đẩy vở lên trên để cánh
tay luôn tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết.
- Trước lúc viết tôi thường cho học sinh nhắc lại tư thế ngồi học, cách cầm
bút để vở để học sinh thực hiện theo đúng quy định. Trong quá trình học sinh
viết rất hay quên, thay đổi tư thế ngồi đúng, lúc đó tôi lại phải kiên nhẫn chỉnh
sửa cho từng em. Lặp đi lặp lại nhiều lần, các em cũng dần dần ngồi đúng, cầm
bút đúng.
- Mặt khác tôi phô tô gửi mỗi phụ huynh một bản hướng dẫn về tư thế
ngồi học, cách cầm bút, để vở. Khuyên phụ huynh mua bảng chữ mẫu viết
thường của Bộ Giáo dục và Đào tạo để hướng dẫn học sinh luyện viết ở nhà.
Thứ tự các nét chữ: Trẻ đưa bút theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống
dưới. Khi kéo ngang tạo chiều rộng hoặc khi đưa nét lên tạo chiều cao nên thả
lỏng tay và nhẹ nhàng lướt các nét. Tránh tì xát đầu bút vào mặt giấy khi kéo nét
để làm dơ và hỏng phần tập viết.
4.4. Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy định để
dạy học sinh.
Việc nắm chắc các mẫu chữ hiện hành theo chuẩn của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và việc viết tốt mẫu chữ quy định là một yêu cầu cần thiết không thể
thiếu được đối với người giáo viên Tiểu học. Đây chính là một tiêu chí mà mọi
giáo viên phải đặt ra và thực hiện. Có nắm chắc các mẫu chữ thì giáo viên mới
viết đúng và đẹp theo chuẩn được từ đó mới hướng được dẫn học sinh viết đúng
và đẹp. Chữ mẫu của giáo viên được coi như “khuôn vàng, thước ngọc”, chuẩn
mực để học sinh noi theo. Lứa tuổi của các em là lứa tuổi hay “bắt chước” và
làm theo mẫu. Giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế. Đặc biệt là
học sinh lớp 1. Người giáo viên phải coi trọng việc trình bày trên bảng là trang
viết mẫu mực của mình để học sinh học tập. Do vậy tôi thường xuyên phải tự
luyện chữ sao cho đúng và đẹp. Mỗi năm học tôi đều có vở tập viết của mình
viết sẵn, vừa để luyện chữ vừa thuận tiện cho việc hướng dẫn và làm mẫu cho
học sinh tập viết. Tôi còn sưu tầm những bài viết, vở viết sạch đẹp của học sinh
những năm học trước để giới thiệu cho học sinh học tập.
Việc viết mẫu của giáo viên là một thao tác trực quan trên bảng lớp giúp
học sinh nắm bắt được quy trình từng nét của chữ cái. Do vậy khi viết mẫu cho
học sinh tôi viết chậm lại đủ để cho học sinh quan sát, vừa viết vừa kết hợp nhịp
nhàng với giảng giải, phân tích: Đặt bút từ điểm nào, rê bút như thế nào, đưa bút
vào vị trí nào, thứ tự các nét viết ra sao, dừng bút ở điểm nào? Tôi phân tích cả
19/41
cách viết dấu phụ, dấu thanh để học sinh dễ dàng nhận biết được cách viết. Tôi
hướng dẫn cả về khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng (bằng một con chữ o ) để
học sinh không viết sát quá hoặc cách xa quá. Đồng thời tư thế đứng viết của
giáo viên cũng phải hợp lý để học sinh quan sát được tay của cô khi viết và
theo dõi được cả quy trình viết chữ. Khi hướng dẫn viết mẫu trên bảng lớp lời
nói của giáo viên phải nhẹ nhàng, gần gũi, chuẩn mực và dễ hiểu, tránh dùng các
khái niệm khó hiểu hoặc cách nói mơ hồ không rõ ràng, nên dùng đúng các thuật
ngữ cách gọi khi dạy viết chữ Tiếng Việt như: chữ ghi âm, chữ ghi vần, chữ ghi
tiếng, chữ ghi từ... Hướng dẫn tỉ mỉ cách viết từng con chữ, nét nối chính xác
theo đúng quy định cho học sinh. Không nên nói nôm, nói gọn, nói lộn xộn hoặc
nói quá nhiều gây căng thẳng khó hiểu cho học sinh. Sau đây là mẫu chữ cái viết
thường trong trường Tiểu học mà tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu:
+ Mẫu chữ cái viết thường cỡ vừa:
-Các chữ cái được viết với độ cao 5 đơn vị: b, l, h, k, g, y.
- Các chữ cái được viết với độ cao 4 đơn vị: d, đ, q, p.
- Các chữ cái được viết với độ cao 3 đơn vị: t.
- Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị: r, s.
- Các chữ cái được viết với độ cao 2 đơn vị: o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, i, c, e,
ê, n, m.
+ Mẫu chữ cái viết thường cỡ nhỏ:
- Các chữ cái được viết với độ cao 1 đơn vị: o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, i, c, e, ê,
n, m.
- Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị: b, l, h, k, g, y.
- Các chữ cái được viết với độ cao 2 đơn vị: d, đ, q, p.
- Các chữ cái được viết với độ cao 1,5 đơn vị: t.
- Các chữ cái được viết với độ cao 1,25 đơn vị: r, s.
- Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh 0,5 đơn vị.
+ Mẫu chữ cái viết hoa cỡ vừa:
- Các chữ cái được viết với độ cao 5 đơn vị, riêng hai chữ cái được viết với
độ cao 8 đơn vị là: Y, G.
+ Mẫu chữ cái viết hoa cỡ nhỏ:
- Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị, riêng hai chữ cái được viết
với độ cao 4 đơn vị là: Y, G.
+ Mẫu chữ số được viết với độ cao 2 đơn vị.
4.5. Dạy cho học sinh có kỹ thuật viết:
4.5.1. Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản:
Trước tiên tôi hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngữ dòng
kẻ:“Dòng kẻ ngang 1, ngang 2, ngang 3; ngang 4, ngang 5. Ô li 1, ô li 2…ô li 5.
20/41
Đường kẻ ngang trên, ngang dưới của một ô li. Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ
dọc 2, … dòng kẻ dọc 5”trong vở ô li, Vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp.
Tiếp theo tôi hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của
chữ. Nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét
sổ, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là
kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái,
nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt . Việc nắm chắc
cách viết, viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản sẽ nắm được cấu tạo của
từng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ dàng hơn. Sau đó tôi
dạy học sinh cách xác định toạ độ của điểm đặt bút và điểm dừng bút phải dựa
trên khung chữ làm chuẩn. Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm bắt
đầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ. Điểm dừng bút là vị trí kết
thúc của nét chữ đa số điểm kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ. Riêng
đối với con chữ o vì là nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm
dừng bút.
Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét tôi nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc
các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật.
4.5.2.Dạy các nét cơ bản
Đầu tiên giáo viên dạy cho học sinh viết hai nét ngang vào sổ. Viết cơ bản
hai nét trên cũng dễ viết và nó giúp học sinh giúp học sinh sau này có dạng chữ
viết thẳng, ngay ngắn từ đầu. Sau khi rèn kỹ hai nét trên, giáo viên mới tiến hành
dạy các nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét khuyết.
Để trong quá trình dạy tập viết được thông nhất trong cách gọi tên các nét,
giáo viên thống nhất với học sinh cách gọi tên các nét như sau:
: Nét sổ
: Nét cong hở trái
: Nét ngang
: Nét cong hở phải
: Nét xiên phải
: Nét cong kín
: Nét xiên trái
: Nét cong kín
: Nét móc xuôi
: Nét khuyết trên
: Nét móc ngược
: Nét khuyết dưới
: Nét móc 2 đầu
: Nét thắt giữa
Làm tốt phần này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được
đúng đẹp theo mẫu.
21/41