CƠ SỞ CỦA VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC “KẾT
HỢP LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN” TRONG DẠY HỌC HỌC
PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LỚP SƠ CẤP LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về “kết
hợp lý luận với thực tiễn”
“Kết hợp lý luận với thực tiễn” luôn là một nguyên tắc
quan trọng trong nhận thức và thực tiễn. Vận dụng đúng
nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” sẽ giúp con người
tránh được tư tưởng chủ quan, bệnh giáo điều.
Thực tiễn
Khái niệm: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có
mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải
biến tự nhiên và xã hội.
“Thực tiễn là phạm trù cơ bản trong lý luận nhận thức
mácxít. Việc đưa vấn đề thực tiễn vào lý luận nhận thức đã
góp phần tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng của triết
học mácxít so với các hệ thống triết học duy vật cũ.”[7,
tr.209]
Trong các nhà duy vật cũ, C.Mác đánh giá cao hệ thống
triết học của L.V. Phoi-ơ-bắc. Trong cuộc đấu tranh chủ nghĩa
duy tâm, Phoi-ơ-bắc đã góp phần “đưa chủ nghĩa duy vật lên
ngôi vua”.
Tuy nhiên, Phoi-ơ-bắc cũng không tránh khỏi hạn chế.
Theo Mác, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy vật cũ là mang
tính trực quan, rằng “… sự vật, hiện thực, cái cảm giác được,
chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức
trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác
của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ
quan.” Phoi-ơ-bắc như Mác đã chỉ ra, chỉ coi trọng lý luận mà
xem nhẹ thực tiễn. [31, tr. 9]
“Phoi-ơ-bắc đã không thấy được tính tích cực, năng
động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức, không thấy được nhận
thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con
người. Nhận thức là kết quả của quá trình tương tác giữa chủ
thể và khách thể nhận thức. Ông đã sai lầm khi tách khách thể
ra khỏi chủ thể, không chú ý tới khách thể nhận thức, không
coi sự vật, hiện thực, cái cảm giác được là thực tiễn”.[7, tr.
209]
Còn các nhà triết học duy tâm chỉ chú trọng đến ý thức
nên cho rằng thực tiễn cũng chỉ là một sản phẩm của hoạt
động tinh thần.
C.Mác và Ph.Ăngghen trên cơ sở kế thừa và phát triển
trên tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng
định: “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất, đối tượng –
cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người
với nội dung là chinh phục và cải biến các khách thể tự nhiên,
xã hội và cấu thành cơ sở phổ biến, động lực phát triển của xã
hội, của nhận thức con người”. [ 9, tr. 210]
Thực tiễn không đơn giản là “hoạt động vật chất” thuần
túy. Hoạt động của con người, ngay cả những hoạt động cơ
bắp, giản đơn nhất cũng có sự tham gia của ý thức. Đây là
điểm đặc trưng nhất để phân biệt giữa hoạt động hoàn toàn
mang tính bản năng của con vật và hoạt động có ý thức ở con
người. Trước khi làm bất cứ việc gì thì trong tư tưởng của con
người cũng đã hình thành ý thức về nó, đề ra các mục tiêu,
mục đích nhất định. Vì vậy, hoạt động thực tiễn trước hết là
hoạt động có tính mục đích. Thực tiễn là dạng hoạt động vật
chất phổ biến. Đây là đặc tính cơ bản nhất khác biệt, đối lập
với hoạt động nhận thức, tinh thần. Tính vật chất phổ biến của
thực tiễn bao trùm toàn bộ kết cấu của nó: ở chủ thể, khách
thể, nhu cầu, ở các phương tiện và đặc biệt ở kết quả cuối
cùng mà nó tạo ra.
Thực tiễn luôn có tính lịch sử - xã hội. Hoạt động thực
tiễn không phải là hoạt động của một cá nhân người mà là
hoạt động của loài người, những người trực tiếp tham gia hoạt
động sản xuất ra của cải vật chất.
Thực tiễn không chỉ bó hẹp trong hoạt động vật chất mà
còn bao hàm cả hoạt động lý luận. Theo C.Mác, “vấn đề tìm
hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách
quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là
một vấn đề thực tiễn.”[31, tr. 10]
Có thể nói có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động hiện thực
của con người thì có bấy nhiêu hình thức của thực tiễn. Theo
lĩnh vực hoạt động có thể phân chia thành:
Một là, Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động trực
tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nó tác động trực tiếp
vào giới tự nhiên và xã hội, tạo ra những điều kiện vật chất,
của cải thiết yếu đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người.
Hoạt động này tạo ra các tiền đề, điều kiện cơ bản cho sự sinh
tồn và phát triển của đời sống con người.
Hai là, Hoạt động chính trị - xã hội:là hoạt động nhằm
biến đổi các mối quan hệ xã hội, mà trước hết là các quan hệ
vật chất được thực hiện bởi các cộng đồng người khác nhau
trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Ba là, Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động
được tiến hành nhằm tìm ra bản chất cũng như các quy luật
vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới thông qua
việc tạo ra những điều kiện “gần giống hoặc lặp lại những
trạng thái của tự nhiên và xã hội” [9, tr.211].
Các hình thức của hoạt động thực tiễn có quan hệ biện
chứng với nhau, trong đó, hoạt động sản xuất vật chất đóng
vai trò quyết định nhất. Bởi lẽ, nó tạo ra những điều kiện vật
chất thiết yếu nhất đảm bảo cho sự phát triển sống còn của đời
sống con người. Đảm bảo được nhu cầu vật chất mới tạo ra
tiền đề cho con người thực hiện các hoạt động biến đổi xã hội
và tiến hành thực nghiệm khoa học.
“Trong hoạt động sản xuất vật chất và cải tạo xã hội, con
người cần phải nương theo bản chất và các tính quy luật của
đối tượng mà họ tác động vào thì hoạt động mới thành công,
tiết kiệm tối đa chi phí và đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy, con
người cần phải nắm vững bản chất và các tính quy luật đó, mà
muốn biết được chúng thì con người phải nhận thức.”[9, tr.
211]
Lý luận
Khái niện: là hệ thống những tri thức được khái quát từ
kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất,
tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái
niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật....
“Lý luận” là thuật ngữ đa nghĩa. “Lý luận” thường được
hiểu là kết quả của một quá trình nhận thức bao gồm các quan
điểm, học thuyết được trình bày một cách khoa học. Nhưng
theo nghĩa rộng hơn, “Lý luận” còn được hiểu là “một quá
trình nhận thức”, nghĩa là “một hoạt động – hoạt động lý luận,
bao gồm những diễn biến nội tại và cả những điều kiện bên
ngoài của hoạt động.”[9, tr. 207]
Lênin viết: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể
trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của
nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”.[28,
tr. 227]
Theo quan điểm của Lênin, “lý luận” không những được
hiểu như một quá trình nhận thức mà còn là kết quả của quá
trình ấy. “Lý luận phải hướng đến nắm bắt cái bên trong, bản
chất, tất yếu, những quan hệ toàn diện và mâu thuẫn của đối
tượng, đồng thời phải trình bày, thể hiện được điều đã nắm
được ấy dưới dạng quan điểm hay hệ thống luận điểm.”[9, tr.
207]
Theo quan điểm của các nhà Mácxít cho rằng: “Lý luận
là sự nhận thức bản chất, mối liên hệ bên trong tất yếu của đối
tượng và diễn đạt kết quả của nhận thức đó bằng hệ thống các
khái niệm, phạm trù, phán đoán về quy luật nội tại của đối
tượng”. [9, tr. 207]
Lý luận thường được thể hiện thông qua hệ thống các
khái niệm, phán đoán. Trong hoạt động lý luận, chủ thể
thường sử dụng các thủ thuật như quy nạp, phân tích, so sánh.
Hoạt động lý luận không phải là nắm bắt trực tiếp các đối
tượng nhận thức thông qua sự tác động trực tiếp vào các giác
quan. Nó có tính gián tiếp đối với đối tượng nhận thức.
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Trong quá trình nhận thức và hành động, con người tác
động vào thế giới hiện thực, biến đổi nó theo những nhu cầu
của mình. Khi nhận thức của con người ngày càng phát triển
đến một trình độ cao hơn thì thế giới khách quan cũng biến
đổi theo. Điều đó thể hiện sâu sắc nguyên tắc “kết hợp giữa lý
luận với thực tiễn” trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
và con người. Trong sự liên hệ, hỗ trợ ấy, “thực tiễn đóng vai
trò là cơ sở, là động lực, là mục đích của lý luận và là tiêu
chuẩn để kiểm tra chân lý; còn lý luận là sự phản ánh của thực
tiễn khách quan, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của thực
tiễn.”[9, tr.211- 212]
Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận. Ý muốn nhận
thức xuất hiện cùng với sự phát triển năng lực thực tiễn của
con người. Lúc đầu, con người nhận thức thế giới thông qua
thực tiễn tác động trực tiếp vào thế giới cũng như chịu sự tác
động ngược trở lại từ thế giới bên ngoài. Hoạt động sống ngày
càng gia tăng, đòi hỏi con người phải nhận thức nhiều hơn các
lĩnh vực hiện thực mà nó cần làm thay đổi và cải tạo cho phù
hợp với lợi ích của mình. Thực tế đã chỉ rõ, các phát minh
khoa học cũng như nhận thức nói chung đều do nhu cầu của
thực tiễn đặt ra. Có thể nói, thực tiễn tạo ra những nhu cầu
thúc đẩy hình thành lý luận. Trên cơ sở đó, lý luận tiếp tục
được làm mới, mở rộng và phát triển. Do đó, V.I.Lênin cho
rằng: " nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính
tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự
vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó"[28, tr.227].
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Trong hoạt động thực
tiễn, con người cần lý luận để dẫn dắt. Thực tiễn là nơi để áp
dụng sức mạnh của tri thức. Mục đích cao nhất của nhận thức
hay dừng ở sự hình thành tri thức mà còn là sự cải tạo hiện
thực đáp ứng theo những nhu cầu ngày càng cao của đời sống
con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý của lý luận. Lý
luận chỉ trở thành chân lý khi nó phù hợp với hiện thực khách
quan và được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn. Khi đã trở
thành chân lý, lý luận có ý nghĩa phương pháp luận cho hoạt
động thực tiễn của con người.
Nhìn chung, thực tiễn luôn vận đông, biến đổi và phát
triển không ngừng; các hình thức của thực tiễn cũng vô cùng
đa dạng, phong phú. Từ đó, những giá trị chân lý của lý luận
được khái quát, bổ sung và hoàn thiện. Đến lượt mình, lý luận
lại chỉ đạo, định hướng và dẫn đường cho thực tiễn.
C.Mác đã cho rằng: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên
không thể thay thế được sự phê phán của vũ trụ, lực lượng vật
chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; những lý
luận cũng sẽ trở thành vật chất, một khi nó thâm nhập vào
quần chúng". [29, tr.580]
Đánh giá về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn, Lênin nhận xét rằng: "Thực tiễn cao hơn nhận thức
(lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến,
mà cả tính hiện thực trực tiếp" [28, tr.230].
Quan điểm của Hồ Chí Minh về “kết hợp lý luận với
thực tiễn”
Theo Hồ Chí Minh, “Lý luận là sự tổng kết những kinh
nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên
và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử"; “Lý luận là đem
thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm trong các cuộc tranh
đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành lý
luận, rồi lại đem nó chứng minh trên thực tế” [41, tr.96]. Từ
đó, Người cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin “là sự tổng kết
kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của
tất cả các nước. Nó là khoa học về các quy luật phát triển của
tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị
áp bức và bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”
[41, tr. 96]. Theo Người, “lý luận là đem thực tế trong lịch sử,
trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh
thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận, rồi lại đem nó
chứng minh với thực tế”. Theo đó, kinh nghiệm thực tế là cở
sở để hình thành lý luận.Tri thức lý luận cao hơn về chất và
được thể hiện trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy
luật. Trên cơ sở khái quát hóa, trừu tượng hóa cao, lý luận
mang lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, quy luật vận động
của thế giới khách quan.
Khi nói về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Người
khẳng định: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”, “Lý luận kết hợp
với thực hành”, “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi
với nhau”, “Lý luận phải kết hợp với thực tế”[ 36, tr. 292]. Dù
diễn đạt là “đi đôi”, “gắn liền”, hay “kết hợp”, thì mục đích
của Người là khẳng định sự “Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực
tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng.
Lý luận mà không kết hợp với thực tiễn là lý luận suông”[ 35,
tr. 496].
Theo Hồ Chí Minh, không có lý luận thì con người sẽ
dựa vào những thói quen kinh nghiệm và tuyệt đối hóa kinh
nghiệm. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ
bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận
rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm
đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách
mạng”[34, tr. 247]. Họ còn quên rằng, “kinh nghiệm của họ
tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ
thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý
luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”[ 30, tr. 234]. Người
chỉ rõ, đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không
có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”[ 30, tr. 234235 ]. “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò
trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”[34, tr. 47 ]. Vì
không hiểu bản chất của lý luận hay chỉ thuộc câu chữ nên khi
vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn thì không sát
thực, không phù hợp.
Người khẳng định, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách
học tập không đúng thì sẽ không có kết quả”.
Người phê phán lối “học sách vở chủ nghĩa Mác - Lênin
nhưng không học tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin”[36, tr.
292]. Nghĩa là học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, theo
kiểu “mượn những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta
lầm lẫn”[ 34, tr. 247]. Theo Người, học tập chủ nghĩa Mác Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học
tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác
- Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy
mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác
cách mạng của chúng ta”[35, tr. 497]. “Học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với
mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý
phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách
sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà
làm”[36, tr. 292]. Bởi theo Người “học tập lý luận thì nhằm
mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận,
hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra
mặc cả với Đảng.”[ 35, tr. 498]. Điều đó có nghĩa là học chủ
nghĩa Mác - Lênin để tự trang bị lý luận cho mình, học làm
người để giúp dân, giúp nước, khắc phục bệnh kinh nghiệm
trong hoạt động thực tiễn. Tư tưởng này đến nay vẫn giữ
nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Như vậy, để quán triệt và thực hành nguyên tắc “kết hợp
lý luận với thực tiễn” trong nhận thức và hoạt động, con
người cần phải không ngừng học tập, rèn luyện. Lý luận chỉ
thực sự có ý nghĩa khi nó được vận dụng vào hoạt động thực
tiễn.
Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đổi mới
giáo dục và vận dụng nguyên tắc “kết hợp lý luận với thực
tiễn” trong giáo dục
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề đổi mới
giáo dục. Chủ trương này được thực hiện bằng “Chỉ thị của
Ban Bí thư, số 110-CT/TW, ngày 21 tháng 10 năm 1958 Về
việc tổ chức cho các giáo sư, giảng viên, cán bộ, sinh viên các
trường đại học và học sinh các trường chuyên nghiệp trung
cấp đi tham gia lao động sản xuất”. Theo Chỉ thị này, sau khi
tiến hành đợt chỉnh huấn chính trị với kết quả tốt, giảng viên,
sinh viên đã nâng cao nhận thức về nhà trường xã hội chủ
nghĩa, đã phân biệt đường lối xã hội chủ nghĩa với đường lối
tư bản chủ nghĩa về xây dựng nhà trường; nhận rõ sai lầm và
thiếu sót về lập trường, quan điểm trong giảng dạy và học tập.
Đặc biệt, người dạy và người học đều nhận thấy phải cải cách
việc giảng dạy và học. Mục đích của đợt tham gia lao động
sản xuất này là: Qua lao động sản xuất mà bồi dưỡng thêm tư
tưởng xã hội chủ nghĩa và tình cảm của giai cấp công nhân,
thấy được sức lao động sáng tạo vĩ đại của quần chúng công
nông để tǎng thêm nhiệt tình và xác định thái độ phục vụ quần
chúng lao động và đồng cam cộng khổ với họ.
Đảng ta đã vận dụng linh hoạt và sáng tạo nguyên tắc
“kết hợp lý luận với thực tiễn” . Để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, đường lối lãnh đạo của Đảng
trong giáo dục và đào tạo là tiến hành đổi mới toàn diện.
Đảng ta xác định: “Từng bước nghiên cứu, áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình
đào tạo”[14]. Đảng nhấn mạnh: phải thay đổi phương pháp
dạy học truyền thống, phát huy được sự sáng tạo, tư duy logic
của người học.
Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp dạy học phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và chí
vươn lên”.[45]
Sự đổi mới đó đã có được những thành công nhất định
nhưng vẫn còn những hạn chế ở các cấp học. Cụ thể là “chất
lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển,
nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; chưa chuyển
mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội; chưa giải quyết
tốt mối quan hệ giữa dạy chữ và dạy người”; “chất lượng giáo
dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[ 18, tr. 168].
Đó là do “chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học
lạc hậu, đổi mới chậm”[18, tr.167].
Để phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục
hạn chế còn tồn tại, Đảng ta chủ trương “Đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục, đào tạo”[ 18, tr. 216] theo hướng “thực
hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện
đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng
giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng,
đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác
phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”[18, tr. 216].
“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu
cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập
quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”[18, tr. 77] là một điển hình về “kết hợp lý luận với thực
tiễn”.
Trong giảng dạy chính trị, các vấn đề lý luận phải được
gắn liền với thực tiễn, thường xuyên liên hệ đến các vấn đề
của hoạt động thực tiễn. Khi giảng dạy, giảng viên phải
thường xuyên nắm bắt kịp thời và liên hệ chính xác với các
hiện tượng trong đời sống thực tiễn sinh động. Lý luận chính
trị không phải là những điều cứng nhắc mà phải thường xuyên
được liên hệ, khái quát, bổ sung và hoàn thiện từ thực tiễn
sinh động.
Đối với bất kỳ lĩnh vực khoa học nào, để nâng cao hiệu
quả nhất thiết phải bám sát thực tiễn. Đó chính là sự thể hiện
mối liên hệ hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau giữa lý luận với thực tiễn.
Mục tiêu của lý luận là hướng đến giải quyết các vấn đề thực
tiễn. Mặt khác, lý luận không thể tự thân phát triển nếu thiếu
thực tiễn. Lý luận phải hướng về thực tiễn, có hướng về thực
tiễn, gắn với thực tiễn thì mới phát hiện những “đặt hàng” từ
thực tiễn. Đồng thời, chỉ khi gắn với thực tiễn thì lý luận mới
tìm được những câu trả lời thực sự có giá trị. Ngay cả phương
pháp tư duy lý luận, dù cao siêu đến đâu, xét đến cùng, đều là
sự khái quát, mô phỏng từ hoạt động thực tiễn.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
- Khái quát về trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Thực hiện Quyết định số 100-QĐ/TW, ngày 05/06/1995
của Ban Bí thư (khóa VII) về việc tổ chức, hoạt động trung
tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy
Tuy An, tỉnh Phú yên đã ban hành Quyết định số 03-QĐ/HU
ngày 25/4/1996 về việc thành lập trung tâm bồi dưỡng chính
trị huyện.
Tại thời điểm thành lập, trình độ trung cấp 02 đồng chí,
cao đẳng có 01 đồng chí, đại học có 02 đồng chí. Trong đó
trung tâm có 02 đồng chí làm công tác giảng dạy, còn lại là sử
dụng đội ngũ giảng viên kiêm chức của huyện.
Chức năng, nhiệm vụ: trung tâm bồi dưỡng chính trị
huyện có nhiệm vụ “đào tạo trình độ sơ cấp lý luận chính trịhành chính, bồi dưỡng các chương trình lý luận chính trị cho
các đối tượng theo quy định; các Nghị quyết, Chỉ thị của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng
viên trên địa bàn huyện; bồi dưỡng cập nhập kiến thức mới về
chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, quản lý Nhà
nước, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội; bồi dưỡng
chính trị cho đối tượng phát triển đảng, lý luận chính trị viên
mới, nghiệp vụ công tác cho cấp ủy viên cơ sở, chính quyền
địa phương”. Cụ thể như: lớp sơ cấp lý luận chính trị, lớp bồi
dưỡng nhận thức về đảng, lớp bồi dưỡng Đảng viên mới, lớp
bồi dưỡng cán bộ hội liên hiệp phụ nữ cơ sở, lớp bồi dưỡng
nghiệp vụ và pháp luật cho lực lượng công an xã, lớp bồi
dưỡng cán bộ mặt trận cơ sở, lớp bồi dưỡng cán bộ Hội nông
dân cơ sở, lớp bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở, lớp bồi dưỡng
cập nhật kiến thức lý luận chính trị đối tượng 5, lớp bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng an ninh đối tượng 4, lớp bồi dưỡng hội
viên hội cựu chiến binh cơ sở,...
Trải qua chặng đường hơn 21 năm cho đến nay trung
tâm bồi dưỡng chính trị đã bồi dưỡng, giáo dục chính trị cho
hơn 10.000 học viên là cán bộ cấp cơ sở. Chính vì vậy mỗi
giảng viên của trung tâm đều ý thức việc sử dụng hợp lý và có
hiệu quả thời gian giảng dạy và học tập trên lớp. Hiện nay,
tổng số giảng viên kiêm chức của trung tâm là 11 giảng viên.
Số giảng viên phụ trách giảng dạy học phần Tư tưởng Hồ Chí
Minh là 4 giảng viên, trong đó trung tâm có 2 giảng viên
chuyên trách, còn lại là 2 giảng viên kiêm chức.
Về tinh thần trách nhiệm của giảng viên: Mặc dù hầu hết
là giảng viên kiêm chức nhưng các giảng viên đều có ý thức
nghiêm túc trong soạn giáo án, tiến hành bài giảng theo giáo
trình quy định cho từng đối tượng. Từ đó truyền đạt cho học
viên những kiến thức về khoa học chính trị, tu dưỡng về lý
tưởng cách mạng đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong tình hình
mới.
- Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc “kết hợp
lý luận với thực tiễn” trong việc giảng dạy học phần Tư
tưởng Hồ Chí Minh lớp sơ cấp lý luận chính trị ở trung
tâm bồi dưỡng chính trị huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên .
Để có cái nhìn khái quát, khách quan về việc “vận dụng
nguyên tắc kết hợp lý luận với thực tiễn trong dạy học học
phần Tư tưởng Hồ Chí Minh lớp sơ cấp lý luận chính trị ở
trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”,
tác giả đã phát phiếu trưng cầu ý kiến đối với 04 giảng viên và
giảng viên kiêm chức và 82 học viên lớp sơ cấp lý luận chính
trị K8 và K9. Sau khi thu thập và xử lý kết quả, tác giả rút ra
những nhận định sau:
Mặt tích cực
*Nhận thức của giảng viên về “vai trò việc vận dụng
nguyên tắc kết hợp lý luận với thực tiễn trong dạy học học
phần Tư tưởng Hồ Chí Minh”
Để tìm hiểu mức độ nhận thức của giảng viên, tác giả
đưa câu hỏi khảo sát: “Theo thầy (cô), việc vận dụng nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình giảng
dạy học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế
nào?”. (xem Phụ lục 1)
Kết quả từ phiếu trưng cầu ý kiến cho thấy, 4/4 giảng
viên (chiếm 100%) ý kiến được hỏi đã khẳng định “tầm
quan trọng” và “rất quan trọng” của việc vận dụng nguyên
tắc “kết hợp lý luận với thực tiễn” trong giảng dạy học phần
Tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả này cho thấy, nhận thức
chung của 4 người cán bộ, giảng viên của trung tâm bồi
dưỡng chính trị huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tương đối tốt.
Đây sẽ là một thuận lợi lớn cho tác giả khi triển khai nghiên
cứu tại trung tâm. Đồng thời, đó cũng sẽ là cơ sở thúc đẩy
các thầy, cô thay đổi cách dạy học, thường xuyên trau dồi,
tự rèn luyện chuyên môn.
Để khảo sát nhận thức của giảng viên về nguyên tắc
“kết hợp lý luận với thực tiễn”, tác giả đã đưa câu hỏi:
“Theo thầy (cô), vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong giảng dạy học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh
được hiểu như thế nào?”. (Xem Phụ lục 1). Qua điều tra, đa
số giảng viên đều “ kết hợp lý luận với thực tiễn” là phải
thường xuyên liên hệ các hiện tượng trong thực tiễn gắn với
lý luận.
*Phương pháp và mức độ sử dụng các phương pháp
dạy học tích cực
Tìm hiểu về các phương pháp mà giảng viên sử dụng
(Xem câu 2, câu 3 Phụ lục 1). Kết quả được thể hiện thông
qua bảng số liệu sau:
- Phương pháp và mức độ sử dụng của giảng viên
(Ghi chú: MĐ 1: Luôn luôn; MĐ 2: Thường xuyên; MĐ
3: Thỉnh thoảng MĐ 4: Không bao giờ)
S
PH
MĐ
T ƯƠNG
1
T PHÁP
L
1
Thu
Đà
Nêu
Trực
T
thoả
bao
n
xuyên
ng
giờ
3
7
1
5%
1
1
5%
2
5%
o luận
1
%
0
2
1
0
2
2
5%
0
%
1
5%
2
2
5%
5%
5
0
%
2
1
0%
0
0
5%
5
2
0
1
0%
0
0
2
T
hông ỷ lệ
%
5%
2
0
0
5%
2
1
2
ỷ lệ
K
g
%
Thả
T
luô
quan
5
T
hỉnh
vấn đề
4
T
MĐ 4
hườn ỷ lệ
m thoại
3
T
MĐ 3
uôn ỷ lệ
yết trình
2
MĐ 2
2
5%
5
1
0%
2
5%
nhóm
6
DH
0
0
0
0
2
5
2
5
tình
%
%
0%
0%
huống
7
Độn
g não
0
0
0
%
0
%
1
2
5%
3
7
5%
Từ kết quả cho thấy: Các phương pháp chủ yếu mà
giảng viên sử dụng là thuyết trình, đàm thoại. Một số thầy cô
đã bước đầu sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như:
nêu vấn đề, thảo luận nhóm nhưng vẫn chưa hiệu quả. Những
phương pháp này phần nào đã giúp học viên nhận thức và
hiểu rõ hơn về kiến thức. Tuy vậy, hai phương pháp là động
não và dạy học dự án thì hầu như giảng viên chưa sử dụng,
mức độ “Thỉnh thoảng” và “Không bao giờ” chiếm tỷ lệ cao
(50% và 75%).
- Hạn chế và nguyên nhân
Từ việc điều tra giảng viên và học viên (xem phụ lục 1,
phụ lục 2) có thể thấy việc giảng dạy học phần Tư tưởng Hồ
Chí Minh lớp sơ cấp lý luận chính trị tại trung tâm bồi dưỡng
chính trị huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên bên cạnh những mặt
tích cực còn nhiều bất cập, hạn chế.