ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TIỂU LUẬN
Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị
văn hóa truyền thống ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
TS. Trịnh Sơn Hoan
Nguyễn Văn Lại
K37.QLK.QNA
Quảng Nam, tháng 9 năm 2018
PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng
chế độ chiếm hữu nô lệ. Những thời kỳ lớn của lịch sử triết học là: triết học của xã hội chiếm hữu nô
lệ, triết học của xã hội phong kiến, triết học của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang chủ
nghĩa tư bản, triết học của xã hội tư bản chủ nghĩa, triết học Mác- Lênin.
Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau của các trường phái, học
thuyết, phương pháp triết học trong lịch sử. Việc nghiên cứu lịch sử triết học không thể bỏ qua những
điều kiện, tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học, tôn giáo và nghệ thuật trong lịch sử có liên
quan đến triết học. Mục tiêu của lịch sử triết học là vạch ra những phát sinh, hình thành và phát triển
của hai khuynh hướng triết học cơ bản. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử
triết học từ cổ đại đến đương đại, song đó là "đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập" trong sự
phát triển của lịch sử tư tưởng triết học.
Phương Đông là một trong những chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại. Từ thiên niên kỷ thứ
VIII trước Công Nguyên, Ấn Độ và Trung hoa cổ đại đã trở thành trung tâm văn minh lớn của xã hội
loài người lúc bấy giờ. Những tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần
tuý mà thường được trình bày dươí dạng xen kẽ hoặc ẩn sau các vấn đề chính trị- xã hội, đạo đức,
nghệ thuật trong lịch sử triết học phương Đông, ít thấy có những bước phát triển nhảy vọt về chất có
tính vạch thời đại: Nho giáo, Phật giáo, Bà la môn giáo, ... được hình thành từ thời cổ đại nhưng đến
cuối thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện.
Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.
Những tộc người cổ đại phương Đông như Đravia ở Ấn Độ và Trung á; Hạ Vũ, ấn Thương, Chu Hán
ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam,... sớm định cư canh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông
nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ
trụ dường như không có gì tách biệt.
Một trong những cái nôi của triết học phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ. Với sự ảnh hưởng
của triết học phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu
sắc của hai trường phái triết học này. Vì vậy, trong bài viết này, em xin chọn đề tài: "Nho giáo và ảnh
hưởng của Nho giáo đến giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam".
Em xin cảm ơn Thầy T.S Trịnh Sơn Hoan giảng viên bộ môn triết học đã truyền đạt cho em những
kiến thức quý giá về triết học; đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bài viết này.
CHƯƠNG I
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
I. SƠ LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT NHO GIÁO
Trung Quốc là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trải qua gần bốn
mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với
những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc.
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại. Đó là những
tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến
cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử (551-479TCN) và các môn đệ của Ông là
Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử ( 313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh
điển là Tứ Thư và Ngũ Kinh.
Tứ Thư gồm : Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của
Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra.
Ngũ Kinh gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Nội dung bộ sách này
phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính và giải thích. Do Khổng Tử có
công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được
xem là người sáng lập Nho giáo.
Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử được coi là giai đoạn hình thành, giai đoạn này được coi là
Nho giáo nguyên thuỷ.
Năm 221 TCN Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp
luật độc đoán khắt nghiệt đã dùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo.
Khi Hán Vũ Đế lên ngôi (140-87 TCN), đã thực hiện những chính sách quan trọng, thực hiện theo
lời khuyên của Đổng Trọng Thư, khôi phục Nho giáo và đưa Nho giáo lên địa vị Quốc giáo .
Nho giáo đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều. Do
đó từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Quốc và làm
nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn năm lịch sử.
Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (Tam cương ) là:
- Đạo vua tôi (quân thần)
- Đạo cha con (phụ tử)
- Đạo vợ chồng (phu phụ)
Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ) Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Hạt nhân tư tưởng của triết học Nho giáo là Nhân và Lễ.
Nho giáo coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhân giả” (kẻ có nhân ấy, ấy là con
người vậy) “nhân giả ái nhân” (người có nhân thì yêu con người)
Để đạt chữ “nhân”, Khổng Tử chủ trương dùng lễ nhà Chu (Chu lễ) “Nhất nhật Khắc kỷ phục lễ,
thiên hạ quy nhân yên”(một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ quy về nhân vậy). Nhà Nho đã từ
hai chữ nhân và lễ mà suy diễn ra cả một hệ thống triết học chính trị, triết học đạo đức và triết học
lịch sử.
Trên cơ sở những tư tưởng triết học ấy đã hình thành mẫu người của Nho giáo là người quân tử
mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc,
bình thiên hạ. Giữa Khổng Tử và các học trò của Ông có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí mâu
thuẫn với nhau như “Quan điểm về thế giới” nhưng nhìn chung có sự thống nhất. Sự thống nhất đó
thể hiện ở hệ thống quan điểm về đạo đức luân lý, chính trị - xã hội, trong đó có sự thống nhất về các
giá trị đạo đức, các mối quan hệ con người (ngũ luân), trật tự đẳng cấp xã hội (chủ trương chính
sách), sự tất yếu của chính quyền.
Trong triết học của Nho giáo với nội dung đạo đức, luân lý phong phú, thống nhất với nhau và
thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân
sinh và có nhiều đóng góp hữu ích vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục
đạo đức của nhân loại.
Do hạn chế về mặt lịch sử, triết học Khổng Tử chứa đựng các mâu thuẩn giằng co, đan xen giữa
những yếu tố duy vật, vô thần với những yếu tố duy tâm, giữa những tư tưởng tiến bộ với những quan
điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng giằng xé của Ông trước biến chuyển của thời cuộc. Tính không nhất
quán ấy là cơ sở để các thế hệ sau khai thác, bóp méo theo khuynh hướng duy tâm, tôn giáo thần bí.
Về mặt chính trị xã hội, Ông dừng lại trong lĩnh vực đạo đức, luân lý, không chú ý đến lĩnh vực sản
xuất kinh tế và nhu cầu của con người là cơ sở để phát triển của xã hội.
Tư tưởng Mạnh Tử tuy còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí, nhưng với tư tưởng dân quyền, “nhân
chính”, “bảo dân”… có ý nghĩa tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử xã hội
đương thời.
Tư tưởng của Tuân Tử có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng khi lý giải về những vấn đề xã hội
có nhiều yếu tố duy tâm, thiếu khách quan khoa học vì liên hệ mật thiết với giai cấp địa chủ mới và
cung cấp cho giai cấp này căn cứ lý luận Với học thuyết “Chính danh định mệnh” làm cho con người
chấp nhận sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến, là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm phát triển của
các nước phuơng Đông.
Quan hệ của con người trong Tam cương có tính phiến diện. Mặc dù Nho giáo có nói đến nghĩa
vụ và cách đối xử của hai bên, nhưng thực tế thì trước sau chỉ lên án những kẻ làm tôi, làm con, làm
vợ mà thôi. Thực tế đó là mối quan hệ độc đoán một chiều. Hơn nữa, quy toàn bộ quan hệ xã hội của
con người vào Tam cương, Ngũ thường là không đủ, Đặc biệt Nho giáo coi thường người phụ nữ, đã
quy định trói buộc người phụ nữ vào người đàn ông (coi trọng nam khinh nữ).
II. QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG TRUYỀN THỐNG
VĂN HÓA VIỆT NAM
1. Định nghĩa văn hóa
Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa với nhiều phạm vi khác nhau trong tiếng Việt, văn hóa được dùng
theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); Theo nghĩa
chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử (văn hóa Đông Sơn).
Định nghĩa “văn hóa” trong các từ điển hầu hết mở đầu bằng câu : “Văn hóa là tập hợp của các
giá trị…” ủy ban UNESCO của liên hợp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức đặt
hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa, và đã định nghĩa văn hóa như sau : “ Văn hóa là một
phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm … Khắc họa lên
bản sắc một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm
nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá
trị, những truyền thống tín ngưỡng …”
Theo Triết học Macxít thì : “Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội mà loài người đạt
được, bao gồm quan hệ con người với tự nhiên và xã hội, cả sự phát triển sáng tạo và khả năng của cá
nhân”.
Định nghĩa vừa nêu trên có dụng ý chỉ ra bốn đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa đó là tính hệ
thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Văn hóa còn đặc trưng cho nhận thức và hành vi của
con người trong những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, bao gồm : Văn hóa lao động, văn hóa
nghệ thuật, văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử …
Văn hóa là một yếu tố nằm trong thượng tầng kiến trúc xã hội. Có thể chia văn hóa thành văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần tương ứng với hai dạng sản xuất cơ bản đó là : Sản xuất vật chất và sản
xuất tinh thần.
Ta thấy khái niệm văn hóa có mặt trong mọi phạm vi xã hội và gắn liền với một xã hội, một dân
tộc, một cộng đồng và một cá thể trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Văn hóa là một nhân tố chủ
quan của con người tác động trở lại quá trình phát triển khách quan của lịch sử. Ngày nay nhân tố con
người ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2. Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo việt nam
- Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được du nhập vào Việt nam từ lâu và đã có vai trò đáng kể
trong đời sống tinh thần của nhân dân. Những trào lưu ấy được cải biến cho phù hợp với truyền thống
văn hóa của nhân dân và nhu cầu của đất nước và đã trở thành nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng
thống trị ở Việt Nam. Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thống
Việt Nam.
- Nho giáo ở dạng Hán nho được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Lý Thiện,
Sĩ Nhiếp.. tích cực truyền bá từ công nguyên. Nhưng Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo rất nhiều.
Trong khi Nho giáo chỉ dừng lại ở tầng lớp quan lại xung quanh chính quyền ngoại bang thì Phật giáo
đã thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước. Có thể nói rằng suốt cả giai đoạn
chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.
- Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1076),
mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ
yếu là Tống Nho (Nhà Lý cùng thời với nhà Tống ở Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho, Đường
Nho…
- Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị
Thái học sinh (về sau đổi thành tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan
mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật
giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, đến cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp
nhận rộng rãi. (Không cứ gì ở nơi nông thôn, ngay ở chốn triều đình, các tập tục, lề lối của khuôn
mẫu Nho giáo cũng rất xa lạ với ta. Một lần có người đề nghị cải tổ triều đình theo khuôn mẫu
Phương Bắc đã bị vua Trần cự tuyệt và nói rằng ta có cách của ta).
- Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, các nhà Nho, đứng đầu là Nguyễn Trãi, tập hợp dưới
ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Với sự lớn mạnh của Nho giáo Việt nam, với nhu
cầu cải cách đất nước đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ
địa vị độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến. Nhà
Nguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáo một lần nữa khẳng định để rồi tàn lụi dần khi phải đối
mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.
III. SỰ TIẾP THU NHO GIÁO TRÊN CƠ SỞ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ
và Việt Nam hoá để rồi cấu tạo lại theo cách của mình.
Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố
là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước.
Trước hết nhà nước quân chủ Việt Nam đặc biệt là các triều Lê, Nguyễn đã học tập rất nhiều ở
cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật, hệ thống thi cử để chọn người tài bổ dụng, trong bộ
máy cai trị đã được triều đình phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu thời Lý hoàn thiện dần ở
thời Trần và hoàn chỉnh vào thời Lê. Chữ cổ đã mai một và mất hẳn thì người Việt sử dụng chữ Hán
(chữ Nho) làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính, trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc
thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn vua Quang
Trung đã mở rộng sử dụng chữ Nôm trong lĩnh vực hành chính và giáo dục.
Có rất nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã biến đổi cho phù hợp với truyền thống của
văn hoá dân tộc tức là: “Chữ nghĩa nó vẫn thế nhưng cách hiểu thì đã khác nhiều”.
1. Về chữ Trung và Hiếu
Trong giai đoạn của lịch sử Việt Nam, khi xuất hiện mâu thuẩn giữa Vua và đất nước với dân tộc,
thì đất nước dân tộc luôn là cái quyết định, được đặt lên trên hết. Tư tưởng Trung quân của Nho giáo
được người Việt Nam tiếp thu trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có khiến cho nó
đã bị biến đổi, “Trung quân” gắn liền với “Ái quốc”.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, nguời con tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, đã kế thừa và
phát huy những giá trị tinh tuý nhất của Nho giáo trong cuộc đời cách mạng của mình, đưa dân tộc đi
lên con đường phát triển mới của thời đại. Chữ Trung trong thời đại Bác Hồ mang nội dung mới hoàn
toàn: Không phải “Trung với Vua” mà là “Trung với nước” và chữ Hiếu với nội dung được mở rộng
đến vô cùng đó là “Hiếu với dân”, chứ không còn hạn hẹp như khái niệm của Nho giáo xưa kia.
Theo Nho giáo xưa kia thì “ Phụ mẫu tại bất viễn du” tức là: cha mẹ còn con không được đi xa,và
“ Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”.Tức là: Có ba tội bất hiếu, tội không có con nối dõi là tội nặng
nhất.
Chính vì đặt đất nước lên hết, mà một người dòng dõi Nho gia như Hồ Chí Minh dám đi ngược lại
giáo huấn của Nho gia.Vì tổ quốc vì dân tộc, người tạm thời gác bỏ chữ hiếu theo nội dung hạn hẹp
của Nho gia, để ra đi tìm đường cứu nước. Người không lập gia đình để hy sinh tất cả cho đất nước,
non sông. Như vậy, chữ hiếu đã được mở rộng vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của Nho giáo, hoà
với chữ Trung là một,và chữ Trung cũng mang một nội dung hoàn toàn hiện đại, như lời dạy của Bác
đối với quân đội cách mạng.
Trung với Đảng, hiếu với dân
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành
Khó khăn nào cũng vượt qua
Kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Trung và hiếu hai khái niệm hạn hẹp của Nho gia ngày xưa, nay đã được mở rộng, gắn liền với
khái niệm nhân dân, đất nước. Người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh của
chúng ta vốn xuất thân từ dòng dõi Nho gia nhưng đã vượt qua khỏi vòng cương toả khắc nghiệt của
Nho gia, hiến trọn đời mình vì nước vì dân, nên trở thành bất tử.
…Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là Bác
2. Trọng dụng người tài
Một trong những điểm tiến bộ của Nho giáo xưa là chủ trương “Coi trọng người hiền tài” .
… “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh
Nguyên khí yếu thì quốc gia suy”…
Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ anh minh lỗi của dân tộc chúng ta, ngay từ những năm sau
kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, đãcó một tầm nhìn rộng lớn, đề ra và giải quyết nhiều
vấn đề vượt trước thời đại. Người thấu hiểu vai trò của trí thức, đã trân trọng mời nhiều trí thức việt
kiều về xây dựng đất nước.
Ngay từ năm 1946 Người nói đến việc diệt trừ “giặc dốt” ngay sau khi tuyên bố độc lập 4/10/1945
Người phát động phong trào “Bình dân học vụ” nhằm chống nạn thất học.
Người khuyên bảo thầy trò ngành giáo dục “Dù khó khăn gian khổ đến đâu, cũng phải tiếp tục thi
đua dạy tốt và học tốt”…
Suốt cuộc đời mình lúc nào Người cũng hết mực chăm lo thế hệ tương lai của đất nước.Trước lúc
phải đi xa, Bác vẫn không quên dặn dò chu đáo trong di chúc của Người:
…Bồi dưỡng cách mạng đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Đảng phải chăm lo bồi
dưỡng đạo đức cách mạng cho họ để họ trở thành…vừa hồng vừa chuyên…
Vì vậy việc coi trọng giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước chính là một trong những mục tiêu
quan trọng và cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm.
Hiện nay Đảng và nhà nước ta, ngay cả các địa phương, đã lập ra các quỹ học bổng , quỹ khuyến
học, các giải tài năng trẻ…để giúp đở học sinh, sinh viên nghèo hiếu học, và đó cũng chính là thể hiện
sự ưu ái, coi trọng người hiền tài trong xã hội ngày nay.
“ Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh…”
Đó không chỉ là quy luật muôn đời đúng với từng dân tộc,từng quốc gia,mà còn luôn luôn mới và
đúng trong phạm vi hẹp hơn là ở mỗi địa phương, mỗi tổ chức,thậm chí đúng cả ở phạm vi gia đình là
tế bào của xã hội.
Một thực tế mà chúng ta đã biết Bình Dương xưa vốn là một tỉnh giàu tìm năng về mọi mặt,
nhưng do cơ chế cũ, nên nghèo nàn lạc hậu chậm phát triển.Từ khi có chủ trương “Chiêu hiền đãi sĩ”
“Trải chiếu hoa mời gọi đầu tư”đã trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển giàu và mạnh.
3. Chữ Nhân, Lễ, Trí, Dũng
Đôi nét về chữ Nhân trong triết học Khổng Tử: Tinh thần chủ yếu của chử Nhân chính là lòng
thương người, là cách sống đối với mình, đối với người:“Mình muốn lập thân thì cũng giúp cho người
khác lập thân; Mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt, những gì mình không muốn
thì chớ đem đối xử với người” (kỷ sở bất dục,vật thị ư nhân)…
Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam chữ Nhân được người Việt Nam rất tâm đắc và nó trở thành
truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta. Trong xã hội ngày nay nó vẫn được coi trọng và thể
hiện qua cách hiểu và cách sống: “Mình vì mọi người ,mọi người vì mình” Các phong trào thực hiện
nếp sống văn minh, văn hoá, phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn thực hiện gia đình
văn hoá “Ông bà, cha mẹ mẫu mực con cháu thảo hiền”…Các nghĩa cử tương thân tương ái trong xã
hội như “ Lá lành đùm lá rách”… Đó chính là biểu hiện tốt đẹp của chữ Nhân trong cả phạm vi rộng
và hẹp của xã hội ngày nay.
Xưa kia theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải có đầy đủ các đức
tính như: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín,Dũng…
Chữ Nhân phải gắn liền với chữ Lễ trong việc tu thân, học đạo để sửa mình để trị nước, muốn đạt
được đức Nhân thì cần phải rất mực chú trọng đến chữ Lễ. Theo Khổng Tử Lễ chính là những quy
phạm, những nguyên tắc đạo đức của nhà Chu: Vua cho ra vua, tôi cho tôi, cha cho ra cha, con cho ra
con…phải dùng lễ để khôi phục trật tự, phép tắc luân lý xã, khiến mọi người phải trở về đạo và nhân,
trở thành chính danh.. Lễ và Nhân là hai yếu tố có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau; Nhân là
chất, là nội dung là linh hồn của lễ, lễ là hình thức biểu hiện của Nhân.
Người muốn đạt được đức Nhân, theo Khổng Tử, phải là người có Trí và Dũng.
Nhờ có Trí con người mới sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết đạo lý, xét đoán được sự vịêc, phân
được phải trái, thiện ác để trao dồi đạo đức và hành động hợp lý với thiên lý. Nhưng muốn đạt được
chữ Nhân, có Trí thôi chưa đủ mà cần phải có Dũng,dũng không phải ỷ vào sức mạnh, chỉ biết vì lợi
ích cá nhân mà suy nghĩ và hành động bất chấp cả đạo lý.Người Nhân có Dũng phải là: “ Người có
thể tỏ rõ ý kiến mình một cách cao minh,có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn
lạc,khi người đời gặp phải hoạn nạn…” Ngưới Nhân có Dũng mới làm chủ được mình,mới quả cảm
xả thân vì Nhân Nghĩa mới có thể “Lập thân” và “ Đạt Nhân”;Khi gặp cơn thiếu thốn,cực khổ không
nao núng làm mất nhân cách của mình;khi đầy đủ, sung túc không ngã nghiêng xa rời đạo lý hơn
người Nhân có Dũng sẽ sẵn sàng “Vì Nhân mà sát thân ,chứ không giữ mạng sống của mình mà hại
Nhân”.
Cùng với Nhân, Trí , Dũng, thì Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa con người góp
phần ổn định và phát triển xã hội . Nhạc chính trực. trang nghiêm, hoà nhã có tác dụng di dưỡng tính
tình cảm hoá lòng người, hướng tâm người ta tới cái chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm tư với
sự hài hoà của âm nhạc. Khổng Tử cho rằng: “Hưng khởi là nhờ thi tạo lập là nhờ lễ, thành đạt là nhờ
nhạc…” Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Người cai trị, người quân tử phải là người
có một vốn văn hoá toàn diện.
Ngày nay, những điều đó được thể hiện ở quan điểm toàn diện trong giáo dục và đào tạo.Trong
đạo đức của xã hội, và nó được thể hiện rất đầy đủ trong chữ Tài và Đức, Hồng và Chuyên. Hồ Chí
Minh đã dạy…. “Người có tài mà không có đức là người vô dụng. Người có đức mà không có tài làm
việc gì cũng khó”. Để được cái tài và đức ấy, mỗi con người cần phải được rèn luyện ngay từ khi còn
nhỏ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Chúng ta đã bắt gặp câu khẩu hiệu: “Tiên học lễ hậu học văn”
trong các trường học, cùng với năm điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng
Yêu Tổ quốc yêu đồng bào
Học tập tốt lao động tốt
Đoàn kết tốt kỷ luật tốt
Gữi gìn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn thật thà dũng cảm
Đó chính là nội dung giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Việt Nam. Đối với người cán bộ, người
lãnh đạo trước hết phải tu thân, để trở thành con người toàn diện phải thực sự gương mẫu về mọi mặt.
Hồ chủ Tịch dạy phải cần kiệm liêm chính, phải chí công vô tư, xứng đáng là đầy tớ trung thành của
nhân dân.
4. Tư tưởng Nhân chính, Bảo dân
Mạnh Tử là người kế thừa chính thống học thuyết của Khổng Tử. Trên cơ sở học thuyết về “tính
thiện’’ và “Nhân trị” của Khổng Tử, Ông đề ra tư tưởng “Nhân chính” trong phương pháp trị nước.
Đặc biệt Ông có quan niệm mới mẻ và hết sức sâu sắc về vấn đề dân quyền:
… “Dân di quý, xã tắc thứ chi quân vi khinh”
Vì theo Ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua thậm chí dân quan trọng hơn vua.Nếu
không có sự ủng hộ của dân, thì chế độ sớm muộn sẽ sụp đổ; Vua nếu không hợp lòng dân và ý trời,
thì trước sau cũng sẽ bị phế bỏ…
Mạnh Tử cũng chủ trương một chế độ “Bảo dân’’ người cai trị phải lo cái lo của dân,vui cái vui
của dân,tạo cho dân của cải ruộng đất, sản nghiệp và cuộc sống bình yên no đủ.Việc vua Nghiêu,Vua
Thuấn được thiên hạ là do được lòng dân. Còn Vua Kiệt,Vua Trụ mất thiên hạ là do mất lòng dân.
Học thuyết về chính trị, xã hội với tư tưởng nhân chính, bảo dân có ý nghĩa tiến bộ phù hợp với yêu
cầu và xu thế phát triển của lực lượng xã hội. Chính vì vậy một số học giả coi Mạnh Tử là người có tư
tưởng dân chủ.
Từ mấy trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng từng nói :
… “ Lật thuyền mới biết dân như nước”
Cách đây vài mươi năm, đồng chí Trường Chinh một trong những vị lãnh đạo cao cấp của Đảng
cũng đã chỉ ra rằng phải lấy dân làm gốc trong sự nghiệp đổi mới…
5. Thuyết chính danh
Thuyết chính danh xưa của Nho gia, nếu xét theo những khía cạnh tiến bộ và tích cực của nó vẫn
hết sức cần thiết trong xã hội hiện nay. Theo Khổng Tử xã hội loạn lạc do Danh –Thực rối loạn,dẫn
đến xã hội xa rời đạo lý và nhân nghĩa.Ông chủ trương phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa
“ chính danh,định phận’’, vì mọi người, mỗi vật sinh ra đều có địa vị, công dung nhất định, ứng với
một tên gọi nhất định
… “Chính danh là làm việc cho ngay thẳng”
… “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy;
Trên dưới, vua tôi cha con, trật tự phân minh”
… “Danh không chính thì ngôn không thuận;
… Ngôn không thuận thì việc không thành”
Vì vậy từ cán bộ lãnh đạo cho đến thứ dân,người nào cũng phải trọn trách nhiệm của người ấy,cho
đúng với danh vị và chức phận của mình
Nếu mọi người trong xã hội chúng ta ngày nay đều xứng đáng,đều tuân thủ đúng với danh vị và
chức phận của mình thì xã hội tất sẽ không rối loạn không có nạn tham nhũng,hối lộ, tham ô và không
có những tệ nạn tiêu cực, xấu xa hủ bại.
Biết bao thế hệ thầy và trò đã trưởng thành,đã đóng góp tài năng,trí lực,và cả xương máu của
mình vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Ngành giáo dục thực sự đã có
công rất lớn trong việc đào tạo ra những thế hệ xứng đáng với dân tộc chúng ta. Khi chiến tranh chấm
dứt đã được khá lâu ,chuyện trường và lớp vẫn chưa được biến đổi nhiều. Đó là do hậu quả của chiến
tranh,và còn rất nhiều nguyên nhân quan trọng khác.Nhưng có điều đáng nói là ở chổ ;chữ Tài và chữ
Đức trong trường học và trong nhiều lãnh vực…gây nhiều mối lo ngại cho các bậc phụ huynh và cho
toàn xã hội. Việc học sinh bỏ học,vô lễ,thậm chí phạm pháp…gần như diễn ra ở rất nhiều nơi…Chữ
Lễ đã mất đi giá trị đích thực của nó. Do những chuyện tiêu cực trong việc dạy và học còn tồn tại khá
nhiều, cho nên dẫn đến việc trò chưa đạt chất lựơng.Thầy chưa đạt chuẩn hoá. Đã có một thời gian dài
việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cho học sinh là vấn đề hàng đầu mà ngành giáo dục phải quan
tâm.
Trong những năm gần đây,vai trò và vị trí của giáo dục đã nhìn nhận đúng với vị trí đích thực của
nó, giáo dục trở thành quốc sách, được Đảng và nhà nuớc và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Sự biến
đổi về trường và lớp là điều dễ nhận thấy nhất: Những ngôi trường già nua,những lớp học giột nát…
dần đã biến mất,hàng loạt các ngôi trường cao tầng khang trang, sạch đẹp với những tiện nghi đầy
đủ,hiện đại đạt chuẩn quốc gia đã mọc lên hầu hết khắp các địa phương trong cả nước. Ai cũng sung
sướng và yên tâm khi nhìn thấy con em mình được học tập trong những điều kiện thuận lợi. Như vậy
vấn đề trừơng cho ra trường,lớp cho ra lớp là yêu cầu đã đang và sẽ trở thành hiện thực.Việc còn lại
phải làm sao để “Thầy cho ra thầy, trò cho ra trò” Việc chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, việc đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo…trong tất cả
các ngành học, cấp học…tuy khó khăn và gian khổ nhưng sẽ dần giải quyết được vấn đề chất lượng.
Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, giữa văn hóa Việt Nam và Nho giáo đã bộc lộ những nét
tương đồng và dị biệt, và nó đã được Việt Nam hóa, làm cho Nho giáo ở Việt Nam không còn trạng
thái nguyên sơ của nó nữa.
° Những điểm tương đồng đã được chú trọng phát huy :
Nét tương đồng lớn nhất là sự trọng tình người. Vì trọng tình người vốn là truyền thống lâu
đời của nền văn hóa Việt Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam tâm đắc với chữ
“Nhân” hơn cả. Nhưng ở đây là lòng thương người “Tấm lòng đã thấu trời xanh. Bán mình là hiếu,
cứu người là nhân” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nhân nghĩa trong Nho giáo là tình cảm, nghĩa vụ
của bầy tôi đối với nhà Vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng ở Nguyễn Trãi và các
nhà trí thức Việt Nam thì “Điều cốt yếu ở nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh
bình và đạo quân chính nghĩa nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo” (Bình Ngô Đại Cáo). Đối với người
bình dân, “Nhân” còn đồng nghĩa với “Tình” các từ nhân tình, nhân ngãi, nhân duyên trong tiếng Việt
là nói về tình yêu trai gái.
Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định : Truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn
chỉ muốn có cuộc sống ổn định. Mục đích của Nho giáo nguyên thủy là tạo ra một xã hội ổn định. Tuy
nhiên, ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ Ngai vàng, còn đối ngoại luôn
bành trướng, xâm lăng. Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả Triều đình,
không chỉ ở đối nội mà ở cả đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều
mang tính tự vệ.
Nét tương đồng thứ ba là xu hướng trọng văn : Trọng văn là truyền thống văn hóa nông nghiệp
Việt Nam. Nho giáo cũng rất trọng vẻ sỹ, trọng văn, trọng văn hóa. Xã hội Trung Hoa sau thời đại nhà
hán có trọng văn, nhưng nhìn chung cũng chỉ ngang hàng quan võ. Còn ở Việt Nam thì trọng văn hơn
cả võ. Việt Nam chiến tranh liên miên, thế nhưng người Việt ít ai biết đến các kỳ thi võ mà chỉ lo nấu
sử sôi kinh. Nhà cầm quyền Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, còn người bình dân
thì thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghề nghiệp lớn :”Chẳng tham
ruộng cả ao liền, tham vì cái bút cái nghiêng anh đồ”.
° Những luận điểm của Nho giáo được Việt Nam vận dụng khai thác :
Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều Lê và triều Nguyễn đã học tập rất nhiều cách tổ
chức triều đình và hệ thống pháp luật triều đình Nho giáo Trung Hoa. (Nhà Vua tập trung trong tay
mình quyền uy tuyệt đối và bộ máy quan liêu do nhà Vua sắp xếp từ trung ương đến địa phương.
Trong chế độ cống nạp, Nhà nước là kẻ hưởng đại bộ phận thặng dư lao động của cả nước, giới quan
lại, do đó cũng trở nên giàu có và có thế mạnh nhất trong xã hội. Làm quan là địa vị nhiều người mơ
ước, chế độ quan liêu ấy ngày một thối nát, đã thực tế kìm hãm sự phát triển về mọi mặt của xã hội
Việt Nam.
Hệ thống thi cử của Nho giáo đã được nhà nước phong kiến vận dụng ngay từ đầu triều Lý.
Từ kỳ thi đầu tiên năm 1075.
Người Việt Nam cũng đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch. Trong tâm
thức người Việt Nam, chữ Hán và Nho giáo không tách rời nhau, chữ Hán được coi là cái thiêng liêng
nhất “chữ Thánh hiền”. Trên cơ sở chữ Hán người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác
văn chương.
° Những tư tưởng Việt Nam đã bổ sung, phát triển vào Nho giáo :
Ở Nho giáo, tư tưởng trung quân đóng vai trò quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được
đề cập đến. Trong khi đó thì ở Việt Nam tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc, là truyền thống rất
mạnh. Người Việt Nam tiếp thu tư tưởng trung quân Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh
thần dân tộc sẵn có, khiến có cái trung quân bị biến đổi. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa Vua với đất
nước, thì đất nước, dân tộc là cái quyết định. Lê Hoàn thay nhà Đinh; Lý Công Uẩn thay nhà Lý …
Khi triều đại cũ không còn đủ năng lực để lãnh đạo đất nước. Nên đều được quân dân ủng hộ. Nguyễn
Trãi theo Lê Lợi và không theo con cháu nhà Trần, Ngô Thời Nhậm theo Tây Sơn mà không theo nhà
Lê; các nhà Nho yêu nước cuối thế kỷ XIV từ Trương Định trở đi không theo triều đình nhà Nguyễn
đầu hàng giặc, mà tiến hành khởi nghĩa chống giặc (và chống triều đình) đều vì đặt nước trên Vua.
Truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp ở nước ta đã làm “mềm” đi sự độc tài hà khắc của
nhà nước Hán Nho. (Thật sự Nho giáo nguyên thủy cũng có yếu tố dân chủ, nhưng đến Hán Nho đã
bị loại trừ hẳn. Tâm lý khinh rẻ nghề buôn là sản phẩm truyền thống của văn hóa nông nghiệp, của
tính cộng đồng và tính tự trị. Nó đã bám rễ vào mọi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt
Nam không thể phát triển được, nó còn được khái quát thành đường lối trọng nông ức thương (trong
Nho giáo cũng có tư tưởng xem nhẹ nghề buôn, nhưng đó chỉ là sản phẩm của quan điểm coi trọng
“đạo” và “đạo đức”. Thật ra Khổng Tử cũng khuyến khích làm giàu nếu không trái lễ. Mạnh Tử cũng
đã từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, đường … Chính vì vậy
mà ở Trung Hoa, Nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển), “truyền thống” này, kết hợp với
Nho giáo khiến cho Việt Nam nông nghiệp đã thiên về ổn định, lại càng thêm trì trệ. Đến nay, ta hầu
như dứt bỏ được quan niệm khinh rẻ nghề thương nghiệp, nhưng để dứt bỏ hết những hậu quả của nó
còn cần phải có thời gian.
IV. NHO GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI Ở VIỆT NAM
NGÀY NAY
1. Nho giáo trong giai đoạn trước cách mạng
Thời kỳ chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng, Nho giáo không ngừng củng cố và phát triển
cho đến vào giữa thế kỷ 19. Nho giáo mất dần ảnh hưởng, bị lãng quên thậm chí bị đả kích khi Việt
Nam tiếp xúc với văn minh phương Tây dưới sự bảo hộ của Pháp và nhất là khi chế độ khoa cử lấy
Nho giáo làm trọng tâm bị bãi bỏ, Nho giáo bị loại ra khỏi chương trình giáo dục. Tuy nhiên, Nho
giáo vẫn có ảnh hưởng lớn đối với những nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh, Nguyễn Thái Học hay Hồ Chí Minh...
2. Nho giáo trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với sự
sụp đổ của chế độ quân chủ. Từ đây, Nho giáo không còn là hệ tư tưởng chính thống của tầng lớp lãnh
đạo xã hội. Nho giáo không còn tồn tại nữa nhưng nó vẫn ảnh hưởng lâu dài trong các mối quan hệ xã
hội, trong ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ
cúng, tín ngưỡng cổ truyền của người Việt.
Từ cuối thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm
nảy sinh những nguy cơ lớn đối với Văn hóa Việt Nam. Nguy cơ bên trong là sự xói mòn và băng
hoại giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc văn hoá, lối sống phương Tây xâm lấn
văn hoá bản địa, tạo ra sự tiêu diệt bản sắc văn hoá dân tộc. Nếu dân tộc Việt Nam bị "hoà tan" bởi
văn hóa ngoại lai, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong, ghê gớm không kém gì
họa mất nước. Trước nguy cơ đó, nhiều người Việt Nam tìm cách hướng về bảo lưu các giá trị truyền
thống, tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Nho giáo là thành phần quan trọng hàng đầu đã kiến
tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam, do đó bảo vệ truyền thống văn hóa Việt Nam sẽ là điều không thể
thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo.
CHƯƠNG II
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc từ thời cổ đại, tư tưởng
triết học Nho giáo của Khổng Mạnh chiếm địa vị đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởng, nó ảnh
hưởng sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc suốt hơn hai ngàn năm lịch sử. Do vị trí
địa lý và điều kiện lịch sử, Nho giáo đã thâm nhập và bén rễ sâu vào các tầng lớp nhân dân Việt Nam
từ hàng ngàn năm nay. Nó ảnh đến hầu như tất cả các lĩnh vực tâm lý, văn hoá, xã hội. Nó làm cho
đời sống văn hóa tinh thần của Việt Nam bị Hán hóa một phần đáng kể.
Học thuyết Nho giáo được nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận để khai thác những
yếu tố được coi là thế mạnh, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước.
Theo tâm lý thường tình của những người ít đi sâu tìm hiểu về Nho giáo, người ta thường nghĩ
rằng, Nho giáo là cổ hủ, là khắt khe là lạc hậu…Chúng ta không thể phủ nhận rằng Nho giáo đã tham
gia góp phần vào sự đúc nặn nên diện mạo tinh thần dân tộc và văn hóa dân tộc. Dù có những điểm
chưa tích cực nhưng trãi qua năm tháng sàn lọc những tư tưởng triết học của Nho giáo đã thấm nhuần
trong lòng con người Việt Nam Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của ngày xưa cho đến nay vẫn là một nét
đẹp đáng trân trọng ở góc nhìn đúng đắn. Trí và Dũng ngày nay còn được các nhà quản trị tài ba vận
dụng vào các chiến lược kinh doanh. Còn những quan niệm về Nhân, Lễ, Nghĩa thì càng được phát
huy theo những mặt tích cực, xây dựng nên những mặt phát triển góp phần thúc đẩy cho kinh tế phát
triển. Không biết sự ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo đến nền văn hóa dân tộc như thế nào nhưng
cho đến nay tính cộng đồng luôn được đề cao, còn trong gia đình thể hiện rõ nhất vẫn là những người
phụ nữ, hình tượng người phụ nữ mẫu mực vẫn là những người đằm thắm chịu thương, chịu khó. Nét
đẹp đó đã trở thành nét đặt trưng của người phụ nữ Việt Nam nói riêng và người phụ nữ Á đông nói
chung.
Sự du nhập của Nho giáo với những tư tưởng triết học tích cực, qua thời gian vẫn còn đó những
giá trị bất biến góp phần tạo nên những nét đẹp cho văn hóa dân tộc Việt. Chúng ta nên có một cái
nhìn mới, cách hiểu mới thật đúng đắn, phải tiếp thu một cách có chọn lọc, không phủ định hết đối
với một số khái niệm tưởng chừng như đã cũ. Đó cũng chính là việc kế thừa và phát huy tinh hoa và
bản sắc văn hoá cổ của dân tộc và nhân loại một cách tích cực theo quan điểm của Đảng ta.
Ngày nay, với sự giao lưu văn hóa trên toàn cầu, mỗi dân tộc có thể tiếp thu nhiều giá trị văn hóa
của nhiều dân tộc trên thế giới. Mặt khác, truyền thống văn hóa dân tộc cũng được đặc biệt đề cao.
Bằng một cách nhìn khoa học, tránh thành kiến, tránh cực đoan, chúng ta tiếp thu một cách có chọn
lọc những giá trị văn hóa phù hợp với truyền thống dân tộc và với yêu cầu của một xã hội văn minh
hiện đại. Khi quay lại với cội nguồn dân tộc, ta thấy các giá trị đạo đức cơ bản truyền thống vô cùng
quan trọng. Vì vậy, ngoài việc giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng trình độ chính trị trong cán bộ
và nhân dân, vấn đề giáo dục đạo đức “cơ bản” cần phải được quan tâm đúng mức, nhất là đối với thế
hệ tương lai.
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, vấn đề kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và
quốc tế đang đặt ra cấp thiết. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, văn hóa Việt Nam vẫn
khẳng định sự độc đáo của mình, đồng thời mở rộng giao lưu tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm
phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân đang ra sức xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên cảnh giác các thế lực phản động từ bên ngoài. Trong khi đó,
những tiêu cực bên trong cũng tác động nguy hiểm không kém. Vì vậy, vấn đề xây dựng một xã hội
văn hóa mới, gia đình văn hóa mới, nếp sống văn hóa mới cũng phải được quan tâm đúng mức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học. Nhà xuất bán chính trị Quốc gia sự thật
2. Vi.wikipedia.org/wiki/Nho_giáo_Việt_Nam
3. Nguyễn Khắc Thuần- Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam tập 3- NXB Thời đại- 2012
4. GS.TS. Đỗ Huy - Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển –
NXB TT và TrT- 2013.