Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Bài tập nhóm 1 TM2 công ty hồng hà chuyên kinh doanh mặt hàng điện tử tháng 6 năm 2013, công ty hồng hà ký hợp đồng giao đại lý số 18hđđl cho công ty

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (155.23 KB, 12 trang )

ĐỀ BÀI SỐ 04:
Công ty Hồng Hà chuyên kinh doanh mặt hàng điện tử. Tháng 6 năm
2013, Công ty Hồng Hà ký hợp đồng giao đại lý số 18/HĐĐL cho Công ty
Sơn Tùng với một số điều khoản sau:
- Công ty Sơn Tùng chịu trách nhiệm bán toàn bộ 10.000 tivi nhãn
hiệu FTV cho công ty Hồng Hà với giá giao đại lý là 2.200.000 VNĐ/1
chiếc.
- Công ty Sơn Tùng phải thanh toán 90% tiền hàng tại thời điểm nhận
hàng. Công ty Sơn Tùng chốt giá bán sản phẩm trên thị trường;
- Công ty Hồng Hà chỉ giao đại lý trên địa bàn Hà Giang đối với mặt
hàng tivi FTV cho công ty Sơn Tùng;
- Để thực hiện hoạt động bán hàng, cơng ty Hồng Hà tiến hành chương
trình khuyến mại bốc thăm trúng thưởng trên địa bàn các tỉnh phía Bắc trong
đó có Hà Giang với tổng giá trị giải thưởng 10 tỷ đồng;
Câu hỏi:
Xác định các hình thức đại lý theo hợp đồng số 18/HĐĐL.
Công ty Hồng Hà có thỏa thuận, quyền sở hữu của hàng hóa được
chuyển cho công ty Sơn Tùng khi công ty Sơn Tùng nhận được hàng
hóa. Nhận xét về thỏa thuận trên.
• Sau khi bán được 5.000 tivi, do mưa bão, kho của cơng ty Sơn Tùng bị
ngập, tồn bộ số hàng 5.000 tivi cịn lại bị hỏng hồn tồn. Xác định
trách nhiệm của các bên trong trường hợp này.
• Để thực hiện chương trình khuyến mại, cơng ty Hồng Hà cần làm
những thủ tục như thế nào. Xử lý trong trường hợp, sau khi kết thúc
chương trình khuyến mại, số lượng giải thưởng có người bốc thăm
trúng là 2 tỷ đồng



ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực tế đã chứng minh dịch vụ trung gian thương mại đã mang lại




hiệu quả rất lớn cho các chủ thể kinh và toàn bộ nền kinh tế. Trong bốn hoạt
động trung gian thương mại, đại diện thương mại, môi giới thương mại, ủy
thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại thì hoạt động đại lý dường như
gần gũi hơn với mọi người trong xã hội. Đại lý thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý
nhân danh chính mình mua, bán hàng hố cho bên giao đại lý hoặc cung ứng
dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Điều 166 Luật
Thương mại năm 2005). Tình huống sau đây sẽ làm rõ những vấn đề pháp lý
xung quanh hoạt động đại lý thương mại:

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ


Hình thức đại lý theo hợp đồng số 18/HĐĐL được giao kết giữa
công ty Hồng Hà và cơng ty Sơn Tùng tháng 6/2013:

Hình thức đại lý: đại lý độc quyền và hưởng thù lao theo phương thức
chênh lệch giá.
Khoản 2 Điều 169 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Đại lý độc
quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý
chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng
một hoặc một số loại dịch vụ nhất định”. Trong hợp đồng số 18/HĐĐL giữa
công ty Hồng Hà và công ty Sơn Tùng có nội dung “Cơng ty Hồng Hà chỉ
giao đại lý trên địa bàn Hà Giang đối với mặt hàng tivi FTV cho công ty Sơn
Tùng” tức là tại khu vực địa lý rõ ràng là địa bàn tỉnh Hà Giang, bên giao đại
lý (công ty Hồng Hà) chỉ giao cho một đại lý (công ty Sơn Tùng) bán một
loại hàng nhất định là mặt hàng tivi FTV. Áp dụng quy định trên, có thể nhận
thấy hình thức đại lý được kí kết là đại lý độc quyền.

Hợp đồng số 18/HĐĐL có một số điều khoản như sau: “Cơng ty Sơn
Tùng chịu trách nhiệm bán toàn bộ 10.000 tivi nhãn hiệu FTV cho công ty
Hồng Hà với giá giao đại lý là 2.200.000 VNĐ/1 chiếc” và “công ty Sơn
Tùng phải thanh toán 90% tiền hàng tại thời điểm nhận hàng. Công ty Sơn
Tùng chốt giá bán sản phẩm trên thị trường.” Bên giao đại lý không ấn định
giá mua, giá bán hàng hóa trên thị trường mà chỉ ấn định giá giao đại lý loại
hàng hóa cho bên đại lý (giá giao đại lý là 2.200.000 VNĐ/chiếc) còn việc


lựa chọn giá bán hàng hóa cho khách hàng là do bên đại lý thực hiện. Đối
chiếu với khoản 3 Điều 171, đây là việc hưởng thù lao theo hình thức chênh
lệch giá.
*Quy định của pháp luật về hình thức đại lý độc quyền:
Tại Điều 169 Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận các hình thức đại
lý: đại lý bao tiêu, tổng đại lý, đại lý độc quyền và một số hình thức khác. Về
đại lý độc quyền, theo quy định này có thể hiểu là đại lý giao độc quyền. Bên
giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số loại hàng hoặc
cung ứng dịch vụ nhất định trên một khu vực địa lý. Ngược lại vấn đề, vậy
bên đại lý có nhất thiết chỉ được nhận mua, bán, cung ứng dịch vụ với một
hoặc một số loại hàng nhất định không? Điều này pháp luật không quy định
cụ thể, như vậy sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên.



Nhận xét về thỏa thuận “quyền sở hữu hàng hóa được chuyển cho
cơng ty Sơn Tùng khi công ty Sơn Tùng nhận được hàng hóa” của
cơng ty Hồng Hà:

- Có thể khẳng định thỏa thuận của công ty Hồng Hà và công ty Sơn
Tùng rằng: quyền sở hữu hàng hóa được chuyển cho cơng ty Sơn Tùng khi

công ty Sơn Tùng nhận được hàng hóa là khơng phù hợp với quy định của
pháp luật.
-Căn cứ pháp lí là Điều 170 Luật Thương mại năm 2005. Theo quy
định tại Điều 170 Luật Thương mại 2005 về “Quyền sở hữu trong đại lí
thương mại” thì: “Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền
giao cho bên đại lý”. Có thể hiểu như sau:
+,Theo quy định tại Điều 170 Luật Thương mại thì bên giao đại lý
ln là chủ sở hữu đối với hàng hóa khi hàng hóa chưa bán. Khi thực hiện
hoạt động đại lí, bên đại lí khơng phải là người mua hàng của bên giao đại lí
mà chỉ là người nhận hàng rồi tiếp tục bán cho bên thứ ba. Chỉ khi hàng hóa
được bán thì quyền sở hữu mới chuyển từ bên giao đại lí sang bên thứ ba.
+, Đây đặc trưng cơ bản của quan hệ hợp đồng đại lý mua bán hàng
hóa. Có nghĩa là bên giao đại lý chỉ giao hàng cho bên đại lý mà không


chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý. Khi bên đại lý giao kết, thực
hiện hợp đồng với khách hàng thì quyền sở hữu sẽ được chuyển giao trực
tiếp từ bên giao đại lý sang cho khách hàng. Bên đại lý chỉ có vai trị của một
người làm dịch vụ trung gian nối liền sự liên kết của bên giao đại lý với
khách hàng.
+, Áp dụng quy định của pháp luật dân sự Điều 164 Bộ luật dân sự
quy định: “ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. Theo
định đó bên giao đại lý với tư cách là chủ sở hữu hàng hóa chỉ có thể trao
quyền chiếm hữu cho bên đại lý, tức là bên đại lý chỉ có quyền nắm giữ là
quản lý hàng hóa.
Như vậy, xét theo quy định của luật thương mại 2005 thì cơng ty
Hồng Hà thỏa thuận rằng quyền sở hữu hàng hóa được chuyển cho công ty
Sơn Tùng sau khi nhận được hàng hóa là khơng phù hợp với quy định của
pháp luật. Quyền sở hữu đối với hàng hóa là tivi của Công ty Hồng Hà chỉ

được xác nhận là chuyển giao quyền sở hữu khi bên đại lí là Cơng ty Sơn
Tùng bán lại cho khách hàng. Nghĩa là trong khoảng thời gian từ khi nhận
hàng cho đến khi bán được hàng thì cơng ty Sơn Tùng cũng khơng có quyền
sở hữu đối với số hàng hóa đó.
- Quy định tại Điều 170 Luật Thương mại năm 2005 là một cơ sở pháp
lí quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lí đối với các chủ thể, hay nói
cách khác là trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hóa khi có thiệt hại xảy ra.
*Về quy định tại Điều 170 Luật Thương mại năm 2005:
Có nhiều ý kiến trái chiều về quy định tại Điều 170:
+, Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng Điều 170 cịn nhiều thiếu sót,
chưa được chặt chẽ và cụ thể, có phần trái với quy định của Bộ luật dân sự
2005 và có chỉ ra ví dụ một nhà sản xuất sản phẩm cho đại lý đã nhận tiền
hàng đầy đủ mà quyền sở hữu lại thuộc về bên nhà sản xuất sản phẩm.
Không có đại lý nào bỏ tiền ra mua hàng, đã giao tiền mà hàng hóa đó vẫn là
của bên bán. Ngược lại, cũng khơng có bên bán nào đã nhận tiền bán hàng,
giao hàng, mà vẫn cứ phải lãnh nhận trách nhiệm là chủ của món hàng mà
mình đã bán. Vì vậy, nên quy định rằng: nếu các bên khơng có thỏa thuận thì


bên đại lí sẽ trở thành chủ sở hữu hàng hóa khi nhận được hàng hóa từ bên
giao đại lí; nhóm quan điểm thứ hai cho rằng quy định tại Điều 170 là phù
hợp với thực tế của hoạt động thương mại, khơng cần phải sửa đổi.
+, Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng Điều 170 quy định như vậy là
hợp lí, khơng cần phải sửa đổi.
Nếu theo quan điểm thứ nhất sẽ có 2 thuận lợi sau: thứ nhất thể hiện
được sự tôn trọng của pháp luật trong vấn đề tự do thỏa thuận giữa các chủ
thể trong hoạt động thương mại; thứ hai sẽ xác định rõ ràng hơn rủi ro đối
với hàng hóa khi có thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, nếu quy định như vậy sẽ làm
mất đi tính chất của hoạt động đại lí thương mại mà nó có thể chuyển thành
hoạt động thương mại mua bn, bán lẻ. Khi đó, hợp đồng đại lí sẽ chuyển

thành hợp đồng mua bán hàng hóa thuần túy.
Mặt khác, quy định về việc không chuyển quyền sở hữu cho bên đại lý
khi giao hàng nhằm bảo đảm sự ràng buộc lẫn nhau giữa bên giao đại lý và
bên giao đại lý, về tính liên đới chịu trách nhiệm pháp lý khi có những tranh
chấp, rủi ro nảy sinh. Nếu chuyển quyền sở hữu sang cho bên đại lý, bên
giao đại lý khơng cịn bất cứ một nghĩa vụ nào đối với sản phẩm của mình,
cũng đồng nghĩa với việc rủi ro hoàn toàn thuộc về bên đại lý, như vậy
dường như thiếu sự công bằng về nghĩa vụ các bên phải gánh chịu nếu có.



Trách nhiệm của các bên trong trường hợp “sau khi bán được 5.000
tivi, do mưa bão, kho của công ty Sơn Tùng bị ngập, tồn bộ số hàng
5.000 tivi cịn lại bị hỏng hồn tồn”:

Như đã trình bày ở phần trên, khi chuyển giao hàng hóa, bên giao đại
lý khơng chuyển giao quyền sở hữu cho bên đại lý. Chủ sở hữu của hàng hóa
thường cũng là chủ thể chịu rủi ro về tài sản của mình. Song, chủ sở hữu lại
khơng phải là chủ thể đang nắm giữ hàng hóa, vậy trách nhiệm gánh chịu rủi
ro sẽ thuộc về bên nào? Quy định của pháp luật về đại lý trong hoạt động
trung gian thương mại không ghi nhận cụ thể về vấn đề gánh chịu trách
nhiệm khi có rủi ro xảy ra nên để giải quyết trường hợp này, pháp luật cho
phép các bên tự do thỏa thuận vì vậy,trước hết cần xem xét thỏa thuận của
các bên, bên giao đại lý và bên đại lý. Tuy nhiên, trong tình huống này, các


bên khơng có thỏa thuận trước, ta sẽ xem xét trách nhiệm của mỗi bên theo
nguyên tắc chung của pháp luật, đó là vấn đề lỗi. Các trường hợp có thể xảy
ra sau đây:
Trường hợp 1: Hai bên giao đại lí và bên đại lí có thỏa thuận về

việc bảo quản hàng hóa và bên giao đại lý đưa ra những tiêu chuẩn về vấn
đề bảo quản này mà bên đại lý có lỗi trong nghĩa vụ bảo quản.
Theo quy định tại khoản 5 điều 175 Bộ Luật Thương Mại 2005 về
nghĩa vụ của bên đại lí: “Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý
bán hoặc trước khi giao đối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về
chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của
đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi do mình gây ra”. Như vậy,
Cơng ty Sơn Tùng có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa sau khi nhận; liên đới
chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa trong
trường hợp có lỗi do mình gây ra. Để bảo quản tốt số lượng hàng hóa cơng
ty Sơn Tùng cần chủ động trong việc kho, bãi, các điều kiện tối cần thiết
khác phù hợp với từng loại mặt hàng hóa được giao để bán. Chẳng hạn
cơng ty Hồng Hà yêu cầu công ty Sơn Tùng phải để ti vi ở trong kho có vị
trí khơ ráo, trên tầng cao, tránh tiếp xúc với ánh sáng trực tiếp…Tức là phía
đại lý phải dự liệu được những tình huống có thể phát sinh gây thiệt hại,
giảm sút hoặc làm mất chất lượng của hàng hóa. Do đó, khi mưa bão xảy
ra, kho bị ngập làm toàn bộ số tivi cịn lại bị hỏng hồn tồn là do có lỗi của
bên công ty Sơn Tùng, bên đại lý trong việc bảo quản hàng hóa, khơng tn
thủ những chỉ dẫn bảo quản của cơng ty Hồng Hà.Nếu điều kiện kho bãi
khơng được bảo đảm như yêu cầu của bên giao đại lý thì khi có bất kỳ vấn
đề nào xảy ra trong q trình bảo quản đối với hàng hóa được nhận thì bên
cơng ty Sơn Tùng sẽ phải chịu trách nhiệm.
Trong trường hợp này, lỗi thuộc về bên nắm giữ hàng hóa nên bên
đại lý là cơng ty Sơn Tùng sẽ phải chịu toàn bộ thiệt hại về số lượng
5000 chiếc tivi bị hỏng này.
Trường hợp 2: Bên đại lý đã tuân thủ chặt chẽ các điều kiện về
bảo quản hàng hóa và khơng có lỗi trong việc bảo quản.
Trong tình huống trên, thời tiết mưa bão làm cho kho của công ty



Sơn Tùng bị ngập, khiến toàn bộ số hàng 5.000 tivi cịn lại bị hỏng hồn
tồn. Xác định rằng phía đại lý là cơng ty Sơn Tùng đã hồn tồn thực hiện
nghĩa vụ bảo quản hàng hóa một cách tốt nhất và rủi ro xảy ra là do yếu tố
khách quan, khơng dự liệu được . Đây là có thể coi là trường hợp bất khả
kháng. Khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Sự kiện bất
khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước
được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép”.
Sự cố này vẫn hay xảy ra trong thực tế và được gọi là rủi ro trong
kinh doanh, ở đây khơng có lỗi của bất kì chủ thể nào. Bộ luật dân sự năm
2005 và Luật Thương mại năm 2005 đều coi sự kiện bất khả kháng là một
căn cứ để miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng vì các bên khơng có lỗi.
Trong kinh doanh, nếu bán được hàng thì bên giao đại lí và bên đại lí cùng
có lợi, tuy nhiên vì do yếu tố khách quan mà khơng bán được hàng thì cả
hai bên phải cùng nhau chia rủi ro. Vậy trong tình huống trên công ty Hồng
Hà và công ty Sơn Tùng đều phải liên đới chịu trách nhiệm về toàn bộ
số tivi cịn lại bị hỏng.
Giả sử cơng ty Hồng Hà đưa ra quan điểm rằng vì hàng hóa đã được
chuyển giao nên rủi ro phải do bên đang nắm giữ, bảo quản phải gánh chịu
mà không chịu trách nhiệm liên đới thì vụ việc sẽ giải quyết như thế nào?
Do pháp luật không quy định cụ thể nên việc giải quyết sẽ dựa trên thỏa
thuận các bên. Nếu một bên khơng chấp nhận thỏa thuận thì xử lý việc chủ
thể chịu trách nhiệm rủi ro sẽ tương đối phức tạp, tốn thời gian khi phải áp
dụng giải quyết tại các cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy, nhằm tránh những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra, bên giao
đại lý có quyền yêu cầu bên đại lý thực hiện một hoặc nhiều biện pháp bảo
đảm để có sự tin tưởng khi thực hiện giao hàng hóa của mình cho bên đại lí,
quy định rõ trách nhiệm chịu rủi ro nếu có. Trước khi giao kết hợp đồng
cơng ty Hồng Hà có quyền u cầu cơng ty Sơn Tùng phải thực hiện một
biện pháp bảo đảm nhất định và khi công ty Sơn Tùng đồng ý với u cầu

đó thì cơng ty Hồng Hà hồn tồn có quyền u cầu cơng ty Sơn Tùng phải
thực hiện nó đúng theo quy định. Việc thực hiện các biện pháp bảo đảm góp
phần tiến hành đẩy nhanh quan hệ đại lý giữa hai công ty trên và tạo độ an
toàn hơn đối với các bên trong quan hệ đại lý này, tránh những sự cố đáng


tiếc có thể xảy ra.
Nhận xét:
Việc pháp luật tơn trọng, cho phép các bên tự do thỏa thuận về vấn đề
chịu rủi ro đối với hàng hóa giữa bên giao đại lý và bên đại lý nếu xảy ra là
cần thiết, đúng đắn. Song, trong trường hợp các bên không thỏa thuận trước
mà phát sinh rủi ro thì để đặt trách nhiệm cho phía bên nào là một câu
chuyện phức tạp. Nếu có tranh chấp xảy ra, theo nguyên tắc chung của pháp
luật bên có lỗi phải chịu hậu quả cho hành vi của mình mang lại, tức là rủi ro
xảy ra xuất phát từ lỗi của một bên. Tuy nhiên, lỗi là trạng thái tâm lý bên
trong của con người, rất khó khăn trong việc xác định yếu tố này. Trường
hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn thuộc về yếu tố khách quan, bên giao đại lý và
bên đại lý cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm, chia sẻ rủi ro kinh doanh.
Việc chia sẻ này lại phụ thuộc vào sự thiện chí, tự nguyện của các bên. Mục
đích của hoạt động trung gian thương mại như đại lý nói riêng và hoạt động
thương mại nói chung là nhằm mục đích sinh lời, tìm kiếm lợi nhuận, để các
thương nhân tự nguyện, tự giác nhận lấy thiệt hại, làm giảm sút lợi nhuận
dường như không hề dễ dàng.
Từ lý do trên, pháp luật dù tôn trọng thỏa thuận song cũng cần có
những quy định cụ thể cho vấn đề trách nhiệm phát sinh nếu rủi ro xảy ra
giữa bên giao đại lý và bên đại lý của hoạt động trung gian thương mại, tạo
một hành lang pháp lý vững chắc để việc áp dụng được thuận lợi.




Vấn đề thực hiện chương trình khuyến mại của cơng ty Hồng Hà:

Khuyến mại là một hoạt động xúc tiến thương mại, thực hiện dành cho
khách hàng những lợi ích nhất định.Vì cơng ty Hồng Hà tổ chức chương
trình khuyến mại dưới hình thức bốc thăm trúng thưởng nên theo quy định
tại khoản 6 Điều 92 Luật Thương mại 2005 thì đây là hình thức khuyến mại
mang tính may rủi.
Để thực hiện chương trình khuyến mại này thì thương nhân phải tiến
hành đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại tại cơ quan có thẩm quyền.
Trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may
rủi được quy định tại Điều 16 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP về Quy định chi


tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại và Thông tư liên tịch
số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06/07/2007 của Bộ Thương mại – Bộ Tài
chính Hướng dẫn thực hiện một số điều về khuyến mại và hội chợ, triển lãm
thương mại qui định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2007của
Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương
mại có hiệu lực từ ngày 30/08/2007.
Theo quy định trên thì cơng ty Hồng Hà phải tiến hành đăng ký thực
hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi theo thủ tục như sau:
Bước 1, cơng ty Hồng Hà tiến hành chương trình khuyến mại trên địa
bàn tỉnh Hà Giang và các tỉnh phía Bắc nên theo điểm b Khoản 1 Điều 16
của Nghị định về thẩm quyền cơ quan đăng ký :
a) Sở Thương mại đối với chương trình khuyến mại thực hiện trên địa
bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
b) Bộ Thương mại đối với chương trình khuyến mại thực hiện trên địa
bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.”.
Như vậy cơng ty Hồng Hà phải đăng ký chương trình khuyến mại tại
Bộ thương mại.

Bước 2, cơng ty Hồng Hà phải lập hồ sơ đăng ký chương trình
khuyến mại. Hồ sơ đăng ký bao gồm:
- Văn bản đề nghị thực hiện chương trình khuyến mại theo mẫu của Bộ
Thương mại. Nội dung đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, bao
gồm: tên chương trình khuyến mại; địa bàn khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ
được khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; thời gian khuyến
mại; khách hàng của chương trình khuyến mại;( theo mẫu KM -2 Phụ lục
kèm theo);
- Thể lệ chương trình khuyến mại; (theo mẫu KM-3 Phụ lục kèm theo)
- Mẫu vé số dự thưởng đối với chương trình khuyến mại có phát hành
vé số dự thưởng;
- Hình ảnh hàng hóa khuyến mại và hàng hóa dùng để khuyến mại;


- Mẫu bằng chứng trúng thưởng (nếu có);
- Bản sao giấy xác nhận về chất lượng của hàng hóa khuyến mại, hàng
hóa dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật (nếu có).
Bước 3, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày Bộ Thương mại
nhận được hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại hợp lệ, Bộ
Thương mại sẽ xem xét, xác nhận bằng văn bản việc đăng ký thực hiện
chương trình khuyến mại của cơng ty Hồng Hà có hợp lệ hay khơng (theo
khoản 3 Điều 16 của Nghị định).
Sau khi cơng ty Hồng Hà nhận được văn bản xác nhận việc thực hiện
chương trình khuyến mại thì cơng ty Hồng Hà có trách nhiệm gửi văn bản
thông báo cho Sở Thương mại tỉnh Hà Giang và các tỉnh khác nơi thực hiện
chương trình khuyến mại kèm theo bản sao văn bản xác nhận của Bộ Thương
mại trước khi thực hiện chương trình khuyến mại.
Cơng ty Hồng Hà thực hiện thơng báo cơng khai các nội dung, thông
tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng. Tại nơi bán hàng, nơi cung ứng
dịch vụ, trên bao bì sản phẩm hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác nhưng

phải đính kèm theo hàng hóa được bán…cơng ty Hồng Hà phải cơng khai
hóa các vấn đề liên quan đến hoạt động khuyến mại, thông báo công khai các
thông tin như: tên hoạt động khuyến mại, tên, địa chỉ, số điện thoại của công
ty; thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động
khuyến mại…
Bước 4, kể từ ngày hết thời hạn trao giải thưởng của chương trình
khuyến mại, trong thời hạn 45 ngày cơng ty Hồng Hà phải thực hiện việc
thơng báo kết quả đợt khuyến mại tới Bộ Thương mại bằng văn bản.(kèm
theo mẫu KM – phụ lục kèm theo)
Áp dụng xử lý trong trường hợp, sau khi kết thúc chương trình
khuyến mại, số lượng giải thưởng có người bốc thăm trúng là 2 tỷ đồng:
Khoản 4 Điều 96 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Đối với một
số hình thức khuyến mại quy định tại khoản 6 Điều 92 của Luật này, thương
nhân phải 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong
trường hợp khơng có người trúng thưởng”. Khoản 5 Điều 12 và theo khoản


11 mục II thông tư số Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày
06/07/2007 của Bộ Thương mại – Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện một số
điều về khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại qui định tại Nghị định
số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2007của Chính phủ quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại thì kể từ 30 ngày kể từ ngày
hết hạn trao giải thưởng giải thưởng khơng có người trúng thưởng của
chương trình khuyến mại may rủi phải được trích nộp 50% giá trị giải
thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước. Như vậy xử lý trong trường hợp
cơng ty Hồng Hà có người trúng giải với giá trị là 2 tỷ đồng, thì trong
trường hợp này giá trị giải thưởng khơng có người trúng trưởng trong
chương trình khuyến mại là 8 tỷ đồng, phải nên cơng ty Hồng Hà phải nộp
4 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định thu nộp của

cơ quan quản lý nhà nước
Cơng ty Hồng Hà có trách nhiệm thơng báo cơng khai kết quả trúng
thưởng trên ít nhất một phương tiện thơng tin đại chúng tại tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương nơi tổ chức chương trình khuyến mại và tại các địa
điểm bán hàng thuộc chương trình khuyến mại.

KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Giao dịch trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao
dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mau và người bán hàng
hóa (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các
điều kiện giao dịch phải thông qua một người trung gian. Hoạt động đại lý
thương mại là một trong những dịch vụ trung gian thương mại, có ý nghĩa to
lớn đối với thương nhân và toàn nền kinh tế.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Luật Thương mại năm 2005



Bộ luật dân sự năm 2005




Giáo trình Luật Thương mại 2, Trường Đại học Luật Hà Nội




Hỏi- đáp Luật thương mại, NXb Chính trị - hành chính



Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2007của Chính phủ quy định
chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại



Thơng tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06/07/2007 của
Bộ Thương mại – Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện một số điều về
khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại qui định tại Nghị định số
37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2007của Chính phủ quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại



Moj.gov.vn



×