Tải bản đầy đủ (.pdf) (69 trang)

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI TIÊU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 69 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---------***--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI
TIÊU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Bích Phƣơng
Mã sinh viên: 1114410059
Lớp: Anh 4
Khóa: 50
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS Từ Thúy Anh

Hà Nội, tháng 05 năm 2015


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM VÀ
CƠ CHẾ ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI TIÊU
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH ....................................................................................... 4
1.1. Tổng quan về thị trƣờng xăng dầu Việt Nam ........................................... 4
1.1.1. Nguồn cung xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu chính trên thị trường
Việt Nam .......................................................................................................... 4
1.1.2. Cơ chế quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam ............................................ 8
1.1.3. Diễn biến thị trường xăng dầu Việt Nam trong thời gian gần đây....... 11
1.2. Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu........... 15
1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu lên nền
kinh tế ............................................................................................................. 15


1.2.2. Tổng quan nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của biến động giá xăng
dầu lên đời sống hộ gia đình .......................................................................... 20
CHƢƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CHI
TIÊU CỦA CÁC NHÓM HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM ....................................... 23
2.1. Ƣớc lƣợng ảnh hƣởng trực tiếp của việc giảm giá xăng dầu đến CPI
thông qua cấu trúc giỏ hàng hóa tính CPI hiện thời. .................................... 23
2.1.1. Tổng quan về Chỉ số giá tiêu dùng CPI ............................................... 23
2.1.2. Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu đến đời sống của hộ gia đình
Việt Nam thông qua chỉ số CPI...................................................................... 25
2.2. Ƣớc lƣợng ảnh hƣởng của việc giảm giá xăng dầu lên ngân sách thực
của khu vực hộ gia đình ................................................................................... 26
2.2.1. Giới thiệu về dữ liệu nghiên cứu VHLSS 2012 ................................... 26
2.2.2. Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên tổng thể các hộ gia đình.. 29
2.2.2. Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên các nhóm hộ gia đình phân
theo thu nhập .................................................................................................. 31


2.2.3. Ảnh hưởng của việc giảm giá xăng dầu lên các hộ gia đình thuộc các
nhóm thu nhập khác nhau ở khu vực nông thôn và thành thị ........................ 34
CHƢƠNG 3: DỰ BÁO XU HƢỚNG DIỄN BIẾN GIÁ XĂNG DẦU TRONG
THỜI GIAN TỚI VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ............................................ 41
3.1. Dự báo xu hƣớng diễn biến giá xăng dầu trong thời gian tới ............... 41
3.1.1. Một số phân tích mang tính dự báo về thị trường thế giới và thị trường
trong nước ...................................................................................................... 41
3.1.2. Dự báo định lượng về giá dầu thô thế giới trong ngắn hạn.................. 42
3.2. Một số phân tích và kiến nghị chính sách ............................................... 48
3.2.1. Ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu mới nhất lên chi tiêucủa các hộ
gia đình ........................................................................................................... 48
3.2.2. Kiến nghị chính sách đếhỗ trợ người thu nhập thấp trong trường hợp
giá xăng dầu tăng............................................................................................ 51

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 59
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 63


DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 11/03/2015 ...........13
Bảng 1.2: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 05/05/2015 ...........14
Bảng 2.1: Quyền số dùng tính CPI thời kỳ 2009 – 2014 của toàn quốc ...................25
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu tính toán chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam năm 2012 ........29
Bảng 2.3: Các mặt hàng thuộc nhóm hàng xăng dầu và giá trị tiêu dùng trung bình
tính theo tháng của hộ gia đình Việt Nam ................................................................30
Bảng 2.4: Chi tiêu trung bình hàng tháng dành cho xăng dầu của các nhóm hộ phân
theo thu nhập .............................................................................................................32
Bảng 2.5: Chi tiêu dành cho xăng dầu của các hộ gia đình phân theo nhóm thu nhập
tại khu vực thành thị. .................................................................................................35
Bảng 2.6: Chi tiêu dành cho xăng dầu của các hộ gia đình phân theo nhóm thu nhập
tại khu vực nông thôn ................................................................................................37
Bảng 3.1: Dự báo giá dầu thô trong ngắn hạn ..........................................................47
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05/2015 lên các hộ
gia đình phân theo ngũ phân vị thu nhập ..................................................................49
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05 lên các hộ gia
đình phân theo ngũ phân vị thu nhập tại thành thị ....................................................50
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của thay đổi giá xăng và dầu hỏa ngày 05/05 lên các hộ gia
đình phân theo ngũ phân vị thu nhập tại nông thôn ..................................................50
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ1.1:Diễn biến giá của các sản phẩm xăng dầu từ tháng 6/2014 đến nay ......15
Biểu đồ 2.1: Tỉ trọng của các mặt hàng thuộc nhóm hàng xăng dầu trong tổng chi
tiêu của hộ gia đình Việt Nam...................................................................................31

Biểu đồ 2.2: Tỉ trọng chi tiêu dành cho các mặt hàng xăng dầu của các hộ gia đình
chia theo ngũ phân vị thu nhập .................................................................................34
Biểu đồ 2.3: Tỉ trọng chi tiêu cho các mặt hàng xăng dầu của các nhóm hộ gia đình
tại khu vực thành thị theo ngũ phân vị thu nhập .......................................................36


Biểu đồ 2.4: Tỉ trọng chi tiêu cho các mặt hàng xăng dầu của các nhóm hộ gia đình
tại khu vực nông thôn theo ngũ phân vị thu nhập .....................................................37
Biểu đồ 2.5: Mức độ mở rộng ngân sách thực theo ngũ phân vị thu nhập tại thành
thị và nông thôn .........................................................................................................39
Biểu đồ 3.1: Diễn biến giá dầu thô thế giới từ đầu năm 2014 đến nay .....................41
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chuỗi ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu ...........................................21
Hình 3.1: Kiểm định tính dừng của chuỗi giá dầu thế giới .......................................43
Hình 3.2: Kiểm định tính dừng của chuỗi sai phân bậc 1 của giá dầu thế giới .......44
Hình 3.3: Correlogram của chuỗi sai phân bậc một của giá dầu thế giới .................45
Hình 3.4: Kết quả hồi quy chuỗi sai phân bậc một của giá dầu thế giới ..................46
Hình 3.5:Kết quả kiểm định tính dừng của phần dư .................................................46
Hình 3.6: Correlogram của chuỗi phần dư ................................................................47


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tên viết tắt

Tên đầy đủ (Tiếng Anh)

Tên đầy đủ (Tiếng Việt)

ACF


Autocorrelation Function

Hàm tự tương quan

CCA

Caucasus and Central Asia

CCTP

Conditional Cash Transfer

Chương trình hỗ trợ tiền mặt

Program

có điều kiện

CPI

Consumer Price Index

Chỉ số giá tiêu dùng

EIA

Enerergy

Cục Thông tin năng lượng


Information

Administration

Mỹ

IEA

International Energy Agency

Viện năng lượng quốc tế

GDP

Gross Domestic Products

Tổng sản phẩm quốc nội

GNP
IMF

Gross National Products
International Moneytary Fund

Tổng sản phẩm quốc gia
Quỹ tiền tệ quốc tế

MENAP


Middle East, North Africa,
Afghanistan, and Pakistan

OPEC

Organization

of

Petroleum

the

Exporting

Tổ chức các nước xuất khẩu
dầu mỏ

Countries
OECD

Organisation for Economic

Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Co-operation

Kinh tế

and


Development

PACF

VHLSS

WB

Partial

Autocorrelation

Hàm tự tương quan riêng

Function

phần

Vietnam Household Living

Dữ liệu điều tra mức sống hộ

Standard Survey

gia đình

World Bank

Ngân hàng thế giới



1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Xăng dầu là một nguồn năng lượng được sử dụng phổ biến trong mọi mặt
của đời sống xã hội, từ sản xuất công nghiệp cho đến đời sống sinh hoạt hàng
ngày. Theo báo cáo điều tra năm 2014 của Cơ quan năng lượng quốc tế
(International Energy Agency- IEA), dầu chiếm 40,7% tổng lượng năng lượng sử
dụng trên toàn thế giới. Do nhu cầu ngày càng tăng cao trong khi trữ lượng ngày
càng giảm mà không có sự tái tạo hay bổ sung thêm, cộng với tình hình chính trịxã hội phức tạp tại các nước xuất khẩu dầu chính trên thế giới mà giá xăng dầu
trên thị trường quốc tế luôn biến động phức tạp.
Việt Nam tuy có tiềm năng về dầu (trữ lượng dầu mỏ của Việt Nam xếp thứ
28 trên thế giới, đứng thứ 2 ở khu vực Đông Á chỉ sau Trung Quốc) nhưng trình độ
công nghệ kĩ thuật còn hạn chế khiến chúng ta chủ yếu vẫn chỉ khai thác và xuất
khẩu dầu thô trong khi nguồn xăng dầu phục vụ cho các nhu cầu trong nước phần
lớn vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Điều này càng làm tăng thêm sự phụ thuộc
của giá dầu ở thị trường trong nước với diễn biến giá cả trên thị trường quốc tế. Mỗi
lần giá xăng dầu biến động đều dẫn tới sự thay đổi giá cả của các mặt hàng khác, vì
vậy chủ đề giá xăng dầu luôn nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiên
cứu và các cơ quan Nhà nước mà còn của mọi tầng lớp người dân trong xã hội.
Trong xu hướng biến động giá cả phức tạp hiện nay, việc tìm hiểu những ảnh hưởng
của việc thay đổi giá cả xăng dầu lên đời sống dân cư sẽ là một bước đệm cần thiết
để tìm ra những biện pháp khắc phục những hậu quả tiêu cực và đảm bảo ổn định
đời sống cho người dân trong tình huống xảy ra biến động bất lợi và ngược lại,
khuếch đại những tác động tích cực trong trường hợp có những thay đổi có lợi.
Trên thực tế đã có nhiều bài viết liên quan tới tác động của biến động giá
xăng dầu đến đời sống của các hộ gia đình nói chung và tác động của việc giá xăng
dầu tăng nói riêng, trong đó đã chỉ ra các hậu quả mà chủ yếu là hậu quả tiêu cực
của việc tăng giá xăng dầu.Tuy nhiên số lượng các nghiên cứu về tác động của việc

giảm giá xăng dầuvẫn còn rất hạn chế và các kết luận vẫn chủ yếu là các kết luận
định tính mà thiếu đi các số liệu cụ thể . Do đó, việc có một nghiên cứu có thể chỉ ra
được những tác động cụ thể, định lượng của việc giá xăng dầu giảm tới đời sống
của hộ gia đình là vô cùng cần thiết.


2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết hướng tới tìm ra những tác động cụ thể của giảm giá xăng dầu đến
đời sống của các hộ gia đình Việt Nam, trước tiên là về tổng thể và sau đó dần đi
sâu vào các nhóm cư dân khác nhau chia theo thu nhập, khu vực địa lý, v.v… để trả
lời câu hỏi: ai là người được lợi nhất khi giá xăng dầu giảm, lợi ích đó được đo
lường như thế nào, trường hợp giá mặt hàng xăng dầu nào giảm thì hộ gia đình thu
được ích lợi nhiều nhất và cụ thể hóa các kết quả này thông qua các kết quả tính
toán định lượng. Từ đó, bài khóa luận cũng liên hệ đến trường hợp giá cả xăng dầu
tăng và phân tích thiệt hại của từng bộ phân dân cư khác nhau trong tình huống này
và đưa ra một số khuyến nghị chính sách.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích dữ liệu,
cộng với các phương pháp khác như phương pháp phân tích- tổng hợp, phương
pháp hệ thống hóa tài liệu, phương pháp so sánh…. Các dữ liệu trong bài viết được
tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau như Tổng cục thống kê, Cục Hải quan, các cơ
quan quốc tế như OPEC, IEA và một số tạp chí có uy tín trong nước và quốc tế.
4. Phạm vi nghiên cứu
Bài viết phân tích tác động của việc giá xăng dầu giảm đến chi tiêu của hộ
gia đình dựa trên Bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2012 (VHLSS
2012), là bộ số liệu mới nhất và đầy đủ nhất được công bố bởi Tổng cục Thống kê
về các chỉ tiêu phản ánh mức sống của các hộ gia đình Việt Nam.
5. Kết cấu của khóa luận
Nội dung khóa luận được chia thành 3 phần chính như sau:

Chương I: Tổng quan về thị trường xăng dầu Việt Nam và cơ chế ảnh hưởng
của giá xăng dầu đến chi tiêu của các hộ gia đình
Chương II: Tác động của việc giảm giá xăng dầu đếnchi tiêu của các nhóm
hộ gia đình Việt Nam
Chương III: Dự báo xu hướng diễn biến giá xăng dầu trong thời gian tới và
kiến nghị chính sách
Do năng lực nghiên cứu có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi thiếu sót,
rất mong nhận được sự nhận xét góp ý của thầy cô để bài luận trở nên hoàn


3
thiệnhơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS,TS Từ Thúy Anh đã hướng
dẫn và giúp đỡ em trong quá trình lựa chọn đề tài và hoàn thành bài khóa luận này.


4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM VÀ
CƠ CHẾ ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦUĐẾN CHI TIÊU
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
1.1. Tổng quan về thị trƣờng xăng dầu Việt Nam
1.1.1. Nguồn cung xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu chính trên thị trường
Việt Nam
1.1.1.1. Nguồn cung xăng dầu cho thị trường Việt Nam
Theo bản xếp hạng của OPEC, Việt Nam là nước có trữ lượng dầu khá lớn,
đứng thứ 28 trên thế giới và đứng thứ 2 chỉ sau Trung Quốc ở khu vực Đông Á với
trữ lượng 4.400 triệu thùng. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm xăng dầu trên thị
trường hiện nay được nhập khẩu từ bên ngoài do Việt Nam mới chỉ hoàn thiện và
đưa vào sử dụng một nhà máy lọc dầu duy nhất là nhà máy lọc dầu Dung Quất nằm
trong Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động
từ tháng 2 năm 2009 với công suất tối đa là 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương

148.000 thùng/ngày, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam.
Ngoài ra còn có một số dự án xây dựng nhà máy lọc dầu khác với quy mô khá lớn
như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) tuy nhiên đều đang trong giai đoạn xây
dựng, chưa đi vào hoạt động.
Ngoài nguồn cung từ nhà máy Dung Quất, nhu cầu còn lại được đáp ứng bởi
nguồn nhập khẩu thông qua hệ thống các đơn vị nhập khẩu xăng dầu. Hiện có 19
tập đoàn, công ty, doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu xăng
dầu tại Việt Nam trong đó 3 tập đoàn chiếm thị phần lớn nhất là Petrolimex, PV Oil
và Saigonpetro, chiếm tổng cộng trên 70% thị phần trong đó Petrolimex chiếm thị
phần lớn nhất tương đương gần 47,8% thị phần trong thị trường xăng dầu tại Việt
Nam. Trong năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu tổng cộng gần 8,62 triệu tấn sản
phẩm xăng dầu các loại trong đó Singapore là đối tác lớn nhất; lượng nhập khẩu đạt
2,6 triệu tấn tăng 28,4% so với năm 2013. Tiếp sau Singapore là Trung Quốc (1,73
triệu tấn), Đài Loan (1,26 triệu tấn) và Thái Lan (888 nghìn tấn).
1.1.1.2. Các sản phẩm xăng dầu chủ yếu trên thị trường Việt Nam
a. Xăng


5
Xăng là nhiên liệu sản xuất từ dầu mỏ, được sử dụng cho các động cơ xăng
(xe máy, ô tô, các loại phương tiện vận chuyển,…). Chỉ tiêu chất lượng của xăng là
thành phần chưng cất, tỉ trọng, áp suất hơi, độ axit, hàm lượng lưu huỳnh, trị số
octan… trong đó trị số octan (viết tắt là RON ) thường được coi là chỉ tiêu chất
lượng quan trọng nhất. Ví dụ như xăng RON 92 (hay còn gọi là A9 hoặc Mogas 92)
là loại xăng có chất lượng cháy tương đương với một chất chuẩn có 92% chất
izooctan + 8% chất n-Heptan được so sánh với nhau khi cùng chạy trong một động
cơ chuẩn, gọi là máy đo trị số octan. Chất izooctan là chất cháy nghiêm túc, không
gây kích nổ được lấy làm chuẩn cao và gán cho trị số octan là 100. Ngược lại một
chất cháy kém nhất, dễ bị kích nổ được dùng làm chuẩn thấp và gán cho trị số octan
bằng không (0) là n-Heptan. Các loại xăng khác như xăng RON95, RON 98 là xăng

có trị số octan tương ứng là 95 và 98. Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện đã trang bị
được công nghệ sản xuất xăng chất lượng cao có trị số octan RON 92 và RON 95
mà không cần pha thêm phụ gia hóa học khác. Việc phân biệt các loại xăng có trị số
octan khác nhau sẽ giúp người tiêu dùng lựa chọn được loại xăng phù hợp để có thể
bảo vệ tốt động cơ mà không làm hao phí nhiên liệu. Theo đó, RON 92 (hay còn gọi
là A92 hoặc Mogas 92) được khuyên sử dụng cho phương tiện có tỉ số nén dưới
9,5/1 như xe gắn máy số, xe tay ga đời cũ trong khi RON 95 (hay A95 hoặc Mogas
95) được sử dụng cho phương tiện có tỉ số nén trên 9,5/1 như các xe hơi đời mới, xe
đua, xe gắn máy tay ga đời mới,v.v..
b. Dầu diesel (DO)
Dầu diesel, hay còn gọi là dầu DO, dùng cho các thiết bị chạy bằng động cơ
diesel như ô tô du lịch, xe tải nặng, các máy phát điện, tầu thủy. Trên thị trường
Việt Nam hiện nay đang lưu hành 2 loại dầu diesel là dầu DO 0,05S có hàm lượng
lưu huỳnh (S)nhỏ hơn hoặc bằng 500 mg/kg áp dụng cho phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ và dầu DO 0,25S có hàm lượng lưu huỳnh nhỏ hơn hoặc bằng 2.500
mg/kg dùng cho phương tiện giao thông đường thủy. Hàm lượng lưu huỳnh (S)
trong diesel rất quan trọng do hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ làm sản sinh ra axit
sunfuric (H2SO4) gây ăn mòn động cơ, phá hỏng dầu nhớt bôi trơn, giảm tuổi thọ
của động cơ. DO có hàm lượng lưu huỳnh (S) càng cao khi cháy sẽ tạo ra càng


6
nhiều chất độc hại cho môi trường, do đó tác động gây ô nhiễm môi trường của DO
2,5S lớn hơn hơn DO 0,05.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất chỉ sản xuất DO chất lượng cao, có hàm lượng
lưu huỳnh < 0,05%. Để có chất lượng này nhà máy đã phải đầu tư thêm công nghệ
loại lưu huỳnh bằng hydro tên là Hydrodesulfuration, trị giá khoảng 80 triệu USD.
Theo tiêu chuẩn mới của Việt Nam TCVN 5689:2005, nhiên liệu diesel DO buộc
phải có hàm lượng lưu huỳnh trong phạm vi 0,05% - 0,25% thay vì trước kia có loại
có hàm lượng tối đa là 0,5%.

c. Dầu hỏa (KO)
Dầu hỏa còn gọi là dầu KO, là sản phẩm thu được từ chưng cất phân đoạn
dầu mỏ ở nhiệt độ 150°C đến 275°C hoặc từ cracking dầu mỏ, hiện nay nó được sử
dụng chủ yếu làm nhiên liệu cho máy bay phản lực (Avtur, Jet-A, Jet-B, JP-4 hay
JP-8). Ngoài ra, loại nặng hơn có thể có nhiệt độ sôi từ 250 – 350°C; loại này
thường dùng cho các loại đèn dầu đặc biệt như đèn tín hiệu đường sắt, đèn hải đăng,
đèn thắp sáng cho những loại tàu nhỏ. Một dạng của dầu hỏa là RP-1 cháy trong
ôxy lỏng, được sử dụng làm nhiên liệu cho tên lửa.
d. Dầu mazut (FO)
Dầu mazut (FO - hay còn gọi là nhiên liệu đốt lò) là sản phẩm chủ yếu của
quá trình chưng cất thu được khi chưng cất dầu thô ở nhiệt độ sôi lớn hơn 350°C.
Loại dầu này thường được sử dụng nhiên liệu đốt lò trong công nghiệp nồi hơi, lò
nung, lò đốt dạng bay hơi, dạng ống khói trong các nhà máy nhiệt điện, máy phát
điện, tàu thủy và trong các nhà máy công nghiệp. Dầu mazut có 2 loại: loại nặng
(FO nặng) là nhiên liệu đốt lò chủ yếu dùng trong công nghiệp; loại nhẹ (FO nhẹ)
bao gồm cả các loại dầu giống như diesel (DO), dầu hỏa (KO) … khi chúng được
sử dụng làm nhiên liệu để đốt lò dạng bay hơi, dạng ống khói hoặc lò đốt gia đình.
e. Xăng sinh học
Xăng sinh học là một sản phẩm đặc biệt trong nhóm các sản phẩm xăng dầu
do nó không phải là sản phẩm thuần túy từ dầu mỏ. Xăng sinh học là hỗn hợp của
xăng truyền thống và cồn sinh học (bio-ethanol), được sử dụng làm nhiên liệu cho
các loại động cơ đốt trong như xe gắn máy, ô tô. Xăng sinh học được ký hiệu là EX
trong đó X là % ethanol nhiên liệu biến tính trong công thức pha trộn xăng sinh


7
học. Do ethanol có trị số octan cao (RON = 109) nên khi pha ethanol vào xăng gốc
giúp gia tăng trị số octan cho hỗn hợp nhiên liệu, đồng thời nâng cao hiệu suất
cháy, động cơ vận hành êm hơn và tăng tuổi thọ động cơ. Việc sử dụng xăng sinh
học không những giúp giảm lệ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn

kiệt (sản xuất từ các nguyên liệu tái tạo, phân hủy sinh học thân thiện với môi
trường) mà còn góp phần giảm hiệu ứng nhà kính do độ phát thải các khí gốc lưu
huỳnh và ni tơ độc hại (SOx, NOx) ít hơn so với xăng truyền thống.
Trên thực tế Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil) đã chính thức đưa xăng
sinh học E5 vào bán thử nghiệm tại khu vực miền Trung từ năm 2010. Theo định
nghĩa ở trên, xăng sinh học E5 là nhiên liệu chứa 5% thể tích cồn sinh học và 95%
thể tích xăng truyền thống RON92. Xăng E5/E10 đã đượcTrung tâm Nghiên cứu và
phát triển chế biến dầu khí (PVPro) thuộc Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) nghiên
cứu, thử nghiệm từ năm 2003. Trải qua 3 giai đoạn nghiên cứu từ phòng thí nghiệm
đến chạy thử nghiệm trên hiện trường và lấy ý kiến người tiêu dùng, kết quả thu
được đều cho thấy sử dụng xăng E5/E10 giúp giảm mạnh hàm lượng khí thải gây ô
nhiễm môi trường, đặc biệt là giảm phát thải khí CO đến 44%, giảm phát thải
Hydrocarbon đến 25% và giảm phát thải các khí NOx đến 10%. Theo Viện Cơ khí
động lực học- Đại học Bách khoa, các thử nghiệm đã chứng minh nhiên liệu E5 do
trong nước sản xuất hoàn toàn có thể sử dụng an toàn trên các động cơ xăng đang
lưu hành ở Việt Nam mà không cần phải thay đổi kết cấu hay vật liệu chi tiết. Việc
sử dụng xăng sinh học E5 sẽ giúp cải thiện công suất động cơ, suất tiêu hao nhiên
liệu, giảm hiện tượng kích nổ, làm cho động cơ vận hành êm hơn và tăng tuổi thọ
cho động cơ, đồng thời giảm phát thải HC, CO. Mặc dù vậy, việc sử dụng xăng
E95 còn vấp phải nhiều nghi ngại từ người tiêu dùng về khả năng gây hỏng động
cơ, cháy nổ, chết máy …. Ngoài ra giá thành xăng sinh học cũng chỉ ở mức tương
đương xăng A92 thông thường nên không đủ để khuyến khích người tiêu dùng
chuyển sang sử dụng xăng sinh học. Theo thống kê của PV Oil, tới giữa năm 2014
lượng xăng sinh học bán ra chỉ tương đương 1/8 lượng bán của xăng dầu truyền thống.
Tuy nhiên theo xu hướng phát triển của ngành năng lượng thế giới, việc sử dụng nhiên
liệu xăng sinh học sẽ là xu hướng tất yếu do nhiều ưu điểm như đốt cháy hiệu quả,


8
thân thiện môi trường, tận dụng nguồn nguyên liệu từnông nghiệp và thay thế hoàn

hảo cho các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt.
Brazil là nước đi đầu về nhiên liệu sinh học sử dụng ethanol. Trong khu vực
Đông Nam Á, Thái Lan đã sử dụng đến xăng E10, E20. Ở Châu Âu cũng đã phổ
biến rộng rãi xăng E5. Từ ngày 1/12/2014, xăng sinh học E5 đã được bán tại các
cây xăng tại 7 địa phương trên cả nước bao gồm Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo lộ trình của
Chính phủ, từ ngày 1/12/2015, xăng E5 sẽ được sử dụng bắt buộc trên phạm vi toàn
quốc và tiến tới sử dụng xăng E10 vào năm 2017.
1.1.2. Cơ chế quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam
Nghị định 83/2014/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 83) được Chính phủ ban
hành từ ngày 3/9/2014 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/11/2014 thay thế cho Nghị
định 84⁄2009⁄NĐ-CP ban hành ngày 15⁄10⁄2009, là văn bản pháp luật hiện hành quy
định về hoạt động kinh doanh xăng dầu và quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam.
1.1.2.1. Về quy tắc xác định giá:
Giá bán xăng dầu được quyết định theo cơ chế thị trường, có sự định hướng
của Nhà nước. Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn và cùng
với thương nhân phân phối xăng dầu điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo nguyên
tắc, trình tự quy định. Cụ thể:
 Giá xăng dầu thế giới là giá các sản phẩm xăng dầu được giao dịch trên thị
trường quốc tế do Liên Bộ Công thương – Tài chính xác định và công bố.
 Giá cơ sở bao gồm các yếu tố và được xác định như sau:
Giá cơ sở bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu
thụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng (+) Chi
phí kinh doanh định mức cộng (+) Mức trích lập Quỹ Bình ổn giá cộng (+) Lợi
nhuận định mức cộng (+) Thuế bảo vệ môi trường cộng (+) Các loại thuế, phí và
các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
Giá cơ sở được tính bình quân của 15 ngày sát với ngày tính giá của chu kỳ
dự trữ xăng dầu bắt buộc.
 Giá bán lẻ xăng dầu là giá bán tại các cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Giá bán lẻ
được điều chỉnh dựa theo giá cơ sở theo quy tắc trình bày ở mục sau.



9
1.1.2.2. Về quy tắc điều chỉnh giá:
Theo Nghị định 83, thời gian giữa 2 lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là
15 ngày đối với trường hợp tăng giá, tối đa là 15 ngày đối với trường hợp giảm giá.
Nếu giá xăng dầu biến động mà Chính phủ không thực hiện bình ổn giá, thương
nhân đầu mối phải gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Văn bản kê khai
giá và quyết định điều chỉnh giá theo quy định. Trường hợp Chính phủ thực hiện
bình ổn giá theo quy định tại Điều 17 và 18 Luật Giá, thương nhân đầu mối phải gửi
đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Văn bản đăng ký giá và quyết định điều
chỉnh giá của thương nhân. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào văn bản
kê khai giá hoặc văn bản đăng ký giá và quyết định điều chỉnh giá của thương nhân
đầu mối gửi, có trách nhiệm kiểm tra, giám sát để bảo đảm việc điều chỉnh giá của
thương nhân đầu mối thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Trong trường hợp giá cơ sở giảm so với giá liền kề trước đó, thương nhân
phải điều chỉnh giảm giá bán; giá giảm tương ứng tối thiểu giá cơ sở tại thời điểm
điều chỉnh giảm. Thương nhân phải gửi văn bản kê khai giá, quyết định điều chỉnh
giảm giá đến Liên Bộ Tài chính – Công thương và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về mức giá được điều chỉnh; không giới hạn về mức giảm giá, khoảng thời gian
giữa 2 lần giảm giá và số lần giảm giá.
Mặt khác, trong trường hợp giá cơ sở tăng so với giá liền kề trước đó, quy
định về điều chỉnh tăng giá được phân theo mức độ tăng của giá cơ sở. Cụ thể:
 Nếu giá cơ sở tăng dưới 3% thương nhân đầu mối có quyền điều chỉnh giá
bán tại thời điểm đó đồng thời gửi báo cáo văn bản cho Liên Bộ Tài chính – Công
thương và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức điều chỉnh;
 Nếu giá cơ sở tăng trong phạm vi từ 3% đến 7%, thương nhân đầu mối phải
gửi văn bản kê khai giá và dự kiến mức điều chỉnh giá cho Liên Bộ Tài chính –
Công thương xem xét và đưa ra mức điều chỉnh phù hợp, nếu trong vòng 3 ngày
làm việc mà không có văn bản trả lời thì thương nhân có quyền điều chỉnh giá tối đa

tương ứng với mức giá cơ sở ở thời điểm điều chỉnh, tuy nhiên không được lớn hơn
7% so với giá cơ sở liền kề trước đó;
 Nếu giá cơ sở tăng lớn hơn 7% hoặc việc tăng giá làm ảnh hưởng đến đời
sống nhân dân và phát triển kinh tế- xã hội, Liên Bộ Tài chính – Công thương sẽ có


10
văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và cho ý kiến về phương pháp điều
hành cụ thể.
Đối với giá bán lẻ của các thương nhân phân phối, thương nhân phân phối
dựa vào giá bán của thương nhân đầu mối để quyết định giá bán trong hệ thống của
mình tuy nhiên không cao hơn mức giá cơ sở do Liên Bộ Tài chính – Công thương
công bố. Khi có quyết định điều chỉnh giá bán, thương nhân phân phối phải có văn
bản báo cáo cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo đúng quy định.
1.1.2.3. Về quy tắc trích lập quỹ bình ổn giá:
Quỹ bình ổn giá xăng dầu được trích lập theo quy định của Nghị định
84⁄2009⁄NĐ-CP nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng khi giá xăng dầu tăng quá
cao, đồng thời san sẻ gánh nặng với doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xăng
dầu. Quỹ bình ổn giá được trích lập thường xuyên, liên tục bằng một khoản tiền cụ
thể tính trên lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ và được xác định là một khoản mục chi
phí trong cơ cấu giá bán của thương nhân đầu mối. Quỹ bình ổn giá sẽ được dùng
khi giá bán lẻ thấp hơn giá cơ sở hoặc việc tăng giá bán làm ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế -xã hội hoặc đời sống người dân.
Thương nhân đầu mối có trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy định của
pháp luật hiện hành và được nhà nước bù đắp lại những chi phí hợp lý khi tham gia
bình ổn giá. Trong trường hợp cần thiết, Liên Bộ Công thương - Tài chính xem xét
điều chỉnh mức trích lập cho phù hợp với biến động của thị trường.
Tuy nhiên, kể từ khi thành lập Quỹ năm 2009 đến nay, tác dụng của Quỹ
bình ổn giá xăng dầu vẫn là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong xã hội. Theo Bộ
Công thương, Quỹ bình ổn giá đã góp phần ổn định giá cả các mặt hàng xăng dầu,

đặc biệt tại một số thời điểm nhạy cảm như cuối năm 2010, đầu 2011 khi giá dầu
thế giới tăng cao. Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu thì việc sử dụng Quỹ bình
ổn giá chưa thực sự đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng. Nói một cách cụ
thể hơn, Quỹ bình ổn giá thực chất được trích lập ngay trên giá bán lẻ xăng dầu tại
thời điểm trích lập, nghĩa là chính người dân là người trực tiếp đóng góp vào quỹ
bình ổn giá. Điều này giống như việc người dân trả một khoản phí ở hiện tại để bảo
vệ họ khỏi rủi ro tăng giá trong tương lai. Thêm vào đó, việc trích Quỹ hay xả Quỹ
là những quyết định mang nặng tính can thiệp trực tiếp vào thị trường, có thể gây


11
nên các méo mó thị trường ở cả hai phía cung và cầu gây ảnh hưởng đến quá trình
phát triển kinh tế về lâu dài, đồng thời còn những chi phí phát sinh liên quan đến
việc quản lý Quỹ, kiểm soát hoạt động trích Quỹ- xả Quỹ và các chi phí hành chính
khác.
1.1.2.4. Về quy tắc điều hành giá công khai và minh bạch
Nghị định 83 nêu trách nhiệm của Liên Bộ Tài chính- Công thương trong
việc điều hành giá công khai và minh bạch như sau:
 Bộ Công thương phải công bố trên trang thông tin điện tử của mình về giá
thế giới, giá cơ sở, giá bán lẻ xăng dầu hiện hành; thời điểm sử dụng, số trích lập, số
sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng quý; các biện pháp điều hành
khác; trong đó:
 Bộ Tài chính có trách nhiệm giám sát việc điều hành giá xăng dầu; giám sát
việc trích lập, mức sử dụng Quỹ bình ổn giá của thương nhân đầu mối.
Ngoài ra, Nghị định yêu cầu thương nhân đầu mối có trách nhiệm công bố
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về giá bán lẻ hiện hành; số trích
lập, số sử dụng và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu hàng tháng và trước mỗi lần điều
chỉnh giá bán xăng dầu trong nước; điều chỉnh mức trích, mức sử dụng Quỹ bình ổn
giá; công bố báo cáo tài chính trong năm tài chính khi đã được kiểm toán.
1.1.3. Diễn biến thị trường xăng dầu Việt Nam trong thời gian gần đây

Năm 2014 là năm giá xăng dầu thay đổi nhiều nhất từ trước đến nay với tổng
cộng 24 lần điều chỉnh trong đó có 5 lần điều chỉnh tăng và 19 lần điều chỉnh giảm.
Trong những tháng đầu năm 2014 giá xăng tăng mạnh và đạt đỉnh ngày 07/07/2014
với giá xăng A92 là 25.640 đồng/l. Từ tháng 8 trở đi, thị trường dầu thế giới có dấu
hiệu giảm giá kéo theo sự sụt giảm giá xăng dầu trong nước. Có thể kể đến một số
nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này như sau:
 Thay đổi trong xu hướng cung- cầu của thị trường: hiện nay trên thị trường
dầu thế giới đang xuất hiện tình trạng cung vượt quá kì vọng và cầu thấp hơn kì
vọng, đặc biệt xu hướng này có khả năng duy trì trong dài hạn. Từ năm 2011, sản
lượng dầu đá phiến của Mỹ tăng mạnh dẫn tới dư thừa cung dầu trên thị trường,
đồng thời tình hình kinh tế thế giới không có nhiều khởi sắc dẫn đến nhu cầu về dầu
cho hoạt động sản xuất giảm mạnh. Theo báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng


12
1 năm 2015 của WB, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ tiếp tục ở mức thấp
trong năm 2015. Thêm vào đó, các tiến bộ công nghệ và khoa học kỹ thuật đã giúp
phát hiện ra nhiều nguồn năng lượng thay thế cho dầu và đồng thời làm giảm đáng
kể mức độ thâm dụng dầu trong sản xuất đến 50% trên toàn thế giới, làm nhu cầu về
dầu giảm đi đáng kể.
 Những thay đổi trong mục tiêu của khối OPEC: Saudi Arabia đóng vai trò là
nhà sản xuất chủ đạo (swing producer) trong khối OPEC; bằng cách sử dụng đặc
quyền của mình Saudi Arabia có thể nâng hoặc giảm nguồn cung về dầu của OPEC
và ổn định giá dầu thế giới ở mức mong muốn. Tuy nhiên trong năm 2014, khối
OPEC đã không đạt được thỏa thuận chung về việc cắt giảm sản lượng sản xuất và
tiếp tục duy trì khai thác ở mức 30 triệu thùng dầu/ ngày. Điều này báo hiệu một
thay đổi lớn trong mục tiêu của khối OPEC: thay vì duy trì giá cả ở mức mong
muốn, OPEC chuyển mục tiêu sang duy trì thị phần trong thị trường dầu thế giới.
 Những bất ổn địa chính trị có thể gây gián đoạn nguồn cung được giảm bớt
và loại trừ: trong nửa sau năm 2014, dù cho Trung Đông vẫn tồn tại nhiều bất ổn

nhưng thực tế cho thấy sự ảnh hưởng của nó lên nguồn cung về dầu là không thực
sự trầm trọng. Tại Libi, dù xảy ra nội chiến nhưng sản xuất dầu đã có dấu hiệu phục
hồi ở mức 0,5 triệu thùng dầu/ ngày (khoảng 0,5% tổng sản lượng sản xuất dầu của
thế giới) trong quý thứ 3 năm 2014.
Dưới ảnh hưởng của sự sụt giảm giá trên thị trường quốc tế, giá các mặt hàng
xăng dầu tại Việt Nam cũng giảm liên tục từ thời điểm tháng 8 cho tới hết năm
2014. Tuy nhiên đến đầu năm 2015, do chiến tranh bùng phát tại Yemen – nơi tập
trung nhiều điểm sản xuất và vận chuyển dầu quan trọng của thế giới, đồng thời sản
lượng dầu thô của Mỹ giảm mạnh và dự trữ tồn kho giảm dẫn tới Mỹ phải mua
thêm dầu từ thị trường quốc tế mà nhu cầu dầu tăng lên, tạo cơ hội phục hồi cho giá
dầu thế giới. Theo diễn biến này, vào ngày 11/03/2015, giá bán lẻ xăng dầu đã tăng
trở lại lần đầu tiên sau một loạt chuỗi điều chỉnh giảm giá. Theo Bộ Công thương,
nguyên nhân của lần tăng giá này là do trong thời gian qua giá xăng A92 trên thị
trường Singapore bình quân đã tăng 20,5% cùng với giá diesel tăng 16,3%; giá dầu
hỏa tăng 15,3% và giá dầu mazut tăng 21,4%. Do Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị
về việc bình ổn tâm lý người tiêu dùng trong dịp Tết nguyên đán, Bộ Công thương


13
đã sử dụng Quỹ bình ổn giá để kiềm chế tăng giá xăng dầu, tuy nhiên chênh lệch
giữa giá bán lẻ và giá cơ sở vẫn rất cao, cụ thể là: chênh lệch của giá xăng A92 so
với giá cơ sở là 3.452 đồng/l; chênh lệch của giá dầu diesel là 1.588 đồng/l; chênh
lệch của giá dầu hỏa là 1.537 đồng/l và chênh lệch giá dầu mazut là 1.827 đồng/kg.
Thêm vào đó, nhu cầu tiêu thụ của thị trường quá lớn dẫn đến việc không thể dựa
vào nguồn Quỹ bình ổn để tiếp tục giữ giá xăng dầu trong thời gian dài, cộng thêm
việc thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu vẫn giữ ở mức cao dẫn tới bắt buộc phải
tăng giá xăng dầu để dung hòa lợi ích cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
Mức điều chỉnh cụ thể của các mặt hàng trong đợt điều chỉnh giá này cụ thể như
trong bảng sau:
Bảng 1.1: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 11/03/2015

Đơn vị: nghìn đồng
Mặt hàng

Xăng A92

Dầu diesel

Dầu hỏa

Dầu mazut

Mức giá mới

17,280

15,880

16,320

12,760

Lƣợng tăng so với giá cũ

1,610

0,710

0,710

0,910


Mức tăng so với giá cũ

10,27%

4,68%

4,55%

7,68%

(%)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ trang tin Petrolimex
Tuy nhiên trong diễn biến gần đây nhất, giá xăng dầu tiếp tục biến động
mạnh do có quyết định tăng thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng dầu
theo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội. Theo đó, kể từ ngày 01/05/2015 thuế bảo vệ môi trường sẽ
tăng cụ thể với từng mặt hàng như sau:
-

Xăng : tăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít;

-

Dầu diezel: tăng từ 500 đồng/lít lên 1.500 đồng/lít;

-

Dầu mazut, dầu nhờn: tăng từ 300 đồng/lít lên 900 đồng/lít;


-

Mỡ nhờn: tăng từ 300 đồng/kg lên 900 đồng/kg.
Từ khi có thông tin về việc thuế bảo vệ môi trường tăng tới 300%, nhiều

chuyên gia cũng như đại bộ phận người dân trong xã hộiđều e ngại rằng giá xăng
dầu sẽ tăng mạnh; tuy nhiên Bộ Tài chính cho rằnggiá xăng dầu sẽ không biến động
nhiều do thuế bảo vệ môi trường tăng nhưng thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu


14
lại giảm. Cụ thể theoThông tư số 48/2015/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày
14/04/2015, thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu sẽ được điều chỉnh như sau:
-

Xăng RON92/95: giảm từ 35% xuống mức 20% (giảm 15%);

-

Dầu diesel: giảm từ 30% xuống 20% (giảm 10%);

-

Dầu hoả: giảm từ 35% xuống 20% (giảm 15%);

-

Dầu mazut: giảm từ 35% xuống 25%;
Theo tính toán của Bộ Tài chính, mức tăng thuế bảo vệ môi trường thấp hơn


so với mức giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu nên giá xăng dầu bán lẻ
không những không tăng mà có khả năng còn giảm, đồng thời giá xăng dầu trong
nước vẫn sẽ thấp hơn giá xăng dầu ở một số nước trong khu vực. Ngoài ra trong
trường hợp giá xăng dầu thực sự diễn biến theo chiều hướng tăng, Bộ Công thương
khẳng định sẽ sử dụng các quy định của Nghị định 83 để bình ổn hoặc điều chỉnh
giá nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng.
Trên thực tế, giá xăng đã tăng khi quyết định tăng thuế bảo vệ môi trường có
hiệu lực dù thuế nhập khẩu giảm,ngược lại với dự tính trên của Bộ Tài chính. Cụ
thể là vào ngày 05/05/2015, giá xăng A92 và A95 đã tăng thêm đến gần
2.000đồng/l. Ngoài dầu hỏa giảm giá ở mức 260đồng/l, các mặt hàng xăng dầu còn
lại vẫn giữ nguyên mức giá của lần điều chỉnh trước đó. Chi tiết giá của các mặt
hàng xăng dầu trong lần điều chỉnh này được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2: Mức giá điều chỉnh của các mặt hàng xăng dầu ngày 05/05/2015
Đơn vị: nghìn đồng
Mặt hàng

Xăng A92

Dầu diesel

Dầu hỏa

Dầu mazut

Mức giá mới

19,230

15,880


15,810

12,760

Lƣợng tăng so với giá

1,950

0

-0,260

0

11,28%

0%

-1,67%

0%


Mức tăng so với giá cũ
(%)
Nguồn: Tổng hợp từ trang tin Petrolimex
Dưới đây là đồ thị diễn biến các đợt điều chỉnh giá các mặt hàng xăng dầu kể
từ tháng 6/2014 đến nay.



15
Biểu đồ 1.1:Diễn biến giá của các sản phẩm xăng dầu từ tháng 6/2014 đến nay

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ trang tin của Petrolimex
Từ đồ thị ta có thể nhìn thấy rõ giá các mặt hàng xăng dầu đạt đỉnh vào tháng
7/2014, tiếp theo là chuỗi giảm giá liên tiếp cho tới hết năm 2014. Hai đợt kiềm chế
giá dầu tương ứng với khoảng ổn định của đồ thị (gần như song song với trục
hoành) khi giá xăng duy trì ở mức hơn 15.000 đồng/l vào đầu năm 2015. Đoạn cuối
của đồ thị có xu hướng đi lên, thể hiện diễn biến tăng giá mới đây trong đó đường
màu xanh lam tương ứng với giá xăng A92 có độ dốc lớn nhất, thể hiện đợt điều
chỉnh giá ngày 05/05 trong đó giá xăng tăng đến hơn 11% trong khi giá dầu hỏa
giảm, giá dầu diesel và dầu mazut không thay đổi.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu
1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu lên nền
kinh tế
Kể từ khi dầu mỏ được khai thác công nghiệp vào thế kỉ 19, dầu mỏ và các
chế phẩm từ dầu mỏ đã trở thành nguồn nhiên liệu quan trọng cho rất nhiều ngành
công nghiệp trên thế giới. Vai trò của nó trong đời sống kinh tế- xã hội cũng do đó
mà ngày càng trở nên quan trọng và thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu học
thuật trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực kinh tế. Các công trình nghiên cứu
của Hamilton (1983), Rotemberg và Woodford (1996) đã chỉ ra có một mối liên hệ


16
chặt chẽ giữa giá dầu và sản lượng thực của nền kinh tế. Những nghiên cứu của
Loungani (1986), Perron (1989) cũng công nhận những thay đổi trong giá dầu có
ảnh hưởng đáng kể lên các biến số kinh tế vĩ mô, đặc biệt kể từ khi cuộc khủng
hoảng dầu mỏ lần đầu tiên nổ ra vào năm 1973, tác động mạnh mẽ của nó đã làm
chao đảo nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Munasinghe (1984) và
Rotemberg và Pindyck (1984), cuộc khủng hoảng dầu năm 1973 đã gây nên tình

trạng lạm phát cao kéo dài, làm xói mòn tốc độ tăng trưởng kinh tế ở cả các quốc
gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển. Hamilton (1983, 1996) cũng chỉ ra
việc giá dầu tăng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên suy thoái ở
Mỹ trong giai đoạn từ sau Thế chiến thứ 2 đến trước 1972. Trong nghiên cứu năm
1996 khi áp dụng mô hình VAR, Hamilton đã chứng minh được mối quan hệ nhân
quả chặt chẽ giữa giá dầu và tốc độ tăng trưởng GNP thực của nền kinh tế Mỹ giai
đoạn 1948-1980; theo đó ông kết luận tăng trưởng GNP chắc chắn có quan hệ
ngược chiều với giá dầu tăng nhưng có liên hệ không đáng kể với việc giá dầu
giảm. Kết luận này cũng được khẳng định lại trong nghiên cứu của Mork và Olson
(1994). Cả hai nghiên cứu này đều thống nhất ở điểm: bất kì thay đổi nào trong giá
dầu dù là tăng giá hay giảm giá cũng đều gây ra việc tái phân bổ tài nguyên và gây
tốn nhiều chi phí cho nền kinh tế. Do đó, khi giá dầu giảm thì lợi ích từ giá giảm và
chi phí của tái phân bổ tài nguyên bù trừ cho nhau dẫn tới tác động chung đến nền
kinh tế là gần như không có, trong khi nếu giá dầu tăng thì tác động được cộng gộp
lại làm tổn thất trở nên nặng nề hơn.
Tuy nhiên trong giai đoạn sau này có ý nhiều ý kiến cho rằng mối quan hệ
giữa giá xăng dầu và các chỉ số vĩ mô đang trở nên ngày càng lỏng lẻo, đặc biệt từ
khi các cuộc khủng hoảng dầu trong giai đoạn những năm 2000 không gây tác động
tương tự lên kinh tế các nước như các cuộc khủng hoảng trước đó. Hamilton (2009)
cho rằng mối quan hệ giữa thay đổi của giá dầu và tăng trưởng kinh tế là rất khó xác
định thông qua phân tích thống kê, và ông chỉ ra rằng có thể còn một biến số chưa
xác định được đã tác động lên cả hai đại lượng này làm các nghiên cứu mất đi tính
chính xác.
Khi nghiên cứu về tác động của việc tăng giá dầu lên nền kinh tế vĩ mô,
nhiềunghiên cứu cho rằng hậu quả của các cú sốc giá dầu phụ thuộc vào đặc điểm


17
kinh tế riêng của nước đó. Khan (1993) khẳng định phản ứng của các nền kinh tế
nhập khẩu dầu đối với cú sốc về giá dầu phụ thuộc vào cấu trúc hàng hóa nhập

khẩu, cán cân vãng lai, những thay đổi trong dịch chuyển tài nguyên khu vực tư
nhân và nhà nước, mức độ đáp ứng nhu cầu nội địa và khả năng tiếp nhận trợ giúp
tài chính từ nước khác. Chang et al (2011) khi nghiên cứu về tác động của biến
động giá dầu tới kinh tế vĩ mô của các nước Châu Á – Thái Bình Dương đã kết luận
rằng: các nước xuất khẩu dầu như Malaysia và Indonesia sẽ được lợi khi giá dầu
tăng (thể hiện ở GDP tăng); các nước nhỏ có nền kinh tế mở cửa như Singapore,
Đài Loan, New Zealand chịu ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn, tuy nhiên dễ hồi
phục trong dài hạn nhờ vào thương mại; cuối cùng là nhóm nước lớn và phát triển
nhanh như Ấn Độ và Trung Quốc không chịu tác động đáng kể từ việc tăng giá xăng
dầu. Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu đều nhất trí rằng xét trên góc độ toàn cầu thì việc
tăng giá dầu sẽ gây ra tổn thất. Cantore, Antimiani và Anciaes (2012) cho rằng ngay
ở các nước xuất khẩu dầu mỏ đang phát triển, lợi ích từ việc giá dầu tăng không đủ để
bù đắp cho chi phí sản xuất tăng ở các ngành sản xuất không sử dụng dầu.
Ở góc độ ngành, Lee và Ni (2002) kết luận các cú sốc giá dầu có ảnh hưởng
đáng kể và hoạt động theo cơ chế sốc cung đối với các ngành thâm dụng dầu hay sử
dựng dầu như là nguyên liệu đầu vào (ví dụ như lọc dầu) và hoạt động như một cú
sốc cầu đối với nhiều ngành khác. Nguyen Van Chung (2014) khi nghiên cứu về tác
động của biến động giá dầu lên kinh tế Việt Nam theo mô hình Input-Output đã kết
luận rằng giá dầu tăng để lại tác động lớn hơn trong dài hạn so với ngắn hạn; đồng
thời giá dầu tăng 10% sẽ gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế tuy nhiên giá dầu
chỉ tăng 5% lại cho ảnh hưởng tích cực, ám chỉ rằng một cú sốc giá dầu vừa phải sẽ
tạo điều kiện tốt cho kinh tế.
Theo Weiqi Tang, Libo Wu và Zhong Xiang Zhang (2009), giá dầu có thể
tác động tới nền kinh tế và các biến số vĩ mô thông qua rất nhiều kênh dẫn truyền.
Chuku (2012) đã liệt kê ra 6 kênh dẫn truyền chủ yếu là: hiệu ứng sốc cung, hiệu
ứng dịch chuyển thu nhập, hiệu ứng lạm phát, hiệu ứng cán cân thương mại, hiệu ứng
điều chỉnh ngành, hiệu ứng không kì vọng (không chắc chắn). Schneider (2004) cũng
đã mô tả các kênh dẫn truyền sốc giá dầu theo 3 hướng: phía cung, phía cầu và tỉ giá
trao đổi thương mại (terms of trade). Theo ông, ảnh hưởng phía cung được giải thích



18
bằng chi phí sản xuất tăng do dầu là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất, dẫn
tới sản lượng tiềm năng của nền kinh tế giảm. Thêm vào đó, giá dầu tăng gây ảnh
hưởng lên quyết định đầu tư do các quyết định này phụ thuộc vào kỳ vọng của nhà
đầu tư về những biến đổi giá cả trong tương lai. Mặt khác ở phía cầu, mặt bằng giá cả
tăng lên làm mức thu nhập thực và nhu cầu tiêu dùng giảm đi. Đáng chú ý là những
diễn biến này chỉ xảy ra ở các nước nhập khẩu dầu, trong khi các nước xuất khẩu dầu
nhìn chung là được lợi khi giá dầu tăng.
Khi nghiên cứu tác động của việc giá dầu giảm lên nền kinh tế, Baffes
(2015) khẳng định giá dầu giảm là tín hiệu tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế
thế giới thông qua việc kiềm chế lạm phát ở quy mô toàn cầu và kích thích phát
triển kinh tế. Hơn thế nữa, việc giá xăng dầu giảm còn giúp tạo động lực thực hiện
cải cách cơ cấu sản xuất, xóa bỏ trợ cấp năng lượng, cải cách hệ thống thuế và các
thay đổi cấu trúc có lợi khác tại các quốc gia lệ thuộc vào xuất khẩu dầu. Theo
nghiên cứu này, tác động của việc giá dầu giảm được dẫn truyền qua một số kênh
như: tác động trực tiếp lên giá cả hàng hóa và hoạt động kinh doanh của nước xuất
khẩu dầu và nước nhập khẩu dầu; tác động gián tiếp thông qua thương mại và các
thị trường hàng hóa khác; tác động gián tiếp thông qua các chính sách ứng phó của
chính phủ các nước bao gồm chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Các kênh
dẫn truyền này có thể có mức độ tác động và độ trễ so với thời điểm giá dầu giảm
khác nhau, tùy thuộc vào nguyên nhân của sự giảm giá, xu hướng giảm giá và mức
độ phụ thuộc vào dầu của nước đó. Cụ thể hơn, khi xét từ phía cung, giá dầu giảm
giúp giảm chi phí sản xuất của một loạt các hàng hóa dịch vụ và dẫn tới làm giảm tỉ
lệ lạm phát đồng thời kích thích hoạt động đầu tư, mở rộng sản xuất. Về phía cầu,
giá dầu giảm giúp làm giảm chi tiêu dành cho năng lượng và nâng cao thu nhập
thực tế của người dân, dẫn tới tăng tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Các ảnh hưởng gián
tiếp khác đến từ các chính sách mà các quốc gia áp dụng khi giá dầu giảm: nếu giá
dầu giảm giúp kiềm chế lạm phát tại các nước nhập khẩu dầu, chính sách tiền tệ nới
lỏng có thể khuếch đại thêm hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền kinh

tế. Mặt khác, nếu giá dầu giảm làm mất đi nguồn thu của chính phủ tại các nước
xuất khẩu dầu thì nhiều khả năng chính phủ sẽ phải áp dụng chính sách tài khóa thắt
chặt, từ đó tác động lên tổng sản lượng của nền kinh tế.


19
Ích lợi từ việc giá dầu giảm tại các nước lệ thuộc vào dầu nhập khẩu thể hiện
ở thu nhập thực tế của doanh nghiệp và hộ gia đình tăng:Rasmussen và
Roitman(2011)đã chỉ ramức giảm 10% của giá dầu có thể tạo ra tăng trưởng khoàng
0.1 đến 0.5% tại các nước nhập khẩu dầu, tùy thuộc vào tỉ trọng giá trị nhập khẩu
dầu so với GDP. Tại các nước xuất khẩu dầu, bên cạnh nguy cơ gây thâm hụt ngân
sách do một phần lớn trong nguồn thu của chính phủ các nước này xuất phát từ hoạt
động xuất khẩu dầu, việc giá dầu giảm trong thời gian dài có thể gây thâm hụt cán
cân vãng lai và làm mất giá tiền tệ của quốc gia.Một báo cáo mới đây về tình hình
kinh tế thế giới năm 2014 của IMF đãcho thấy các nước xuất khẩu dầu thuộc
khốiMENAP và CCA đã chịu thiệt hại về ngân sách khi giá dầu trải qua những lần
xuống giá liên tiếp trong năm 2014 và buộc phải thi hành những chính sách cắt
giảm chi tiêu để ứng phó với thâm hụt ngân sách.Tuy nhiên lợi ích của các nước
nhập khẩu dầu khi giá dầu giảm cũng có thể bị giảm đi đáng kể do phải bù trừ nhiều
chi phí khác, ví dụ như sự sụt giảm giá của những mặt hàng xuất khẩu của chính
những nước này, nhu cầu tiêu thụ của người dân các nước xuất khẩu dầu giảm đi,
v.v…
Về mối liên hệ giữa giá dầu giảm và lạm phát, De Gregorio, Landerretche và
Nielson (2007) đã rút ra kết luận rằng khi giá dầu giảm 10% chỉ giúp lạm phát giảm
khoảng 0,2%. Như vậy, ảnh hưởng của việc giá dầu giảm lên lạm phát là tương đối
nhỏ. Theo tính toán của World Bank, lạm phát của nền kinh tế toàn cầu có thể giảm
từ 0,4 đến 0,9% trong năm 2015 nếu giá dầu giảm 30%. Tuy nhiên, mức độ ảnh
hưởng của giá dầu giảm lên lạm phát trong nội bộ từng quốc gia còn phụ thuộc vào
những đặc điểm riêng của nền kinh tế nước đó như trọng số của các sản phẩm liên
quan đến dầu trong giỏ hàng hóa tính CPI, ảnh hưởng của giá dầu đến tiền lương và

các chi phí khác, tỉ giá hối đoái, độ mềm dẻo của chính sách tiền tệ và cơ chế đánh
thuế và/hoặc trợ cấp dành cho các sản phẩm liên quan đến dầu. Baffes (2015) cũng
nhận định rằng tác động của việc giảm giá dầu đến lạm phát giá tiêu dùng của một
nước phụ thuộc vào cơ cấu tiêu dùng năng lượng của người dân, chính sách điều
hành giá và chính sách tỉ giá hối đoái. Đối với những quốc gia nhập khẩu một lượng
lớn dầu, việc đồng tiền của quốc gia đó tăng giá sẽ làm nhấn mạnh thêm hiệu quả
làm giảm phát của giá dầu giảm và ngược lại.


×