ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI
PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU
TƯ RA NƯỚC NGOÀI
CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI
1
- Bối cảnh kinh tế mới và định hướng đẩy mạnh đầu
tư ra nước ngoài của Viettel
- Bối cảnh kinh tế mới- Cơ hội và thách thức đối đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Viettel
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Viettel được đặt ra
theo xu hướng mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt
Nam. Mô hình kinh tế mới tạo điều kiện thuận lợi hơn trong
việc phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động nguồn lực, sức
sáng tạo của toàn dân để đẩy mạnh phát triển công nghiệp trong
vùng. Các cơ chế, chính sách tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ là
tiền đề để phát huy hơn nữa việc sử dụng các nguồn lực, các
tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư ra nước ngoài.
Chương trình hành động của Chính phủ Việt Nam trong
những năm tới tập trung chủ yếu vào việc thay đổi mô hình
tăng trưởng, chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng, dựa chủ
yếu vào các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có sang khai thác các
yếu tố cạnh tranh trên cơ sở công nghệ cao, chất lượng cao
của nguồn nhân lực và tính hiện đại của cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội. Đây là cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng của các
ngành kinh tế, trong đó có lĩnh vực viễn thông.
2
Tuy nhiên, tái cơ cấu kinh tế, hướng tới tăng trưởng
xanh dựa trên nền kinh tế tri thức đang và vẫn sẽ là nội dung
quan trọng, có tính chất định hướng đối với các quốc gia
trên thế giới. Tăng trưởng xanh với mục tiêu giảm thiểu chất
thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, giảm phát thải khí
nhà kính, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, tạo thêm
việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện
hơn với môi trường qua việc phát triển các ngành kinh tế
xanh, sản xuất hàng hoá, phát triển dịch vụ môi trường, phát
triển năng lượng sạch.... là điều mong muốn của nhiều quốc
gia, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực ngày càng cạn kiết và
những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu. Các
quốc gia phát triển có xu hướng tiêu dùng các sản phẩm
công nghiệp cuối cùng có hàm lượng công nghệ cao, giá trị
công nghệ trong các sản phẩm được đặt lên hàng đầu, người
tiêu dùng đang hướng đến việc ủng hộ các sản phẩm công
nghiệp đảm bảo sức khỏe, thân thiện với môi trường. Đây là
một thách thức lớn cho sản phẩm Viettel khi muốn tham gia
vào các thị trường này cũng như là vượt qua được các hàng
rào kỹ thuật mà các nước phát triển áp dụng để bảo vệ người
tiêu dùng của họ.
3
Theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, thị trường
viễn thông nhìn chung có 3 loại: thị trường chưa phát triển
(với độ phủ dưới 20% dân số); thị trường đang phát triển (với
độ phủ dưới 60%); thị trường đi vào bão hòa (với độ phủ trên
60%). Trừ thị trường chưa phát triển, thì dù ở đâu, viễn thông
cũng là lĩnh vực cạnh tranh cao và khá rủi ro. Trên thế giới có
1.500 công ty đang nắm giữ giấy phép, nhưng chỉ 500 công ty
có lãi. Thị trường dưới 20% hiện chỉ còn Myanmar, Cuba,
Triều Tiên. Trong khi đó, thị trường có độ phủ 20 - 60% còn
khá nhiều, nhất là tại châu Phi. Như vậy, để đầu tư vào các thị
trường nước ngoài, các DNVT Việt Nam không thể lựa chọn
các thị trường phát triển vì hết giấy phép trong khi các thị
trường chưa phát triển thì khả năng thu hồi vốn không cao;
cạnh tranh và rủi ro lớn (vấn đề ổn định chính trị; chính sách
bao vây cấm vận, khả năng đổi mới của nền kinh tế các thị
trường này.).
Việc xác định thị trường mục tiêu là các thị trường đang
phát triển đang là xu hướng của các DNVT thế giới và đây
cũng sẽ là hướng đi của các DNVT Việt Nam nếu muốn mở
rộng ra ĐTRNN. Bên cạnh đó, việc triển khai đầu tư bằng
hoạt động M&A (mua-bán sáp nhập doanh nghiệp) cũng là
4
một cửa hẹp cho các DNVT Việt Nam phải tính toán nếu
muốn thâm nhập vào các thị trường phát triển. Viettel đã phải
“tìm đường tắt” đầu tư vào thị trường Myanma bằng kế hoạch
góp 800 triệu USD để phát triển viễn thông với một đối tác
Myanmar vào cuối năm 2014. Tháng 3/2015, lãnh đạo của
Viettel Global cho biết Công ty đã hoàn tất vụ sáp nhập giữa
công ty con tại Campuchia là Metfone với thương hiệu
Beeline Campuchia. Cho dù giá trị của hợp đồng do đã ký bảo
mật với đối tác, đại diện Viettel Global cho biết việc mua lại
sẽ giúp Metfone gia tăng mạng lưới tại đây. Bên cạnh đó,
công ty con của Viettel cũng có cơ hội cung cấp dịch vụ mới,
chất lượng cao hơn cho người dân Campuchia. Theo lãnh đạo
Viettel Global, hai bên đã ký kết xong hợp đồng mua lại giấy
phép. Dự kiến Metfone sẽ để hoàn tất quá trình kiểm kê tài
sản và sáp nhập vào cuối năm 2016.
Một thách thức khác là tỷ lệ ARPU để thu hồi vốn đầu
tư. Tại Mỹ, mỗi thuê bao bình quân mang lại cho nhà mạng
60 USD/tháng. Trong khi đó, tại Haiti ARPU chỉ 2,5
USD/tháng, trong khi vốn đầu tư, công sức ban đầu là giống
nhau. Nhưng có muốn vào Mỹ cũng không được vì không còn
giấy phép viễn thông. Bên cạnh đó là việc DNVT sẽ phải cạnh
5
tranh với hàng trăm nhà mạng hùng mạnh nhất thế giới, như
Bharti Airtel, Zantel, Claro, O2, Vodafone, Telefonica, America Movil, Beeline, Singtel, Telecom Malaysia. Theo các
chuyên gia viễn thông, những tập đoàn viễn thông lớn của thế
giới đầu tư ở Lào, Campuchia, Haiti, Mozambique. thường
quen với thị trường giàu, có doanh thu trung bình của một
thuê bao di động (ARPU) là trên 10 USD/tháng trở lên. Khi
vào những thị trường mà ARPU chỉ ở mức 10 USD/tháng,
thậm chí dưới 5 USD/tháng, họ sẽ gặp khó khăn lớn. Chẳng
hạn, khi đầu tư vào Haiti, nhiều DNVT khác như Singtel,
Telecom Malaysia, Vodafone cũng đã tiếp cận thị trường này,
nhưng họ không thể triển khai được vì không cử được người
sang do những chuyên gia của họ không chấp nhận được mức
sống ở đó. Bên cạnh đó, các công ty viễn thông lớn thường sử
dụng dịch vụ thuê ngoài (Outsourcing) với chi phí đắt đỏ, thu
hồi vốn chậm, nhất là thị trường đang phát triển và có tỷ lệ
ARPU thấp.
Một thách thức khác đó là chuẩn bị nhân lực cho việc
ĐTRNN của Viettel. Với đòi hỏi phải am hiểu địa bàn đầu tư;
phong tục, tập quán; môi trường pháp luật và đầu tư... thì rõ
ràng việc chuẩn bị nhân lực để đưa ra nước ngoài từ giai đoạn
6
tìm hiểu đến giai đoạn triển khai là một thách thức không dễ
vượt qua của các DNVT Việt Nam nói chung, Viettel nói
riêng so với các đối thủ là các DNVT thế giới. Những bài học
về thành công và thất bại của các DNVT Việt Nam suốt thời
gian qua cần được đúc rút; chia sẻ để cùng hướng đến sự
thành công.
- Định hướng đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Năm 2016, Viettel phấn đấu tăng trưởng 20%, doanh thu
đạt 230.000 tỷ đồng, lợi nhuận tăng 15%, năng suất lao động
tăng 15%. Định hướng của Viettel là duy trì mức tăng trưởng
này liên tục đến năm 2020 để có thể đạt tới doanh thu gấp đôi
hiện nay, khoảng trên 400.000 tỷ đồng, đầu tư ra 30 đến 35
nước, hàng năm chi 200 đến 400 triệu USD cho nghiên cứu phát triển, sáng tạo công nghệ, phấn đấu vào top 10 Công ty
Viễn thông lớn nhất thế giới và trở thành một doanh nghiệp
toàn cầu. Mục tiêu của Viettel là chuyển mô hình từ một
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sang mô hình doanh nghiệp
nghiên cứu - sản xuất với phương châm “phải nhanh hơn,
thông minh hơn, hiệu quả hơn, phải xuất sắc, luôn khác biệt
và không chấp nhận sự trung bình”.
7
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có những dấu
hiệu phục hồi đầy khả quan thì ngành viễn thông được đánh
giá là ngành mang lại nhiều lợi nhuận cho các doanh nghiệp,
là một ngành không thể thiếu ở bất kỳ quốc gia nào vì nó liên
quan không chỉ đến di động, truyền thông mà nó gắn liền với
các hoạt động trọng trong một quốc gia như an ninh quốc gia,
kinh tế, chính trị, luật pháp, giáo dục…chính vì thế nó đang
thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài muốn mở rộng
thị trường đầu tư.
Kế hoạch đầu tư của Viettel trong tổng số 15 quốc gia và
nhằm mục đích trở thành một trong những hàng đầu thế giới
các công ty viễn thông với đầu tư nước ngoài lớn nhất vào
năm 2015, cụ thể như sau:
- Kế hoạch đầu tư ra nước ngoài của Viettel năm
2016 và đến năm 2020
2016
Thị trường đầu
tư
10 nước với 60 triệu
dân
Doanh thu
8
70.000- 75.000 tỉ
2020
20 nước với 1 tỉ dân
240.000-250.000 tỉ
VNĐ
VNĐ
Với thị trường Campuchia, mặc dù cơ hội đầu tư, kinh
doanh ở thị trường này còn rất ít nhưng VTG quyết tâm duy
trì vị trí số một trên thị trường viễn thông tại Campuchia.
Mạng 3G được coi là sẽ làm thay đổi diện mạo dịch vụ
Internet tại thị trường này, chính vì thế mà VTG dự kiến sẽ bổ
sung thêm 400 trạm bao gồm: 74 trạm phủ kín tại trung tâm
tỉnh, 92 trạm phủ kín tại trung tâm các huyện có điện, 54 trạm
phủ sóng quốc lộ, 180 trạm bổ sung cho Phnom Pênh. Về
Internet băng rộng tới năm 2016 có 250 nghìn thuê bao chiếm
80% thị phần phát triển mới. Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt
động phát triển đầu tư mạng lưới viễn thông tại thị trường này
thì Viettel cũng đang đặt ra mục tiêu phát triển trong thời gian
tới sẽ tham gia vào việc tìm hiểu và đẩy mạnh phát triển sang
một lĩnh vực mới như bất động sản.
Là thị trường nước ngoài thứ 4, thứ 5 Viettel tham gia
đầu tư gần đây, thị trường Mozambique và Peru được đánh
giá là nơi thị trường viễn thông đang có những dấu hiệu phát
triển tốt với tỷ lệ thâm nhập vào thị trường này còn thấp nên 2
9
thị trường này được xem như một mỏ vàng về số lượng thuê
bao chưa được khai phá đối với nhà đầu tư về viễn thông như
Viettel. Viettel đang có kế hoạch và mục tiêu đầu tư phát triển
cho thị trường này với kỳ vọng đầu tư rộng khắp về mạng
lưới viễn thông của Viettel.
Viettel bắt đầu khảo sát hạ tầng mạng cùng với nhóm
của phía đối tác Myanmar. Trong tháng 5/2015, mọi đàm phán
về Hợp đồng Liên doanh giữa Viettel và 2 đối tác Myanmar
được hoàn thành. Tháng 3 năm 2016 Chính phủ Myanmar đã
cấp giấy phép thành lập Liên doanh, giấy phép thứ 4 và là
giấy phép cuối cùng trong lĩnh vực viễn thông tại Myanmar.
Liên doanh sẽ đầu tư gần 1 tỷ USD cho các hạng mục
quan trọng của Liên doanh như nộp tiền giấy phép, làm hạ
tầng, đấu giá mạng 4G…, sau đó sẽ đưa vào kinh doanh.
Viettel xác định mục tiêu đạt 5 - 7 triệu thuê bao và lọt vào
top 3 tại Myanmar sau 2 năm có giấy phép.
Myanmar là thị trường mới nổi, là thị trường có GDP
tăng trưởng bình quân tới 8%/năm, nên rất tiềm năng.
Myanmar có hơn 55 triệu dân, trong đó, 60% dùng
smartphone. Doanh thu trung bình của một khách hàng
10
(APRU) tại thị trường này là 4 USD. Đặc biệt, tại Myanmar
có các công ty chuyên đầu tư phát triển hạ tầng độc lập, nên
Liên doanh có thể thuê lại hạ tầng trạm BTS để tiết kiệm vốn
đầu tư ban đầu và nhanh chóng triển khai cung cấp dịch vụ
ngay từ cuối năm 2016. Dự kiến, đến hết năm 2016, Liên
doanh sẽ thuê khoảng 5.000 trạm BTS phục vụ kinh doanh.
Tuy nhiên, Viettel cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách
thức, như tỷ lệ thâm nhập các dịch vụ viễn thông tại Myanmar
đã lên tới 75% dân số, giá cước (thoại và dữ liệu) rẻ nhanh
chóng (hiện tương đương với Việt Nam, khoảng 2
USCent/phút), sự cạnh tranh khốc liệt của các nhà mạng tại
Myanmar… Đó là những thách thức lớn đối với Liên doanh
mới, song với kinh nghiệm từ việc đầu tư tại 10 thị trường
nước ngoài, cùng với chiến lược kinh doanh linh hoạt, hiệu
quả, Viettel tự tin và kỳ vọng tiếp tục thành công tại thị
trường Myanmar.
Theo thông tin từ Viettel, 2 đối tác đang đàm phán liên
doanh với Viettel sẽ chiếm 51% cổ phần, bao gồm một công
ty trung gian địa phương (SPV) là The Myanmar. National
Holding Public Limited và một công ty nhà nước là Star High
Public Company Limited. SPV sẽ chiếm 28% cổ phần và Star
11
High Public Company Limited chiếm 23% cổ phần. Trong
Liên doanh, Viettel sẽ nắm cổ phần chi phối. Dự kiến, Liên
doanh sẽ có chủ tịch của 2 đối tác Myanmar đề cử và tổng
giám đốc điều hành sẽ của Viettel.
Đối thủ của Viettel tại Myanmar là Tập đoàn Bưu chính
- Viễn thông Myanmar (MPT), Ooredoo và Telenor. Ba nhà
mạng này hiện sở hữu gần 36 triệu thuê bao (MPT chiếm 18
triệu thuê bao, Telenor 12 triệu thuê bao và Ooredoo 5,8 triệu
thuê bao).
Hiện nay, với mạng lưới rộng khắp, chất lượng ngày một
nâng cao Viettel được biết đến như một thương hiệu mạnh sẽ
tạo được đà cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Trong
thời gian tới, sẽ có nhiều khó khăn, trở ngại nhưng tin rằng
Viettel vẫn sẽ có những bước đi vững chắc trên con đường trở
thành một tập đoàn kinh thế lớn của quân đội và đất nước để
đóng góp hiệu quả vào nền kinh tế quốc dân đang ngày một lớn
mạnh.
- Giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
- Hoạch định chiến lược marketing quốc tế
12
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức thâm nhập thị
trường ở bậc cao. Thông thường các TNCs thường thực hiện
xuất khẩu sản phẩm, marketing sản phẩm tại thị trường nước
ngoài trước cho thị trường quen với sản phẩm của mình rồi
mới tiến hành đầu tư hay nếu có tiềm lực hơn thì vừa đầu tư
vừa tiến hành marketing sản phẩm tại thị trường nước ngoài.
Những năm vừa qua, việc Trung Nguyên, Vinabico,
nước mắm Phú Quốc, võng xếp Duy Lợi… bị mất nhãn hiệu
hay bị “ăn cắp” kiểu dáng công nghiệp trên thị trường nước
ngoài đã gióng tiếng chuông báo động cho các doanh nghiệp
Việt Nam cần chú ý về việc bảo vệ thương hiệu và xúc tiến
hơn nữa chiến lược marketing tại nước ngoài, nếu như muốn
trong tương lai tiến vào các thị trường này đầu tư mà không bị
cản trở và gặp khó khăn. Hầu hết các doanh nghiệp đều cho
rằng cạnh tranh ngày nay không chỉ về giá mà còn về dịch vụ
và giá trị gia tăng của sản phẩm thông qua chất lượng kiểu
dáng hàng hóa. Giải pháp tốt nhất là các doanh nghiệp tự bảo
vệ mình bằng cách đăng ký quyền bảo hộ về nhãn hiệu, kiểu
dáng công nghiệp trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Marketing quốc tế là chiến lược hoàn toàn phù hợp với mục
đích ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt Nam, tạo nền tảng
13
vững chắc cho các doanh nghiệp này tiến đến đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.
Bậc thầy marketing Philip Kotler từng khẳng định: “Các
nhà tiếp thị sẽ phải chuyển từ chỗ tập trung vào những phân
khúc lớn sang chỗ nhắm vào các khu vực riêng biệt. Ta làm
giàu được là với các khu vực riêng biệt”; do đó, bên cạnh việc
đa dạng hóa thị trường thì Viettel cần phải tập trung vào thị
trường trọng điểm, thị trường có tỷ lệ thị phần cao - những
nơi mà được định hướng là thị trường tiêu thụ sản phẩm lâu
dài, có khả năng lớn để trở thành nơi ta đầu tư sang. Đồng
thời chú trọng vào chuyên môn hóa về một sản phẩm mà
mình có lợi thế nhất trên cơ sở phù hợp với tập quán, điều
kiện xã hội của từng thị trường.
Những ví dụ điển hình có thể thấy tại các tập đoàn lớn
đang sản xuất tại Việt Nam như Unilever, Pepsi... Ban đầu khi
tấn công vào thị trường Việt Nam, họ chỉ tung sản phẩm được
coi là thế mạnh của mình như các sản phẩm dầu gội đầu, xà
phòng (Unilever) hay coca (Pepsi). Sau khi chiếm được lòng
tin của người tiêu dùng Việt Nam, họ mới tiếp tục tung ra
nhiều sản phẩm mới như bột nêm Knorr, nước mắm Knorr
(Unilever) và nước khoáng Aquafina, bánh snack Poca
14
(Pepsi), trong cùng thương hiệu của Unilever và Pepsi. Từ
đây chúng ta có thể thấy được một phương cách mới để tiếp
cận thị trường nhanh chóng hơn, đó là các doanh nghiệp có
tiềm lực tài chính sẽ mua lại thương hiệu sản phẩm và dây
chuyền sản xuất sản phẩm của những doanh nghiệp có uy tín
tại địa phương nơi mình muốn đầu tư, rồi dựa vào uy tín của
thương hiệu đó trên thị trường để tung ra các sản phẩm khác
nhau của doanh nghiệp, theo cách mà Unilever mua thương
hiệu P/S của Việt Nam chẳng hạn.
Nếu Viettel có chiến lược “bám rễ” lâu dài tại thị trường
nước ngoài thì nên xem xét trong tương lai gần nên thiết lập
văn phòng đại diện, thậm chí hợp tác với một số doanh nghiệp
để mở ra trung tâm thương mại tại nước ngoài thuộc sở hữu
của doanh nghiệp Việt Nam, nhằm chủ động hơn trong việc
đưa hàng hóa ra nước ngoài. Chẳng hạn trước đây (2004),
thông qua Hội chợ Thương mại Việt Nam được tổ chức tại
Trung tâm Hội chợ quốc tế Phnom Penh (Campuchia), một số
doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã mở văn phòng đại diện tại
thủ đô Phnom Penh như Trung Nguyên, Biti’s, Vinamilk,
Vifon, Miliket… chuẩn bị cho chiến dịch mở rộng thị trường.
Các doanh nghiệp còn phải không ngừng nâng cao nhận thức
15
về vai trò quảng cáo trong quá trình quảng bá thương hiệu và
sản phẩm tại nước ngoài, cần phải xây dựng các quỹ tài chính
cho hoạt động quảng cáo, khuyến mại. Các chương trình
quảng cáo, khuyến mại cần có trọng tâm, trọng điểm và
không nên phân tán nhằm đạt hiệu quả cao trong điều kiện
luôn bị hạn hẹp về tài chính so với các doanh nghiệp nước
ngoài khác.
Viettel cần phải thành lập một bộ phận chuyên biệt về
marketing quốc tế trong cơ cấu tổ chức của mình. Viettel cần
chú ý đến đặc điểm của từng thị trường mà có chính sách kinh
doanh phù hợp. Đối với các đại gia như châu Âu, Hoa Kỳ,
Nhật Bản và một số nước phát triển châu Á khác thì cần phải
xem kỹ luật ứng xử với các sản phẩm nhập khẩu tại nước này
và cần phải có những chiến lược dự phòng thị trường để tránh
bị động trong trường hợp bị các nước lớn này chèn ép. Còn
đối với các thị trường khác, một mặt cần phải giữ uy tín trong
kinh doanh, mặt khác cần khéo léo tranh thủ khoảng trống của
luật trong điều kiện có thể, để sản phẩm chúng ta nhanh
chóng chiếm giữ thị trường. Đa số doanh nghiệp đồng ý rằng
bảo vệ thương hiệu và hoạch định chiến lược marketing tại
nước ngoài là cần thiết, điều này càng khẳng định thêm rằng
16
hoạch định và vận dụng chiến lược marketing quốc tế của
Viettel trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài để có thể thâm nhập
và tiến hành đầu tư trực tiếp.
- Huy động tích tụ vốn và lựa chọn nhiều hình thức
đầu tư thích hợp để mở rộng tái đầu tư, tăng sức cạnh
tranh trên thương trường quốc tế
Năng lực của doanh nghiệp Việt Nam về vốn không
mạnh, bên cạnh đó kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên
việc cạnh tranh đối với các doanh nghiệp kinh doanh cùng
lĩnh vực tại nước tiếp nhận đầu tư là rất khốc liệt. Khảo sát
cho thấy có 30% doanh nghiệp chưa chuẩn bị vốn để sẵn
sàng đầu tư ra nước ngoài. Hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Việt Nam đều là những dự án mới bắt
tayvào thực hiện, nên cần phải tập trung một lượng vốn lớn
đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị. Hoạt động sản xuất
kinh doanh chỉ mới bắt đầu nên số vốn thu hồi từ hoạt động
đầu tư còn hạn chế, lợi nhuận chuyển về nước chưa nhiều.
Như tác giả đã trình bày ở phần trên, thực tế cho thấy một số
dự án chỉ tồn tại được một thời gian ngắn do sự thiếu hụt
vốn, thậm chí thiếu vốn đã khiến cho hoạt động sản xuất kinh
17
doanh bị trì trệ, gián đoạn, buộc nhà đầu tư phải ngừng thực
hiện dự án. Mặt khác, xuất phát điểm của kinh tế Việt Nam
thấp, vốn trong nước chưa đủ nên rất dễ hiểu, chúng ta không
có nhu cầu và không khuyến khích đem vốn đi chỗ khác. Do
đó doanh nghiệp cần tăng cường tích tụ vốn để mở rộng tái
đầu tư, tăng sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế; vận
dụng mọi hình thức huy động vốn đầu tư bằng nhiều phương
thức, trong đó có việc thực hiện công khai hóa tài chính để
dần được niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhằm chủ
động trong việc tìm kiếm nguồn vốn, khai thác thị trường;
tìm cách tiếp cận và tận dụng sự hỗ trợ về vốn của các tổ
chức quốc tế dành cho các hoạt động đầu tư ra nước ngoài
đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.
Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tuy
nhiên không phải hình thức nào cũng phù hợp với Viettel. Do
vậy, Viettel cần cẩn trọng trong việc lựa chọn hình thức đầu tư
thích hợp để đem lại hiệu quả cao nhất. Mặc dù khảo sát cho
kết quả rằng đầu tư theo hình thức liên doanh là sự lựa chọn
nhiều nhất đối với các doanh nghiệp, tiếp theo là hình thức
hợp đồng hợp tác kinh doanh doanh nghiệp lựa chọn; tuy
nhiên, qua kết quả nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau,
18
hình thức 100% vốn nước ngoài dù vẫn còn hạn chế nhất
định, nhưng các nhà đầu tư Việt Nam nên ưu tiên lựa chọn để
được tự mình quản lý dự án. Hình thức đầu tư này cũng
thường được áp dụng cho các dự án vừa và nhỏ, phù hợp với
khả năng tài chính non trẻ của các doanh nghiệp Việt Nam,
nhất là doanh nghiệp tư nhân. Hình thức liên doanh phù hợp
với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro
khi tiếp cận thị trường mới. Kinh nghiệm của Trung Quốc,
Đài Loan, Thái Lan cho thấy trong thời kỳ mới bắt đầu đầu tư
ra nước ngoài, doanh nghiệp các nước này thường áp dụng
hình thức liên doanh hơn là đầu tư 100% vốn nhằm tận dụng
sự thông thuộc thị trường, pháp luật của bên đối tác nước sở
tại và giảm chi phí đầu tư. Tuy nhiên, thời gian qua hình thức
này không đạt được hiệu quả như mong đợi do xảy ra nhiều
tranh chấp. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh thường là
kết quả của sự hợp tác giữa chính phủ Việt Nam với chính
phủ nước tiếp nhận thông qua các hiệp định. Hình thức này
bước đầu đã tỏ ra khá hiệu quả, đem lại nguồn lợi lớn cho
Việt Nam vì nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ nước tiếp
nhận. Ngoài ra, Viettel cũng nên khai thác đầu tư theo hình
19
thức BOT với các đối tác truyền thống như Lào và Campuchia
trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng.
- Tận dụng quyền thường trú tại một số quốc gia phát
triển
Một trong những mối quan tâm thường trực của những
doanh nhân thành đạt ở Việt Nam là làm sao có thể cạnh tranh
ngang tầm với các đồng nghiệp của mình ở nước ngoài. Nói
cách khác, nếu có được những điều kiện phát triển giống như
những đối tác làm ăn đó, họ có thể tự mình trực tiếp mở rộng
hoạt động kinh doanh tại những thị trường lớn như Bắc Mỹ và
Tây Âu. Hiện nay có khá nhiều doanh nhân rất thành công ở
trong nước, họ mong muốn tìm cách khuếch trương công việc
kinh doanh của mình ra ngang tầm quốc tế, tuy nhiên có một
số yếu tố gây ít nhiều trở ngại. Chẳng hạn như việc xuất khẩu
và tiêu thụ hàng hóa phải lệ thuộc vào các đối tác nhập khẩu ở
nước ngoài, vì họ không thể tự mình đứng ra nhập khẩu vào
các thị trường đó. Hoặc các thủ tục phức tạp để xin visa nhập
cảnh vào các quốc gia đó cũng gây chậm trễ và có thể làm lỡ
mất cơ hội kinh doanh, khi doanh nhân Việt Nam cần nhanh
chóng tham dự các sự kiện như hội chợ triển lãm hay các đợt
tiếp thị dài ngày để tiếp cận hiệu quả khách hàng... Các vấn đề
20
tương tự như vậy có thể khắc phục được hoàn toàn, nếu như
doanh nhân đó biết tận dụng một hướng đi và cơ hội đặc biệt
mà các đồng nghiệp láng giềng đã biết khai thác từ khá lâu.
Cụ thể, có một số quốc gia phát triển (Canada, Australia...)
cho phép các công dân nước ngoài được sở hữu quyền thường
trú thông qua hình thức đầu tư hay kinh doanh. Đã có rất
nhiều doanh nhân Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore,
Malaysia... biết vận dụng cơ hội này để sở hữu quyền thường
trú trong những năm gần đây. Với tư cách đó, họ đã hưởng
được những điều kiện thuận lợi và nâng cao uy tín để mở
mang kinh doanh rất hiệu quả từ hai phía, cả ở thị trường
nước ngoài lẫn thị trường bản xứ của họ. Những tư cách
thường trú đó hoàn toàn không có gì bất tiện cho công việc
điều hành kinh doanh thường xuyên ở Việt Nam. Bởi lẽ,
doanh nhân có thể tận hưởng những ưu thế thường trú tại
Canada để mở rộng kinh doanh ở Bắc Mỹ và Tây Âu, mà vẫn
có thể tiếp tục sinh sống và điều hành cơ ngơi làm ăn tại Việt
Nam. Hơn nữa, họ còn có thể tiếp cận những hình thức đầu tư
tài sản có lợi và an toàn ở Bắc Mỹ, để bảo vệ tương lai tài
chính khỏi những bất trắc ngoài dự kiến.
21
- Nghiên cứu kỹ các tập quán và môi trường đầu tư tại
các nước mà Viettel đang đầu tư
Việc nghiên cứu kỹ tập quán, tìm hiểu môi trường đầu tư
ở nước định đầu tư là một trong những điều cần thiết đối với
một Doanh nghiệp khi muốn đầu tư ra nước ngoài. Do mỗi
quốc gia có một nền văn hóa riêng với những thói quen và tập
quán khác nhau, nếu không nắm được điều này thì Doanh
nghiệp sẽ rất khó khăn khi muốn thâm nhập, mở rộng vào thị
trường mới bằng cách xác định nhu cầu và tiềm năng của thị
trường đó. Vì vậy, muốn mở rộng đầu tư ở 5 thị trường mà
Viettel đã tham gia đầu tư cũng như các thị trường tiềm năng mà
Viettel đã có kế hoạch sẽ đầu tư vào thì cần phải nghiên cứu kỹ
các tập quán và môi trường đầu tư để từ đó đưa ra các phương
thức quản lý, nâng cao được hiệu quả, năng suất công việc góp
phần tăng lợi nhuận, mang khoản lợi nhuận này từ các thì trường
nước ngoài này về cho Viettel. Nghiên cứu tập quán, môi
trường đầu tư tại Campuchia
- Đẩy mạnh hoạt động đầu tư mạng lưới viễn thông
vào các thị trường tiềm năng
22
Trước hết, phải tăng cường nghiên cứu và tìm hiểu nhu
cầu của khách hàng tại các thị trường tiềm năng.
Công việc đầu tiên mà Viettel cần làm là đẩy mạnh công
tác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng
đối với từng loại sản phẩm để công ty tập trung đầu tư sản
xuất loại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, đồng
thời không ngừng đem đến cho khách hàng những sản phẩm
mới lạ và đầy tiện ích, hợp túi tiền với từng khách hàng khác
nhau. Ngoài ra, công ty cần phải nghiên cứu các hoạt động,
hành vi của đối thủ canh tranh để có thể xây dựng chiến lược
và tiến hành hoạt động đầu tư hạ tầng phù hợp nhất mang lại
hiệu quả cao nhất mà không gây lãng phí cho Viettel.
Sau đó, cần phải tập trung vào hệ thống mạng lưới viễn
thông.
Dù hệ thống mạng lưới viễn thông của Viettel được đầu
tư rất tốt điển hình là tại thị trường Campuchia đều đứng đầu
về cơ sở hạ tầng mạng lưới tuy nhiên việc đầu tư nào cũng có
nhiều khó khăn trở ngại nhất là khi cơ sở ngày càng hiện đại
hơn nên Viettel cũng cần tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng mạng
lưới sao cho hiệu quả nhất.
23
Như tại các trung tâm kỹ thuật ở các chi nhánh mà
Viettel đã đầu tư, hàng tháng cần có kế hoạch và tổ chức bảo
quản, bảo dưỡng, bảo trì các trạm BTS, các Node truyền dẫn,
tổng đài DISLAM… để nâng cao chất lượng của mạng lưới.
Ngoài ra, cần mở rộng hơn các mạng lưới cơ sở hạ tầng và
vùng phủ sóng bằng cách tăng các trạm BTS cho tương xứng
với sự phát triển của nhà mạng Viettel, đảm bảo chất lượng
cuộc gọi ngày càng được nâng cao. Cần phải liên tục theo dõi
xu hướng biến động công nghệ của thế giới để có hướng đi
thích hợp tránh lạc hậu về công nghệ mang đi đầu tư.
Cuối cùng, cần tập trung vào các thị trường tiềm năng.
Hiện tại các nước mà Viettel đầu tư vào đều là những
nước nghèo, những nước đang phát triển, chính vì thế mà
Viettel cần tập trung nghiên cứu thị trường thật kỹ tránh
trường hợp mất tiền của, công sức đi đầu tư mà không mang
lại hiệu quả cao. Ngoài ra, khi đã đầu tư cần nghiên cứu xem
tại thị trường tiềm năng đó đâu là khách hàng tiềm năng mà
Viettel muốn hướng tới để khai thác tốt khu vực này. Khi khai
thác tốt mới mang lại được hiệu quả cao. Viettel muốn mở
rộng hơn việc đầu tư ra nước ngoài thì trước hơn cần phải có
phương pháp nghiên cứu thị trường ổn thỏa, thỏa mãn được
24
những nhu cầu mà Viettel có khả năng làm được để đầu tư
chứ không phải cứ đầu tư tràn lan nước nào cũng đầu tư như
thế việc mang lại hiệu quả sẽ không cao mà tốn rất nhiều chi
phí đầu tư. Trong thời gian qua Viettel đã làm tốt công việc là
tìm kiếm được 5 thị trường tiềm năng nhưng muốn mở rộng
ra xa hơn cho nhiều người biết đến thì cần phải có công tác
nghiên cứu thị trường tốt mới mang lại hiệu quả.
- Phát triển mạnh nguồn nhân lực
Với quy mô ngày càng mở rộng, yêu cầu chất lượng
công việc ngày càng cao mà lại thiếu hụt các chuyên gia giỏi
thì Viettel cần phải tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài để
có thể kết hợp đào tạo, chuyển giao hiểu biết về công nghệ và
luân chuyển các cán bộ có năng lực đến các dự án có nhu cầu
cần thiết. Bên cạnh đó, khi tuyển chọn cần đề ra các tiêu
chuẩn cụ thể để lựa chọn cán bộ cử đi các dự án nước ngoài,
các cán bộ này cần phải có đủ trình độ, chuyên môn, ngoại
ngữ, kinh nghiệm và ý thức trách nhiệm cao.
Về lâu dài, cần đẩy mạnh các hoạt động đào tạo để phát
triển đội ngũ có đủ năng lực, trình độ ngoài ngữ và tâm huyết
để đi ra các thị trường nước ngoài. Các hình thức đào tạo có
25