Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

QUY TRÌNH, điều KIỆN vận DỤNG NGUYÊN tắc kết hợp lý LUẬN với THỰC TIỄN TRONG dạy học học PHẦN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH lớp sơ cấp lý LUẬN CHÍNH TRỊ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.5 KB, 29 trang )

QUY TRÌNH, ĐIỀU KIỆN VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KẾT HỢP LÝ
LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LỚP SƠ CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


-Quy trình thiết kế bài giảng “kết hợp lý luận với
thực tiễn”
- Xác định mục tiêu bài học
Trong mỗi bài giảng, khâu đầu tiên giảng viên cần xác
định những yêu cầu đối với người học, nghĩa là: “Bài học
giúp cho người học biết được cái gì, cần làm cái gì”.
Một bài học đạt chuẩn không chỉ trang bị về kiến thức,
nghĩa là, sau khi học xong bài thì học viên cần nắm được
những kiến thức cơ nào? học viên cần có kỹ năng gì và có thái
độ như thế nào trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của
bản thân.
- Phương pháp, phương tiện và tài liệu
Khâu quan trọng nhất của quá trình dạy học chính là sự
lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng.
Không thể chỉ có một phương pháp độc tôn trong bài giảng.
Do vậy, người dạy phải cân nhắc để lựa chọn phối hợp các
phương pháp. Nhưng vẫn xác định nguyên tắc “kết hợp lý
luận với thực tiễn”, “học đi đôi với hành” phải là trọng tâm,
định hướng cho quá trình giảng dạy.


Tài liệu, phương tiện giảng dạy như: máy chiếu, giáo
trình, các tác phẩm nói về Người, phim tư liệu, hình ảnh về
Bác,…
- Các hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa các


mục tiêu bài học, bao gồm:
Bước 1: Ổn định lớp, kiểm tra nhận thức.
Do đặc thù của mỗi bài học, giảng viên có thể thực hiện
hoặc không, thông thường được thực hiện kết hợp với dạy bài
mới bằng các câu hỏi tái hiện hoặc phân tích, đánh giá.
Bước 2: Giới thiệu bài mới
Đây là hoạt động hỗ trợ của giảng viên nhằm dẫn dắt, lôi
cuốn học viên đến với nội dung của bài mới một cách tự
nhiên. Giới thiệu bài mới thường được thực hiện thông qua
việc liên hệ với các hiện tượng đang diễn ra của thực tiễn đời
sống.
Bước 3: Giảng bài mới
Sau phần giới thiệu bài mới, giảng viên đi ngay vào phần


dạy bài mới. Đây là hoạt động chính của giảng viên nhằm
giúp học viên lĩnh hội tri thức mới. Thông thường, khi chuẩn
bài giảng, giảng viên phải thể hiện được:
+ Hoạt động của giảng viên và học viên
Thực tế chứng minh, thao tác này được thiết kế kỹ
lưỡng, khoa học thì hiệu quả vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý
luận với thực tiễn” trong dạy học càng cao, theo đó, chất
lượng càng được nâng cao. Đối với mỗi nội dung cấn có yêu
cầu khác nhau để học viên tích cực tham gia và hiểu bài tốt
nhất. Đồng thời, phải đơn giản hóa kiến thức, minh họa bằng
những ví dụ, tình huống gắn với thực tiễn. Chỉ có như vậy
mới giúp học viên dễ dàng hơn trong việc nắm bắt nội dung
bài học, và vận dụng vào thực tế từng cơ quan, đơn vị hoặc
trong cuộc sống. Những yêu cầu này thực chất là những câu
hỏi, bài tập tình huống hoặc những chỉ dẫn được sắp xếp theo

lôgíc của nhận thức.
Tóm lại, việc thiết kế bài giảng phải đảm bảo các yếu tố
sau: phương pháp phù hợp qua các hoạt động cụ thể; đơn vị
kiến thức vừa phải, phù hợp; thời gian thực hiện, dự kiến các
tình huống phát sinh có thể xảy ra,.... Đặc biệt, giảng viên


phải thấy được hiệu quả của nguyên tắc “kết hợp lý luận với
thực tiễn”.
+ Nội dung cần đạt
Nội dung cần đạt là phần trọng tâm của mỗi bài giảng.
Nội dung này chủ yếu dựa trên hệ thống tri thức được giảng
viên xác định trước đó. Nội dung cần đạt được gồm:
Thứ nhất, nội dung cơ bản. Đó là những nội dung cốt lõi,
cần nhấn mạnh mà học viên phải đạt được. Những nội dung
cơ bản này được giảng viên lựa chọn trong nội dung bài học,
từ các nguồn tài liệu bổ trợ và thực tiễn cuộc sống.
Thứ hai, nội dung tham khảo, bổ sung. Ở mỗi bài học
đều có những nội dung bổ sung làm phong phú vốn hiểu biết
của học viên. Căn cứ vào từng đơn vị kiến thức, mục tiêu và
đối tượng học tập… giảng viên có thể đưa ra câu hỏi gắn với
các hoạt động sản xuất, các hiện tượng kinh tế trong nước
cũng như thế giới và yêu cầu người học phải thực hiện. Thông
thường, người học rất có hứng thú với kiến thức tham khảo.
Vì vậy trong quá trình soạn giáo án, người dạy nên tìm hiểu
và đưa vào những kiến thức xã hội để lôi cuốn học viên vào
bài học.


Bước 4: Củng cố kiến thức

Khi kết thúc mỗi bài giảng, giảng viên phải tổng kết kiến
thức cho học viên. Đây là khâu rất cần thiết. Trong phần này,
giảng viên khái quát lại nội dung bài học theo logic hoặc bản
đồ tư duy. Việc củng cố này nhằm giúp cho người học thấy rõ
được tổng thể nội dung bài học, lưu ý tập trung vào các kiến
thức trọng tâm, từ đó sẽ làm cho người học ghi nhớ dễ dàng
hơn.
Bước 5: Hướng dẫn học tập ở nhà
Sau khi học xong, giảng viên hướng dẫn, định hướng
cho học viên liên hệ thực tế, tiếp tục nghiên cứu theo những
hướng mở. Giảng viên có thể giao bài tập về nhà để học viên
hoàn thiện với những hoạt động cụ thể.
- Lý luận về sự kết hợp lý luận với thực tiễn trong
dạy học
Lý luận là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng
hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá
trình lịch sử, tiêu chuẩn của một lý luận khoa học là nó phản
ánh đúng bản chất qui luật của đối tượng nhận thức và phải


được khái quát thành một hệ thống bao gồm các khái niệm
phạm trù nhất định. Lý luận giữ vai trò định hướng chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của con người để nhằm đạt được kết quả
cao nhất.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính xã hội –
lịch sử của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Thực
tiễn có vai trò đặc biệt to lớn đối với lí luận, là cơ sở, điểm
xuất phát, là động lực cho sự phát triển của lí luận, đồng thời
là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.
Về vấn đề lý luận phải liên hệ thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh

khẳng định “Kết hợp giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên
tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin …lý luận mà không
liên hệ với thực tế là lý luận suông” 1, đó là thứ lý luận xa rời
và không giúp ích gì cho thực tế cuộc sống. Lý luận là sự tổng
kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri
thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử.
Nhưng lí luận không phải là một cái gì đứng im, chết cứng mà
nó luôn luôn cần đến thực tiễn để được thực tiễn bổ sung,
hoàn thiện bằng những kết luận mới trong những điều kiện,
hoàn cảnh mới. Mặt khác, lý luận là kết quả của tư duy trừu
tượng, được khái quát hóa thành những nguyên lí phổ biến,


những quy luật; dó đó Người nói : lý luận “phải cụ thể hóa …
cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”.
Và một vấn đề nữa, theo Hồ Chí Minh lý luận liên hệ với thực
tế còn là ở chỗ “mục đích học để vận dụng chứ không phải
học lý luận vì lí luận”. Người nói : “Lý luận cốt để áp dụng
vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công
việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng
vạn quyển lí luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác
nào cái một hòm đựng sách”2 .
Giáo dục lí luận chính trị, theo Hồ Chí Minh, là giáo dục
chính trị, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân,
nhằm thống nhất về tư tưởng, ý chí, phẩm chất cách mạng và
năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng
những hiểu biết ấy vào cuộc sống. do đó, gắn lí luận với thực
tiễn trong giáo dục lí luận chính trị là nguyên tắc cơ bản.
Trên cơ sở xác định phương châm như vậy, Người yêu

cầu người dạy và người học phải tuân thủ theo những cách
thức, phương pháp nhất định trong quá trình giảng dạy và học
tập lí luận chính trị.


Đối với giáo viên, Người căn dặn: “các chú dạy cán bộ,
đảng viên về Chủ nghĩa Mác – Lênin chắc có nhiều người
thuộc, nhưng các chú có làm cho họ hiểu Chủ nghĩa Mác –
Lênin là thế nào không”3. “Trường Đảng là một trường học để
đào tạo những chiến sỹ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của
giai cấp vô sản, chứ không phải biến các đồng chí thành
những người lí luận suông mà nhằm làm thế nào cho công tác
của các đồng chí tốt hơn”4 . “Đảng ta tổ chức trường học lý
luận cho cán bộ để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng
để giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình
thực tế…, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình,
hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng của mình”5.
Như vậy, đối với Trường Đảng và đội ngũ giảng viên,
với mục đích cuối cùng là để học viên “phục vụ tốt hơn cho
sự nghiệp cách mạng”. Vì thế, trong quá trình giảng dạy,
ngoài trang bị lý luận chính trị, người giảng viên phải gắn với
thực tiễn, bám sát tình hình thực tiễn để người học hiểu và
nắm chắc lý luận. Và quan trọng hơn, người giảng viên phải
giúp cho học viên biết cách vận dụng vận dụng lý luận vào
thực tiễn.


Đối với người học, Người dạy: “Học lý luận không phải
để nói mép… Học để áp dụng vào việc làm. Làm mà không
có lý luận thì không khác nào đi mò trong đêm tối, vừa chậm

chạp vừa vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi chuyện
trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm
cho đúng”6. Người chỉ rõ: “Học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin là
học tập tinh thần xử trí mọi việc đối với mọi người và đối với
bản thân mình; là học tập những nguyên lí phổ biến của chủ
nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn
cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để làm, lý luận đi đôi với thực
tiễn”7 . Ngắn gọn mà đầy đủ, sâu sắc, Người đã yêu cầu giáo
dục lí luận chính trị phải biết gắn lí luận với thực tiễn cuộc
sống, công tác.
Quán triệt thực hiện tinh thần chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, đồng thời bám sát yêu cầu của chuyên ngành giảng
dạy, trong thời gian qua, các giảng viên phụ trách phần học
“Nghiệp vụ công tác đoàn thể” (trước đây gọi là công tác Dân
vận) đã có nhiều cố gắng để nâng cao tính thực tiễn trong bài
giảng và đạt được những kết quả nhất định.


Từ thực tiễn công tác giảng dạy trong thời gian qua,
chúng tôi suy nghĩ, để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng
lí luận chính trị cần quan tâm đến một số vấn đề sau đây:
Trước hết, giảng viên phải nắm vững các nội dung lý
luận mà mình đảm nhiệm giảng dạy, để qua đó có sự lựa chọn
đúng. Không phải tất cả các nội dung lý luận trong bài giảng
đều cần có liên hệ thực tế, mà chỉ ở những vấn đề nào quan
trọng, cần thiết nhấn mạnh, khó hiểu, hay muốn tăng thêm
tính thuyết phục…
Không chỉ vậy, nắm vững lí luận còn giúp giảng viên lựa
chọn được loại kiến thức thực tiễn nào, ở mức độ nào thì phù
hợp. Như chúng ta biết, thực tiễn rất rộng và đa dạng, như Hồ

Chủ tịch đã nói : “Thực tế của chúng ta là những vấn đề mà
cách mạng đề ra cho ta giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng.
Nó bao gồm kinh nghiệm công tác tư tưởng của cá nhân,
chính sách và đường lối của Đảng cho đến các vấn đề trong
nước và trên thế giới. Đó là những thực tế mà chúng ta cần
liên hệ …”8.. Một vấn đề lí luận có thể có nhiều hiện tượng,
hoạt động thực tiễn để liên hệ, phân tích, chứng minh; và một
bài giảng cần gắn lí luận với thực tiễn không chỉ một, hai lần.
Do đó để tránh sự trùng lặp, đơn điệu cũng như để các liên hệ


thực tiễn đưa vào bài giảng sát, phù hợp với những vấn đề lí
luận định làm rõ, chứng minh thì nhất thiết giảng viên phải
nắm vững kiến thức lí luận của từng tiết mục, từng bài và toàn
bộ nội dung mà mình đảm nhiệm.
Thứ hai, giảng viên phải thường xuyên bám sát thực
tiễn. Kết hợp các phương thức khác nhau để tiếp cận với các
hình thức, các mức độ của thực tiễn. Ví dụ: đi thực tế cơ sở
(xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp…), gặp gỡ trao đổi với
cán bộ, hội viên nông dân, phụ nữ, đến với các tổ chức công
đoàn cơ sở gặp gỡ cán bộ, đoàn viên công đoàn, công nhân;
thăm quan các các mô hình lao động sản xuất, để có thực tiễn
trực tiếp sinh động, thời sự. Hoặc tích cực khai thác thông tin
ở các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tạp chí,
Internet,…) để có thực tiễn đa chiều, rộng lớn đã được chọn
lọc, phân tích. Và chịu khó nghiên cứu các tài liệu chính
thống, nhất là các văn kiện Hội nghị, Đại hội Đảng,…đây là
dạng thực tiễn có độ tin cậy cao, vừa có tính cụ thể, vừa có
tính khái quát. Có thể nói, ở thời điểm hiện nay, giảng dạy
phần học Nghiệp vụ công tác đoàn thể ở cở sở có nhiều thuận

lợi mà một phần nguyên nhân là nhờ có hệ thống kiến thức
thực tiễn từ các văn bản chính thống này. Ví dụ: giảng dạy


chuyên đề “Công tác vận động công nhân…”, khi liên hệ thực
tiễn thì Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung
ương khóa X (2008) “về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
cung cấp nhiều số liệu, sự kiện; hoặc khi giảng các chuyên đề
“Công tác vận động nông dân…”, “Công tác vận động phụ
nữ…”, “Công tác vận động thanh niên…”, giảng viên có thể
khai thác được nguồn kiến thức thực tiễn phong phú, chất
lượng từ các Nghị quyết liên quan như: Nghị quyết 11 ngày
27/4/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác phụ nữ
trong thời kì mới, Nghị quyết 25 của Ban chấp hành Trung
ương khóa X (2008) về tăn cường sự lãnh đạo công tác thanh
niên thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị
quyết về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn…
Thứ ba, nắm bắt được đối tượng học viên.
Cùng một chuyên đề nhưng giảng dạy tại các lớp học vùng
thành phố, đồng bằng, không thể đồng nhất với các lớp vùng
trung du, miền núi, hoặc giảng dạy tại các lớp đại đa số học
viên là thanh niên thế hệ trẻ, không thể giống với lớp đa số
học viên lớn tuổi. Nắm bắt được đối tượng sẽ giúp lựa chọn


kiến thức thực tiễn hoặc cách khai thác nhấn mạnh khía cạnh
nào trong cùng một sự kiện để phù hợp đối tượng..
Thứ tư, phải đảm bảo tính khoa học khi đưa các yếu tố
thực tiễn vào bài giảng đó là: yếu tố thực tiễn đưa vào bài

giảng phải có tính điển hình, tính thời sự, tính chính xác, có
địa chỉ rõ ràng và phù hợp nội dung lí luận đang cần được
phân tích chứng minh.
- Quy trình thực hiện bài giảng trên lớp
Sau khi chuẩn bị kỹ giáo án, giảng viên bắt đầu dạy học.
Thực chất là thực hiện các bước đã thiết lập ở trên. Trong quá
trình thực hiện bài giảng, cả giảng viên và học viên phải tuân
thủ các bước đề ra, trong đó, giảng viên giữ vai trò chủ đạo, là
người tổ chức, điều hành, dẫn dắt, gợi mở… học viên sáng
tạo, chủ động.
- Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
người học
Để quá trình dạy học ngày càng hoàn thiện và hiệu quả
cao thì khâu “mắt xích” chính là đánh giá. Đây cũng là khâu
thể hiện rõ nhất sự vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với


thực tiễn” trong dạy học.
Nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” cần được
đảm bảo vận dụng thường xuyên trong các hình thức như: tự
luận, vấn đáp, trắc nghiệm, dự án… Trong đó, tự luận là hình
thức được sử dụng phổ biến ở các trung tâm. Yêu cầu đặt ra là
phải đảm bảo sự công bằng, đánh giá khách quan, công khai
và đánh giá toàn diện. Các bước thực hiện:
Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá, lớp thực nghiệm có
sự thay đổi đối với lớp đối chứng khi sử dụng phương pháp
kết hợp lý luận với thực tiễn trong dạy học học phần Tư tưởng
Hồ Chí Minh lớp sơ cấp lý luận chính trị ở trung tâm bồi
dưỡng chính trị huyện Tuy An
Bước 2: Xây dựng câu hỏi đánh giá có liên hệ thực tế tại

địa phương...
bước 3 Xây dựng đáp án có mức điểm
Bước 4: Tiến hành kiểm tra, kiểm tra trên lớp với hình
thức tự luận, học viên trả lời câu hỏi kiểm tra trong giấy
Bước 5: Chấm điểm, điểm tối thiểu 0.25/ một ý; tối đa
1,0/ một ý


Bước 6: Tập hợp kết quả, rút kinh nghiệm
Kết quả này còn là cơ sở quan trọng để giảng viên căn
cứ vào đó điều chỉnh phương pháp, cách thức dạy.
- ĐIỀU KIỆN VẬN DỤNG “KẾT HỢP LÝ LUẬN VỚI
THỰC TIỄN” TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH LỚP SƠ CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở
TTBDCT HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
- Đối với đội ngũ giảng viên
- Giảng viên cần được đào tạo đúng chuyên môn,
nghiệp vụ
Trước khi yêu cầu mỗi giảng viên phải có phương pháp
dạy học hiệu quả thì trước hết họ phải là những người thấm
nhuần lý luận, vững kiến thức. Để làm được điều này thì
giảng viên phải được đào tạo chuẩn; đồng thời, phải có sự
hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, cập nhật những kiến thức
liên quan đến môn học. Hơn hết, giảng viên phải hiểu sâu sắc
và thực hành “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong hoạt động
của bản thân.
Mặt khác, giảng viên cũng cần có những kỹ năng nghiệp


vụ sư phạm tốt để có thể giải quyết triệt để các tình huống

phát sinh. Khi đó, giảng viên mới là những người làm tốt vai
trò truyền thụ tri thức, là người tổ chức, định hướng cho sinh
viên. Hơn thế nữa, khi giảng viên đã nắm vững và vận dụng
tốt nguyên tắc này thì họ sẽ tự tin trong nghề nghiệp; tạo niềm
tin yêu của học viên; giúp học viên thấy được sức hấp dẫn đối
với mỗi bài giảng. Đây chính là những phẩm chất quan trọng
hàng đầu đặt ra đối với mỗi giảng viên.
Ngoài ra, giảng viên cần hiểu người học. Khi hiểu đối
tượng, giảng viên sẽ có cách tiếp cận cũng như khích lệ họ
tham gia vào quá trình học.
- Giảng viên phải nhận thức sâu sắc về đổi mới
phương pháp dạy học
Một là,đổimới phương pháp dạy học là nhiệm vụ của
mỗi giảng viên.
Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ dừng lại ở lý
thuyết, cũng không chỉ là nhiệm vụ của các cấp, các nhà quản
lý, mà quan trọng hơn là nhiệm vụ của mỗi giảng viên, họ
chính là những người trực tiếp thực hiện nguyên lý “học đi
đôi với hành”, “lý luận gắn với thực tế”, “nhà trường gắn với


xã hội”. Điều này được quán triệt rất cụ thể trong đường lối
của Đảng và qui định của ngành giáo dục, được cụ thể hóa
trong nhiệm vụ ở mỗi trung tâm.
Hai là,đổi mới phương pháp dạy học là việc làm mang
tính khoa học.
Bản thân giảng viên phải hiểu rằng đổi mới phương pháp
dạy học là một khoa học, là quy luật khách quan chứ không
phải là một nhiệm vụ thuần túy, một khẩu hiệu hay một phong
trào chung. Việc đổi mới phương pháp dạy học phải được

thực hiện một cách đồng bộ, khoa học và có sự tham gia tích
cực của hệ thống trường Đảng.
Ba là, đổi mới phương pháp dạy học phải theo quy định.
Đổi mới phương pháp dạy học phải mang tính đồng bộ
trong hệ thống trường Đảng. Đó không chỉ là kết quả của cá
nhân hay một nhóm giảng viên tự phát mà phải thống nhất
theo một quy trình nhất định. Bài giảng phải có sự sáng tạo và
được vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhưng vẫn
đảm bảo theo quy trình thống nhất.
- Giảng viên phải sử dụng thành thạo phương tiện dạy


học hiện đại
Hiện nay, khi khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ
bão, việc áp dụng công nghệ trong giáo dục không còn xa lạ.
Nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp học viên dễ hình
dung, mô hình trực quan, sinh động những vấn đề lý luận hay
nhận biết sự hiện thực hóa lý luận trong thực tiễn thông qua
những hình ảnh tư liệu, phim hoặc bản đồ, biểu đồ,… Điều đó
buộc giảng viên phải không ngừng tự học, trau dồi các kỹ
năng cần thiết.
Nếu giảng viên không biết sử dụng hoặc sử dụng không
thành thạo các phương tiện ấy sẽ dẫn đến tâm lý ngại đưa
hình ảnh trực quan vào giảng dạy và như thế thuyết trình được
coi là phương án cuối cùng.
- Giảng viên phải tâm huyết với việc vận dụng nguyên
tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong dạy học
Vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn”
trong dạy học là một công việc khó. Giảng viên phải thường
xuyên nắm bắt, cập nhật kịp thời những thông tin mới bổ sung

vào bài giảng. Có như vậy, bài giảng mới sinh động, thực tiễn
và thu hút được học viên. Vì thế, giảng viên phải cố gắng,


kiên trì, say mê, có nhiệt huyết.
Hiện nay một bộ phận học viên học theo hình thức đối
phó, coi học phần Tư tưởng Hồ Chí Minhchỉ là học phần phụ.
Trong tình hình đó rất cần sự tâm huyết, yêu nghề của người
giảng viên.
- Đối với người học
Thứ nhất, người học phải xác định đúng đắn mục đích
học tập, có phương pháp học tập đúng đắn, cầu thị, say mê
nghiên cứu.
Thứ hai, người học phải chủ động trong quá trình học,
thường xuyên cập nhật các sự kiện, hiện tượng của thực tiễn
đời sống.
Thứ ba, người học cần có định hướng và tập nghiên cứu
khoa học.
- Đối với trung tâm bồi dưỡng chính trị
Một là, trung tâm tạo điều kiện về phương tiện dạy học,
trang thiết bị, lớp học cho giảng viên giảng dạy, tạo cơ chế
chính sách phù hợp cho giảng viên.


Hai là, trung tâm không ngừng bồi dưỡng, nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên.
Ba là, Có cơ chế khuyến khích giảng viên sáng tạo.
- QUAN ĐIỂM CỦA VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC
“KẾT HỢP LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN” TRONG DẠY HỌC
HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LỚP SƠ CẤP LÝ

LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH
TRỊ HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
- Quan điểm vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với
thực tiễn” trong dạy học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh
lớp sơ cấp lý luận chính trị ở trung tâm bồi dưỡng chính trị
huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Hồ Chí Minh là người luôn xuất phát từ thực tiễn, dựa
vào thực tiễn và khái quát từ thực tiễn những lý luận mang
tính cách mạng, sáng tạo. Do đó, việc giảng dạy những vấn đề
đó đòi hỏi giảng viên không chỉ hiểu đúng, hiểu rõ mà còn phải
biết phát triển, vận dụng, liên hệ với đặc điểm tình hình hiện nay.
Nói cách khác, giảng viên phảithành thạo việc “kết hợp lý luận
với thực tiễn” trong dạy học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh
lớp sơ cấp lý luận chính trị. Do đó, giảng viên phải quán triệt các


quan điểm sau:
- Vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” phải
phù hợp với đặc thù của môn học
Nội dung dạy học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minhcó tính
khoa học, tính trừu tượng, khái quát cao. Học phần yêu cầu
người học nắm được lý thuyết và nhiệm vụ cơ bản mà
chương trình đề ra, hơn nữa còn phải biết vận dụng để luận
giải những vấn đề hiện thực đang diễn ra, nhất là hiện nay,
khi nền kinh tế trong nước và thế giới tăng trưởng nhanh,
song lại chứa đựng nhiều nguy cơ khủng hoảng, suy thoái
rất phức tạp. Là thế hệ công dân trẻ, mỗi học viên không chỉ
nắm bắt kịp thời những vấn đề cơ bản đó, mà còn phải biết
phân tích và đưa ra những đánh giá, nhìn nhận đúng cũng
như có sự hiểu biết đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, xã

hội trong và ngoài nước. Điều đó yêu cầu giảng viên phải
biết gắn lý thuyết với những vấn đề đang diễn ra trong nước
và thế giới, nghĩa là phải biết “kết hợp lý luận với thực tiễn”
trong dạy học.
- Vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn”
phải phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị


cho đội ngũ cán bộ cơ sở
Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Tuy An, tỉnh Phú
Yên có chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở
trên địa bàn huyện. Mặc dù đơn vị đã tích lũy khá nhiều kinh
nghiệm trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nhưng
trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục,
đào tạo nói chung và hệ thống trường Đảng nói riêng, trong
thời kỳ mới, đòi hỏi công tác đào tạo cán bộ cơ sở, phải được
đổi mới góp phần “phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực”[ 16, tr. 188]. Trong
đó, việc “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong dạy học học
phần Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao trình độ nhận
thức lý luận đối với người ở thực tế địa phương, đơn vị
- Vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn”
dựa vào đặc điểm của học viên
Trong suốt chặng đường từ khi thành lập đến nay, trung
tâm đã đào tạo, bồi dưỡng gần 10.000 học viên là cán bộ cơ
sở của các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện. Mức độ
nhận thức của học viên không đồng đều. Với đặc điểm này
nên việc nhận thức, tiếp thu các học phần khoa học mang tính



trừu tượng như học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh của đa số
học viên có phần hạn chế. Chính đặc điểm này đặt ra cho đội
ngũ giảng viên phải có phương pháp dạy học mang tính thực
tiễn cao, dễ hiểu, dễ tiếp thu. Nghĩa là phải “kết hợp lý luận
với thực tiễn” trong dạy học cho học viên trung tâm bồi
dưỡng chính trị.
-Giải pháp nâng cao hiệu quả “kết hợp lý luận với
thực tiễn” trong dạy học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh
lớp sơ cấp lý luận chính trị ở trung tâm bồi dưỡng chính
trị huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
- Đổi mới nhận thức của các cấp quản lý và giảng viên
về “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong dạy học học phần
Tư tưởng Hồ Chí Minh lớp sơ cấp lý luận chính trị
Nhận thức đúng là yếu tố quan trọng, quyết định hiệu
quả vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong
dạy học học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh lớp sơ cấp lý luận
chính trị. Đó là kết quả của sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục và đào tạo. Trong đó, quá trình đổi mới tư duy
về giáo dục và đào tạo đã góp phần trực tiếp làm cho nhận
thức của chúng ta về vai trò của việc “kết hợp lý luận với thực


tiễn” ngày càng đúng, đầy đủ và đạt tới sự hoàn thiện hơn.
Nhờ đó chất lượng dạy và học ở trung tâm bồi dưỡng chính trị
không ngừng nâng cao. Thực tế đó giúp chúng ta ngày càng
thấy sự cần thiết “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong dạy học
học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh để từ đó đầu tư thỏa đáng
hơn cho việc vận dụng nguyên tắc này.
- Phối hợp chặt chẽ việc “kết hợp lý luận với thực
tiễn” và các phương pháp dạy học khác với việc sử dụng

hiệu quả các phương tiện hiện đại
Không thể có một phương pháp độc tôn. Nguyên tắc
“kết hợp lý luận với thực tiễn” chỉ thực sự có hiệu quả khi
được thực hiện thông qua các phương pháp dạy học tích cực.
Từ đó, làm cho giờ giảng trở nên thú vị, sinh động và không
bị khiên cưỡng, khuôn mẫu theo một phương pháp duy nhất.
Các giờ giảng sẽ sinh động, thu hút người học hơn khi
giảng viên biết kết hợp với việc sử dụng hiệu quả các phương
tiện dạy học hiện đại. Những kiến thức lý luận sẽ không còn
khó hiểu, khô cứng khi học viên được mô tả, được chứng kiến
qua những hình ảnh minh họa, video tư liệu,… Điều đó không
chỉ đem lại hiệu quả của các giờ học mà còn là động lực, thúc


×