Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Nữ hóa tuyến vú

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (224.64 KB, 6 trang )

NỮ HÓA TUYẾN VÚ: NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Phạm Nam Việt - Nguyễn Hoàng Đức - Từ Thành Trí Dũng
*




TÓM TẮT
Nữ hóa tuyến vú (gynecomastia, gynaecomastia) là sự tăng sản quá mức không do khối u của mô tuyến vú
ở nam giới. Đa số nữ hóa tuyến vú (NHTV) là sinh lý và thường tự hết trong vòng 1-2 năm. Một số trường
hợp NHTV bệnh lý hoặc NHTV triệu chứng cần được chẩn đoán và điều trị. Điều trị bao gồm điều trị
nguyên nhân và điều trị chuyên biệt cho phần mô tuyến vú bị nữ hóa khi NHTV gây đau nhiều, gây mặc
cảm tâm lý và trở ngại trong sinh hoạt.
GYNECOMASTIA
Gynecomastia, a benign enlargement of the male breast due to

proliferation of the glandular component, is
a common clinical

condition. Most patients with gynecomastia require no therapy other than

the removal
of any identified inciting cause. Specific treatment

of the enlarged breast tissue is indicated if the
gynecomastia

causes sufficient pain, embarrassment, or emotional discomfort

to interfere with the
patient's daily life. The two treatment



options available are medical therapy and surgical removal. This
topic reviews on the prevalence, pathogenesis, and treatment of the condition.

MỞ ĐẦU
Nữ hóa tuyến vú (gynecomastia, gynaecomastia) là sự
tăng sản quá mức không do khối u của mô tuyến vú ở
nam giới. Nữ hóa tuyến vú (NHTV) là một bệnh hay
gặp (hình 1), thường to hai bên (to đều hoặc không
đều), hoặc chỉ to một bên
[1]
.
Cần phân biệt NHTV với những trường hợp NHTV
giả (pseudogynecomastia) do đọng mỡ ở vùng vú, do
viêm, u lành hoặc ung thư tuyến vú
[1,2,3]
. Ở nam giới,
NHTV thường gặp hơn so với ung thư vú. Không có
mối liên hệ giữa hai loại bệnh này
[1,2]
.
Hình 1. Nữ hóa tuyến vú.
Đa số NHTV là sinh lý và thường tự hết trong vòng 1-2 năm. Một số trường hợp NHTV
bệnh lý hoặc NHTV triệu chứng cần được chẩn đoán và điều trị
[1,4,5,6]
.
GIẢI PHẪU BỆNH


*

Đơn vị Nam học, BV ĐH Y Dược TP.HCM.
Mô vú ở nam được cấu tạo bởi 1-2 ống dẫn sữa, ít chia nhánh và không có túi tuyến. Các
ống dẫn được cấu tạo bởi hai lớp liên bào trụ và bao bọc bởi mô liên kết lỏng lẻo
[1,2]
.
Trong NHTV, sự tăng sản tuyến vú là do
[1,2]
:
• Sự quá phát của ống dẫn sữa: tăng về số lượng, kích thước và độ dài. Có
thể có chất chế tiết từ ống dẫn.
• Sự quá phát của mô đệm: hay gặp, là nguyên nhân chủ yếu làm tăng khối
lượng vú. Các mạch máu tăng, nguyên bào sợi tăng, lắng đọng chất keo,
tăng thoái hóa trong.
Nếu NHTV kéo dài trên một năm, mô đệm dày hơn, thoái hóa trong nhiều hơn tạo thành
thể xơ. Lúc này vú khó có thể trở lại cấu trúc bình thường
[1,2,3,4,6]
.
SINH LÝ BỆNH
Nhiều hormon tác động đến sự phát triển của mô tuyến vú. NHTV xuất hiện do sự gia
tăng tỉ lệ estrogen/androgen; hoặc do tăng nồng độ (hay tác dụng) của estrogen hoặc do
giảm androgen. Cũng có thể do tăng nhạy cảm của mô tuyến vú với estrogen hoặc giảm
cảm thụ với androgen tại mô đích. Nguyên nhân thường gặp nhất là thay đổi không cân
bằng của cả hai loại estrogen và androgen
[1,2,4,6,7]
.
TẦN SUẤT
NHTV chiếm 65% bệnh lý của vú ở nam
[2]
.
NHTV gặp nhiều ở ba độ tuổi: trẻ sơ sinh, tuổi dậy thì và lớn tuổi

[1]
:
• Khoảng 60-90% trẻ sơ sinh bị NHTV thoáng qua do estrogen từ người mẹ qua
nhau thai.
• Ở tuổi dậy thì, gần 75% trẻ nam bị NHTV thoáng qua và tự khỏi trong vòng 18
tháng. NHTV ít gặp sau 17 tuổi. Một số ít trường hợp NHTV có tăng khối lượng
vú đáng kể, gây ra các rối loạn tâm lý.
• Từ 50-80 tuổi.
Theo nhiều thống kê, tỉ lệ theo nguyên nhân NHTV thường gặp là
[1]
:
• Vô căn: 25%
• Sau dậy thì: 25%
• Do thuốc: 10-20%
• Xơ gan hoặc suy dinh dưỡng: 8%
• Suy tuyến sinh dục nguyên phát: 8%
• Bướu tinh hoàn: 3%
• Suy tuyến sinh dục thứ phát: 2%
• Cường giáp: 1,5%
• Suy thận mạn: 1%
NGUYÊN NHÂN
NHTV có thể sinh lý hoặc bệnh lý:
1. NHTV sinh lý: gặp ở trẻ nam sơ sinh, tuổi dậy thì và lớn tuổi.
2. NHTV bệnh lý
[1,2,4,6,7,8]
:
• Vô căn
• Những bệnh làm giảm sản xuất và hoặc giảm hoạt tính của
androgen:
- Hội chứng Klinefelter

- Không tinh hoàn bẩm sinh
- Chấn thương tinh hoàn
- Xoắn tinh hoàn
- Viêm tinh hoàn do virus
- Hội chứng Kallmann
- U tuyến yên
- Suy thận
- Cường giáp
- Suy dinh dưỡng
- Hội chứng không nhạy cảm androgen
- Hội chứng giảm 5 alpha-reductase
• Những bệnh làm tăng sản xuất và hoặc tăng hoạt tính của estrogen:
có thể xảy ra tại tinh hoàn hoặc ngoại biên
- Tại tinh hoàn: do u tinh hoàn hoặc do tác động của hCG (sản xuất
trong trường hợp ung thư phổi, thận, đường tiêu hóa và u tế bào
mầm ngoài cơ quan sinh dục).
- Do biến đổi ở ngoại biên: có thể do sự tăng hoạt động của men
aromatase trong các bệnh gan mạn, suy dinh dưỡng, cường giáp,
bướu tuyến thượng thận và NHTV mang tính gia đình.
• Nhiều loại thuốc gây NHTV:
- Estrogen hoặc thuốc có hoạt tính giống estrogen như
diethylstilbestrol, digitalis, phytoestrogens, các loại thức ăn chứa
estrogen và các loại mỹ phẩm chứa estrogen.
- Những thuốc làm tăng tổng hợp estrogen như gonadotropin,
phenytoin và testosteron ngoại sinh.
- Những thuốc ức chế tổng hợp hoặc làm giảm hoạt tính của
testosteron như ketoconazole, metronidazole, cisplatin,
spironolactone, cimetidine, flutamide, finasteride và etomidate.
- Những thuốc tác động chưa rõ cơ chế như isonicotinic, acid
hydrazide, methyldopa, busulfan, thuốc chống trầm cảm 3 vòng,

diazepam, penicillamine, omeprazole, phenothiazines, thuốc ức
chế canxi, thuốc ức chế men chuyển, rượu, dẫn xuất morphin.
CHẨN ĐOÁN
1. Bệnh sử:
Cần hỏi bệnh sử kỹ để tìm nguyên nhân của NHTV
[1,2,4,6,7]
.
• Chú ý độ tuổi khởi phát và thời gian bị kéo dài bao lâu.
• Hỏi về sự thay đổi kích thước vú, đau ở vú, sự hiện diện dịch tiết ở
núm vú...
• Tiền căn bị quai bị, chấn thương tinh hoàn, nghiện rượu và các
thuốc đã và đang sử dụng.
• Chú ý bệnh sử gia đình bị NHTV.
• Bệnh sử rối loạn tình dục, vô sinh, suy tuyến sinh dục (rối loạn
cương, giảm ham muốn, giảm sức cơ).
2. Khám lâm sàng:
NHTV có thể ở một bên, hai bên, tuyến vú to đều hay không đều
• Khám hai vú, đánh giá kích thước và độ chắc của tuyến vú, xác định tình
trạng tiết dịch ở núm vú, hạch ở nách.
• Khám phân biệt với NHTV giả:
bệnh nhân nằm ngữa, dùng ngón cái
và ngón trỏ kẹp mô tuyến vú di
chuyển nhẹ nhàng về phía núm vú.
Nếu có NHTV thật sự: sẽ có một
khối mô chắc, di động, đồng tâm,
nằm giữa núm vú và mô bên dưới
(hình 2).

Hình 2. Khám xác định NHTV
• Khám hai tinh hoàn, chú ý kích thước và độ chắc, phát hiện u tinh hoàn,

tinh hoàn ẩn.
• Chú ý những dấu hiệu nữ hóa.
• Tìm các dấu hiệu của bệnh gan mạn, bệnh tuyến giáp, bệnh thận.
3. Cận lâm sàng:
• Nếu chẩn đoán NHTV sinh lý: không cần làm thêm xét nghiệm cận lâm
sàng. Theo dõi mỗi 6 tháng
[6]
.
• Trong các trưòng hợp sau
[1,4,6]
:
- Mô vú lớn hơn 4 cm.
- Đau, NHTV mới khởi phát, NHTV đang tiến triển hoặc không rõ
thời gian bị NHTV.
- Có dấu hiệu của bệnh ác tính.
Phải làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng để tìm nguyên nhân
- Định lượng testosteron, estradiol, FSH, LH, Prolactin, hCG huyết
tương
[1,4]
.
- Xét nghiệm chức năng gan, thận.
- TSH và thyroxin tự do (nếu nghi ngờ cường giáp).
- Chụp nhũ ảnh và sinh thiết (khi nghi ngờ khối u ác tính)
- Chụp X quang phổi.
- Siêu âm tinh hoàn (khi nghi ngờ u tinh hoàn hoặc suy tuyến sinh
dục).
ĐIỀU TRỊ
A. Điều trị nguyên nhân

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×