Lời mở đầu
Mục Lục
I.Những vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế.................................3
1. Khái niệm..................................................................................................................3
2. Chủ thể......................................................................................................................5
3. Đối tượng................................................................................................................10
4. Hình thức................................................................................................................10
5. Chọn luật áp dụng...................................................................................................12
6. Về đồng tiền thanh toán:.........................................................................................17
7. Giải quyết tranh chấp..............................................................................................17
8. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại quốc tế.......................................19
II. Một số tình huống tranh chấp phổ biến trong quan hệ MBHH với thương nhân nước
ngoài và thực tiễn giải quyết..........................................................................................19
1. Tình huống 1: Thanh toán quốc tế..........................................................................19
2. Tình huống : Tranh chấp vấn đề trọng tài và luật xét xử.......................................28
Tài liệu tham khảo
Lời mở đầu
Tự do thương mại là xu thế tất yếu và ngày càng có sự tác động lớn đền hoạt động
của các doanh nghiệp Vệt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực ký kết và hợp đồng mua bán
hàng hóa có yếu tố nước ngoài hay còn gọi hợp đồng thương mại quốc tế. Việc hiểu
biết, nắm bắt các quy định của pháp luật quốc tế, các điều ước, tập quán quốc tế về hợp
đồng thương mại quốc tế của các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Cũng như việc quy
định trong pháp luật Việt Nam còn chưa rõ ràng khiến cho doanh nghiệp Việt Nam có
thể có những thiệt thòi trong các hợp đồng mua bán thương mại quốc tê.
Việc nâng cao sự hiểu biết về các khía cạnh pháp lý của hợp đồng thương mại quốc
tế là một việc làm cần thiết không chỉ các doanh nghiệp Việt Nam hiện tại mà nó còn
cần thiết cho các bạn trẻ. Đó chính là những doanh nhân, những luật sự tương lai của
đất nước. Những người sẽ tham gia xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế ngày một
mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn.
Vậy nên nhóm đã dành thời gian để tìm hiểu thêm về vấn đề rất nóng bỏng này. Một
là tự nâng cao tri thức cho bản thân. Hai là, thông qua bài thuyết trình trước lớp sẽ bổ
sung thêm được phần nào kiến thức cho các bạn khác. Mọi người sẽ hiểu hơn về các
vấn đề về pháp lý trong hợp đồng thương mại quốc tế như chủ thể, đối tượng, tài tệ,
hình thức, việc chọn luật điều chỉnh của hợp đồng…
Mặc dù trong một khoảng thời gian eo hẹp nhưng nhómcũng đã rất nỗ lực để tìm hiểu
về đề tài. Và nhóm biết vẫn còn nhiều điểm chưa thật sự thỏa mãn nên rất mong sự
đóng góp của các thành viên khác, để hoàn thiện hơn.
I.Những vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế
1. Khái niệm
Đối với Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến trong nhiều
văn bản với các tên gọi khác nhau như hợp đồng mua bán ngoại thương (được ghi nhận
trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/07/1991 của Bộ Thương nghiệp nay là Bộ Công Thương), hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
(ghi nhận trong Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 - sau đây gọi là LTMVN 1997),
hợp đồng xuất, nhập khẩu hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa (Luật Thương mại
Việt Nam năm 2005 - sau đây gọi là LTMVN 2005).
Trước thời điểm ban hành LTMVN 1997, khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại
thương” được ghi nhận trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn việc
ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương do Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công
Thương) ban hành ngày 31/07/1991: “hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng
mua bán có tính chất quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là
những pháp nhân có quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
được dịch chuyển từ nước này sang nước khác; thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp
đồng là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng.
Đến thời kỳ ra đời và vận hành LTMVN 1997, thì lại xuất hiện tên gọi “hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” (quy định tại Điều 80 LTMVN
1997): “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua
bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là
thương nhân nước ngoài”. Như vậy, tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài cho hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế (được gọi với cái tên “hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài”) chỉ là yếu tố quốc tịch của các bên chủ thể hợp đồng.
Theo đó, có thể thấy LTMVN 1997 đã thu hẹp nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Với cách hiểu này thì một loạt các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh LTMVN 1997 như hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế giữa các thương nhân Việt Nam với nhau nhưng việc ký kết được tiến hành
ở nước ngoài, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân nước ngoài với nhau
ở Việt Nam... Điều này không chỉ đặt ra những vấn đề khó phúc đáp về lý luận mà còn
cả sự khó khăn đối với việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn khi mà BLDSVN 1995
chưa được xác định rõ là “đạo luật gốc” hay không.
Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định trong LTMVN 2005 và
Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành
Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua,
bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Theo Điều 27 khoản 1 LTMVN
2005 thì “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”. Như vậy, chiếu
theo quy định này thì tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ là việc hàng hóa là đối tượng
của hợp đồng phải được giao qua biên giới. Với những loại hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế mà hàng hóa không có sự dịch chuyển qua biên giới thì rõ ràng sẽ không
thuộc phạm vi điều chỉnh của LTMVN 2005. Tuy nhiên, với tư duy coi BLDSVN 2005
là “đạo luật gốc” bao trùm lên cả các lĩnh vực kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia
đình, lao động thì đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa là
đối tượng của hợp đồng không được chuyển giao qua biên giới quốc gia (như hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài
nhưng hàng hóa chỉ được chuyển dịch trong nội bộ lãnh thổ Việt Nam) thì hoàn toàn có
thể áp dụng các quy định của BLDSVN 2005 đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài
nói chung để điều chỉnh.
Điều 758 - Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là
quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên
tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Căn cứ “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” tại điều 758 - Bộ luật dân sự 2005,
chúng ta có thể xác định các dấu hiệu của một quan hệ mua bán hàng hóa là “có yếu tố
nước ngoài” như sau:
-
Ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hóa là cơ quan, tổ chức, cá nhân
nước ngoài;
-
Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo pháp luật nước ngoài;
-
Hàng hóa - đối tượng mua bán ở nước ngoài.
2. Chủ thể
Đối với việc xác định năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù
rằng pháp luật các nước quy định khác nhau, nhưng điểm chung nhất đó là hợp đồng
phải được ký và thực hiện bởi người có thẩm quyền và có đầy đủ năng lực theo pháp
luật. Việc chọn hệ thống pháp luật áp dụng nhằm làm rõ năng lực pháp luật dân sự và
năng lực hành vi dân sự của chủ thể hợp đồng thường dựa vào hệ thuộc luật nhân thân
của chủ thể hợp đồng (lex personalis). Trong khi đó, đối với Việt Nam, việc giải quyết
xung đột pháp luật về năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không
được quy định chuyên biệt trong LTMVN 2005, do đó về nguyên tắc sẽ áp dụng các hệ
thuộc như đối với năng lực chủ thể của hợp đồng trong Tư pháp quốc tế nói chung (tức
là sử dụng các Điều 761, 762 và 765 BLDSVN 2005) với hệ thuộc luật chủ đạo được
sử dụng cho cá nhân là luật quốc tịch, cho pháp nhân là luật nơi thành lập pháp nhân.
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước cũng không có quy định
riêng về phương thức giải quyết xung đột pháp luật cho năng lực chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, như vậy hệ thuộc được dùng cũng sẽ giống như trong
trường hợp năng lực chủ thể của hợp đồng trong Tư pháp quốc tế nói chung: nếu chủ
thể là cá nhân thì năng lực chủ thể được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà
người đó là công dân; còn nếu chủ thể là pháp nhân thì năng lực chủ thể xác định theo
pháp luật nước ký kết nơi thành lập pháp nhân đó (đa số HĐTTTP xác định theo cách
này) hoặc nơi pháp nhân có trụ sở (một số HĐTTTP như HĐTTTP Việt Nam - Ba Lan,
HĐTTTP Việt Nam - Hungary).
Cho dù không đưa ra hệ thuộc luật trực tiếp điều chỉnh năng lực chủ thể trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định
trực tiếp về năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Thương nhân
không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm có: các doanh nghiệp Nhà nước, các
doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các hộ kinh
doanh cá thể được thành lập và đăng ký kinh doanh) được xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh, chỉ trừ các hàng hóa thuộc
Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập
khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Chi nhánh thương nhân cũng được xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân (Điều 3 Nghị định 12/2006/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động
mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng
hóa với nước ngoài).
Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước
ngoài tại Việt Nam thì khi tiến hành ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế ngoài việc phải thực hiện các quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP còn phải
tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan (ví dụ Luật Đầu tư Việt Nam
năm 2006) và các cam kết của Việt Nam trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên (ví dụ các Hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư giữa Việt Nam với các
nước). Căn cứ pháp luật hiện hành và các Điều ước quốc tế, Bộ trưởng Bộ Công
Thương sẽ công bố lộ trình và phạm vi hoạt động kinh doanh của các thương nhân này.
Cụ thể là có hai trường hợp mua bán hàng hóa quốc tế của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài:
Trường hợp thứ nhất, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực tiếp nhập
khẩu hoặc uỷ thác nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư, phụ tùng, linh
kiện, chi tiết, cụm chi tiết và các hàng hoá khác để triển khai hoạt động đầu tư phù hợp
với mục tiêu của dự án đầu tư quy định tại Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận
đầu tư; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tạm nhập các hàng hoá để thực
hiện dự án đầu tư tại Việt Nam (Bao gồm: máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển,
khuôn, mẫu để thực hiện hợp đồng gia công hoặc để phục vụ hoạt động sản xuất theo
hình thức thuê, mượn; hàng hoá để trưng bày tại các hội chợ, triển lãm, các phòng
trưng bày, giới thiệu sản phẩm hoặc để nghiên cứu sản xuất, làm mẫu cho giảng dạy,
đào tạo, huấn luyện; sản phẩm đã xuất khẩu để bảo hành, sửa chữa hoặc thay thế sau
đó tái xuất khẩu); Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có quyền trực tiếp xuất
khẩu hoặc uỷ thác xuất khẩu sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất; Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được tạm xuất, tái nhập các hàng hoá sau để thực hiện dự án
đầu tư tại Việt Nam (bao gồm: máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, dụng cụ,
khuôn mẫu, nguyên vật liệu để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp ở nước ngoài, để thực hiện hợp đồng gia công, hoặc để bảo hành, sửa chữa,
thay thế; hàng hóa để trưng bày tại hội chợ, triển lãm) (xem Điều 15 Luật Đầu tư Việt
Nam năm 2005, Điều 14 Nghị định của Chính phủ số 108/2006/NĐ-CP ngày
22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Điều
3 Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành
Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua,
bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Mục II Thông tư của Bộ Thương
mại (nay là Bộ Công Thương) số 04/2007/TT-BTM ngày 04/04/2007 hướng dẫn hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư).
Trường hợp thứ hai, đối với việc mua bán hàng hóa quốc tế mà đối tượng không phải
là các hàng hóa nói trên thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được cấp Giấy
phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán
hàng hóa tại Việt Nam (có những trường hợp thì Giấy chứng nhận đầu tư có giá trị
đồng thời là Giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên
quan đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam). Để nhận được Giấy phép kinh doanh hoạt
động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa tại Việt
Nam thì Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng được các điều kiện đó
là: thứ nhất, nhà đầu tư thuộc các nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế mà
CHXHCN Việt Nam là thành viên và trong Điều ước quốc tế đó Việt Nam có cam kết
mở cửa thị trường về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp
đến mua bán hàng hóa (đối với nhà đầu tư nước ngoài thuộc các nước, vùng lãnh thổ
khác thì trước khi cơ quan có thẩm quyền cấp Giấp phép kinh doanh, Bộ trưởng Bộ
Công Thương sẽ xem xét, chấp thuận cho hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt
động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa đối với từng trường hợp cụ thể); thứ
hai, phù hợp với hình thức đầu tư và lộ trình thực hiện quy định tại Phụ lục số 01
Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay
là Bộ Công Thương) công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá và các
hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá (Điều 4 Nghị định của Chính phủ
số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt đồng
mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Mục I và II Thông tư của Bộ
thương mại (nay là Bộ Công Thương) số 09/2007/TT-BTM ngày 17/07/2007 hướng
dẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến
mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Quyết
định của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) số 10/2007/QĐ-BTM ngày
21/05/2007 công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động
liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa).
Đối với thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam thuộc
các nước, vùng lãnh thổ là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và các quốc
gia, vùng lãnh thổ có thỏa thuận song phương với Việt Nam về vấn đề xuất, nhập khẩu
hàng hóa, pháp luật Việt Nam họ được quyền: thực hiện các quyền xuất khẩu, nhập
khẩu khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu đối
với các loại hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt
Nam và theo lộ trình cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam; thực hiện mua hàng
hoá để xuất khẩu và bán hàng hoá nhập khẩu với thương nhân Việt Nam có đăng ký
kinh doanh các loại hàng hoá đó theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
(Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 90/2007/NĐ-CP ngày 31/05/2007 quy định về
quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của Thương nhân nước ngoài không có hiện diện
tại Việt Nam).
Pháp luật Việt Nam còn cho phép thương nhân nước ngoài được đặt chi nhánh tại
Việt Nam, chi nhánh thương nhân nước ngoài cũng có thể ký kết, thực hiện các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 16, 19 LTMVN 2005, Điều 2 Nghị định của
Chính phủ số 72/2006/NĐ-CP ngày 25/07/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về
Văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, Mục I Thông
tư của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) số 04/2006/TT-BTM ngày
06/04/2006 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động
mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng
hóa với nước ngoài).
3. Đối tượng
Về mặt nguyên tắc thì đối tượng của Hoạt động thương mại quốc tế giống với đối
tượng của hoạt động thương mại được pháp luật Việt Nam quy định vì giao dịch
thương mại quốc tế theo bản chất là một loại giao dịch thương mại. Tuy nhiên có một
số đối tượng của hợp đồng thương mại không được coi là đối tượng của hợp đồng
thương mại quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc loại bỏ đối tượng nào
đó ra khỏi hoạt động thương mại quốc tế có nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam không
được phép ký kết các hợp đồng thương mại liên quan đến những đối tượng đó. Ví dụ:
theo nghị định 12/2006 thì Bảng phụ lục 01 liệt kê những đối tượng cấm xuất nhập
khẩu như: vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ
thuật quân sự …
Vậy hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là động sản, tức
là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước. Và mua bán bất động sản với người
nước ngoài không thuộc nhóm hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
4. Hình thức
Các nước đều có những quy định đòi hỏi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ
hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện nhất định, đó có thể là hợp đồng được ký kết dưới
hình thức văn bản (hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương), lời nói,
hành vi nhất định. Trong đó, có những nước đòi hỏi một cách chặt chẽ về hình thức của
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật các nước này, hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải được phê chuẩn hay công chứng,... mới được coi là hợp pháp về
hình thức (ví dụ ở Pháp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được công chứng tại
Pháp).
Còn theo Điều 11 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì
không yêu cầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ bất kỳ yêu
cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng mua bán. Điều đó có nghĩa, không có quy định
bắt buộc về mặt hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Các bên có thể
dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng, để chứng minh về sự tồn tại
của hợp đồng. Tuy vậy, tại Điều 12 Công ước quy định: “bất kỳ quy định nào của Điều
11, Điều 29 hoặc phần thứ hai công ước này cho phép hợp đồng mua bán, việc thay
đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên hoặc đơn chào hàng và
chấp nhận chào hàng hoặc bất kỳ sự thể hiện ý chí nào của các bên được lập và không
phải dưới hình thức viết mà bất kỳ hình thức nào sẽ không được áp dụng khi dù chỉ
một trong số các bên có trụ sở thương mại đặt ở nước là thành viên của công ước mà
nước đó tuyên bố bảo lưu theo Điều 96 công ước này”, tức là “nếu nước thành viên
mà trong pháp luật nước đó đòi hỏi hợp đồng phải được ký kết hoặc phê chuẩn dưới
hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nước thành viên đó phải được
tôn trọng” (Điều 96).
Theo Điều 1.2 của PICC (nguyên tắc không bắt buộc về hình thức của hợp đồng - No
Form Required), việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không đòi hỏi phải
tuân theo bất kỳ điều kiện nào về hình thức: “Bộ nguyên tắc Unidroit không bắt buộc
hợp đồng, tuyên bố hay bất kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết hay chứng
minh bằng một hình thức đặc biệt. Chúng có thể được chứng minh bằng bất kỳ cách
thức nào, kể cả bằng nhân chứng”. Tuy nhiên, theo Điều 1.4 của PICC (những quy
phạm bắt buộc - Mandatory Rules) thì “Bộ nguyên tắc này không hạn chế việc áp dụng
những quy phạm bắt buộc, có nguồn gốc quốc gia, quốc tế phù hợp với các quy phạm
có liên quan của Tư pháp quốc tế”, tức là nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng có
thể bị hạn chế bởi các quy định riêng của pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế.
Theo đó, nếu trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế có liên quan bắt buộc hình
thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải lập thành văn bản thì các bên sẽ phải
tuân theo quy định này. Cũng theo PICC (Điều 1.11), “văn bản” bao gồm tất cả các
hình thức trao đổi thông tin cho phép lưu giữ thông tin chứa đựng trong đó và có khả
năng thể hiện dưới dạng hữu hình. Nghĩa là, “văn bản” bao gồm không chỉ điện tín, mà
tất cả các cách thức truyền thông khác, kể cả trao đổi thư điện tử, cho phép lưu giữ
thông tin chứa đựng trong đó và có thể được thể hiện dưới dạng hữu hình. PICC còn
cho phép các bên chủ thể được phép thỏa thuận lựa chọn hình thức hợp đồng (Điều
2.1.13).
Pháp luật Việt Nam quy định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
Trong đó, hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông
điệp dữ liệu (thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng
phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật) (khoản 2 Điều
27, khoản 15 Điều 3 LTMVN 2005). Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật
Việt Nam quy định ngoài việc hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành
văn bản thì còn phải được đăng ký, phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
mới có hiệu lực (như hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố
nước ngoài).
5. Chọn luật áp dụng
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù được kí kết hoàn chỉnh đến đâu thì bản thân
nó cũng không thể dự kiến và điều chỉnh được mọi vấn dề và tình huống có thể phát
sinh trong thực tê. Do đó, cần quy định điều khoản chọn luật điều chỉnh trong hợp
đồng, nhằm tạo cơ sở pháp lý cụ thể, giúp các bên dựa vào đó để xác định quyển và
nghĩa vụ của mình.
Bằng việc sử dụng điều khoản chọn luật, các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng.Ví
dụ, các bên có thể đưa vào hợp đồng điều khoản với nội dung sau: ‘Hợp đồng được lâp
giữa các bên sẽ được điều chỉnh và giải thích theo Luật Việt Nam”.
Nhiều nguồn luật khác nhau có thể áp dụng để điều chỉnh giao địch mua bán hàng
hóa quốc tế, trong đó có ba nguồn luật chủ yếu là: luật quốc gia, điều ước quốc tế và
tập quán thương mại quốc tế.
Điều ước quốc tế
Khi nói đến điều ước quốc tế, một trong những vấn đề vô cùng quan trọng đó là
trong trường hợp nào điều ước quốc tế được áp dụng. Theo nguyên tắc chung, điều ước
quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng thương mai quốc tế ký kết hay
tham gia điều ước quốc tế tương ứng. Theo nguyên tắc chung, trong trường hợp điều
ước quốc tế mà nước Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác với quy định của Bộ luật dân sự hay Luật thương mại thì các bên trong
hợp đồng áp dụng quy định của điều ước đó.
Thứ hai, mặc dù quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng không tham gia ký kết hay
phê chuẩn điều ước quốc tế, nhưng các bên thỏa thuận áp dụng điều ước quốc tế để
điều chỉnh quan hệ của các bên theo hợp đồng. Trong trường hợp này việc áp dụng
Điều ước quốc tế phải tuâ thủ các nguyên tắc của việc áp dụng tập quán thương mai,
điều này có nghĩa là nếu quy định nào đó của Điều ước trái với luật Việt Nam thì phải
áp dụng pháp luật Việt Nam.
Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, có một số điều ước quốc tế quan trọng
như sau:
Hai Công ước La Hay 1964 về mua bán quốc tế động sản hữu hình
Công ước thứ nhất mang tên “Luật thống nhất về giao kết hợp đồng mua bán quốc tế
các động sản hữu hình”(Convention on Uniform Law on the Formation on Constracts
for the International Sales – Viết tắt là ‘ULF’)
Công ước thứ hai là “Luật thống nhất về mua bán quốc tế các động sản hữu hình”
(Convention on Uniform Law on the Formation on Constracts on the Internationals
Sales of Goods – Viết tắt là ‘ULIS’).
Hai công ước trên ít được áp dụng trên thực tế. Hiện nay, các nước gia nhập công
ước Viên 1980 ( viết tắt là CISG) đều đã tuyên bỏ từ bỏ hai Công ước trên.
Công ước Viên 1980 của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
(United Nations Convention on Contracts for International Sale of Goods, viết tắt là
‘CISG’).Công ước Viên được kí tại Viên (Áo) vào ngày 11/4/1980 và chính thức có
hiệu lục từ ngày 01/01/1988. CISG được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên hợp quốc về
Luật thương mại quốc tề (‘UNCITRAL’) trong một nỗ lực tạo ra một văn bản thống
nhất luật thực chất cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Công ước này là công ước
được áp dụng rộng rại nhất và có sức ảnh hưởng mạnh nhất trong các giao dịch mua
bán quốc tế hiện nay.
Pháp luật quốc gia
Mua bán hàng hóa là một hoạt động cơ bản của bất kì nền kinh tế nào, vì thế nước
nào cũng có các quy tắc pháp luật điều chỉnh hợp đồng muabán hàng hòa. Ở một số
nước có những văn bản riêng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hòa. Ví dụ, ở Anh có
Luật mua bán hàng hóa 1979. Ở một số nước khác, pháp luật về mua bán hàng hóa
được quy định như một phần của Luật thương mại (ví dụ, pháp luật Việt Nam).
Một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tề có thể được điều chỉnh cùng một lúc bởi
luật pháp nhiều nước.
Khi pháp luật các nước có những quy định khác nhau về cùng một vấn đề tranh chấp,
thì sẽ làm phát sinh vấn đề xung đột luật. Ví dụ, xung đột về hình thức hợp đồng,hay
xung đột luật về nội dung hợp đồng.
Xung đột hình thức hợp đồng: Luật của các nước quy định khác nhau về hinh thức
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo luật của một sô nước như: Anh, Pháp, Hoa
Kỳ thì hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết bằng văn bản, lời nói hoặc
bằng hành vi cụ thể, trừ trường hợp mua bán bất động sản. Trong khi đó, luật một số
nước như Việt Nam, Trung Quốc thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được
giao kết bằng văn bản.
Xung đột luật về nội dung hợp đồng: nói đến nội dung của hợp đồng thương mai
quốc tế là đề cập đến nhiều vấn đề phức tạp, như quyền và nghĩa vụ của các bên, các
điều khoản cần phải được thỏa thuận trong hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp khắc
phục khi có sự vi phạm hợp đồng, trong trường hợp nào áp dụng chế tài nghiêm khắc
nhất..v..v… Về vấn đề này, luật của các nước quy định khôn giống nhau. Ví dụ, theo
luật của Pháp, Đức, Nhật Bản thì điều khoản chủ yếu của hợp đồng bao gồm đối tượng
hợp đồng và giá cả, trong khi theo luật của Anh, Hoa Kỳ, Úc lại chỉ cần hai bên xác
định rõ đối tượng hợp đồng là đủ…Một số nước noi định công là trường hợp bất khả
khác, nhưng một số nước thì không.
Đề giải quyết xung đột luật, cách tốt nhất là các bên trong hợp đồng thỏa thậun lựa
chọn một quốc gia nào đó để điều chỉnh hợp đồng.
Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại quốc tế cũng là nguồn luạt quan trọng điều chỉnh hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Tập quán thương mai quốc tế là những thói quen phổ biến
được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong hoạt động kinh doanh ở một khu vực nhất
định hoặc trên phạm vi toàn cầu. Những tập quán quốc tế được áp dụng phổ biến trong
mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm: các điều kiện cơ sở giao hàng trong mua bán hàng
hóa quốc tế (viết tắt là ‘INCOTERMS’) được phòng thương mại quốc tế (‘ICC’) tập
hợp và ban hành từ năm 1936 và được sửa đổi vào các năm 1953, 1968, 1976, 1980,
1990, 2000 và 2010); tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng tù (viết tắt là
‘UCP’)
Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có tính chât hướng dẫn chứ không có tình chất
bắt buộc, tuy vật khi một tập quán được các bên thỏa thuận ghi nhận hoặc dẫn chiếu
vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì sẽ có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các
chủ thể.
Các nguồn luật khác
Ngoài ra, có một số nguồn luật khác cũng đang ngày càng trở nên quan trọng trong
viêc điều chỉnh các hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế nói riêng, và có tính chất tương tự các tập quán thương mại quốc tế - đó là
các “hợp đồng mẫu” và các “nguyên tắc chung của hợp đồng”.
Trong nhiều lĩnh vực, các hiệp hội nghề nghiệp đã soản thảo các hợp đồng mẫu, ví
dụ, hợp đồng mẫu mua bán ngũ cộc (GAFTA), mua bán dầu (FOSFA), mua bán cà phê,
ca-cao hay bông,.v..v...
Bên cạnh đó, còn có các hợp đồng mẫu do các tổ chức độc lập soạn thảo. Mục tiêu
của các tổ chức này là cung cấp cho các nhà hoạt động thực tiễn các hoạt động đầy đủ
và công bằng quyền lợi của các bên. Phổ biến nhất là các hợp đồng mẫu và điều khoản
mẫu do Phòng thương mai quốc tế (ICC) soạn thảo. Năm 1985, ICC ban hành điều
khoản mẫu về bất khả kháng.
Hợp đồng mẫu sẽ trở thành nguồn luật cho hợp đồng mua ban hàng hóa quốc tề khi
cá bên dẫn chiếu đến hợp đồng mẫu hoặc đến một /một số điều khoản của hợp đồng
mẫu.
Về ‘Các nguyên tắc chung của luật hợp đồng’: đó thông thương là những nguyên
tắcđược đúc rút từ thực tiễn kinh doanh quốc tế, được các thương nhân thừa nhận và áp
dụng cho các quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế của mình và trở thành phổ biến:
nguyên tắc tự do hợp đồng, nguyên tắc hợp tác, nguyên tắc thiện chí, nguyên tắc phòng
ngừa và hạn chế thiệt hại…Đặc biệt các tổ chức trong tài thường dẫn chiếu đến các
nguyên tắc này trong việc giải thích hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh
6. Về đồng tiền thanh toán:
Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể là ngoại tệ đối với các bên. Ví
dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam và người mua Hà Lan, hai bên
thoả thuận sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanh toán. Lúc này, đồng euro là ngoại tệ
đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với người mua Hà Lan. Tuy
nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như
trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử dụng đồng
euro làm đồng tiền chung.
7. Giải quyết tranh chấp
Khi các bên kí kết hợp đồng thương mại quốc tế, điều mà họ phải cân nhắc trước
tiên, nhằm giảm bớt sự khắc nghiệt của tranh chấp, là phương thức nào sẽ được áp
dụng để giải quyết tranh chấp nếu tranh chấp xảy ra. Họ có thể chọn một phương thức
giải quyết tranh chấp sau đây: thương lượng, trung gian/hòa giải, trọng tài và tranh
tụng trước tòa án.
Thương lượng là bước tiếp cận đầu tiên mà các bên sử dụng nhằm giải quyết tranh
chấp nảy sinh trong giao dịch thương mại qucố tế, mặc dù các tranh chấp thường
không giải quyết dứt điểm bằng phương thức này, nhưng nó giúp các bên nắm bát được
vấn đề của tranh chấp và hiểu rõ hơn quan điểm của bên kia. Ngoài ra, các bên cũng có
thể nói lại thương lượng vào bất cứ giai đoạn nào thích hợn, không liên quan đến
phương thức khác đang được tiến hành để giải quyết tranh chấp của họ, nhằm mục đích
sớm đạt đươc thỏa thuận chấm dứt tranh chấp.
Hòa giải là quá trình trong đó bên thứ ba, do các bên tranh chấp chỉ định, dàn xếp
giữa các bên tranh chấp trước hoặc sau khi họ khởi kiện hoặc sử dụng phương thức
trọng tài. Các nỗ lực hòa giải giúp các bên thấy được các mặt đối lập của tranh chấp,
nhằm đưa các bên lại gần nhau hơn tiến tới một giải pháp thường đạt được trên cơ sở
sự thỏa hiệp của hai bên.
Phương thức trung gian là hình thức can thiệp của bên thứ ba, với sự chấp thuận của
cá bên liên quan trong tranh chấp. Chức năm của người trung gian là đưa ra giải pháp
cho tranh chấp với mong muốn được các bên chấp thuận. Người trung gian sẽ nỗ lực
giúp các bên hiểu lập trường, quan điểm của nhau, sẽ gặp gỡ riêng từng bên, lắng nghe
quan điểm của mỗi bên, nhấn mạnh các lợi ích chung và nỗ lực giúp các bên tiến tới
một giải pháp chung. Phương thức trung gian mang tính bí mật, có thế được áp dụng
bất cứ thời điểm nào trong quá trình tranh chấp.
Trọng tài quốc tế có hai hình thức: ICA thiết chế và ICA vụ việc (‘ad hoc’). Trong
trọng tài “ad hoc”, các bên chọn trong tài viên và quy chế trọng tài, cách thức thông
thương là các bên liên quan lựa chọn một trong tài viên, tiếp đó, các trọng tài viên này
sẽ chọn ra một trọng tài viên thứ ba. Hội đồng trọng tại vụ việc sẽ lựa chọn quy tắc thủ
tục trọng tài. Trong tài vụ việc có thể thỏa thuận trước, hoăc sau khi tranh chấp phát
sinh.
Trọng tài thiết chế cần phải lựa chọn một trung tâm trọng tài cụ thể và quy tắc tố tụng
trọng tài của trung tâm đó. Phán quyết trọng tài được đưa ra bởi trung tâm trọng tài
dường như là có khả năng được công nhận tại toàn án hơn, nếu việcthực thi phán quyết
đó là cần thiết. Tòa trọng tài quốc tế của ICC là một tổ chức trọng tài uy tín và nổi
tiếng nhất, ngoài ra còn có Trung tâm giải quyết tranh chấp quốc tế “ICDR” của AAA,
tòa trọng tài quốc tế Luân Đôn
Tranh tụng trước tòa là quy trình giải quyết tranh chấp có tính thể thức và tính tổ
chức sao khi so sánh với thương lượng, hòa giải và thậ chí với trọng tài. Với các quy
định và thủ tục đã được thiết lập rất chặt chẽ, tòa án giải quyết hầu hết mọi chi tiết nhỏ
của quá trình tranh tụng, từ thời điểm bắt đầu vụ kiện cho đến khi có bản án cuối cùng
và thi hành án.
8. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại quốc tế
Cũng nhu đối với hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại quốc tế có hiệu lực tức
là có khả năng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết khi nó
được coi là hợp pháp. Mặcdù trong hợp đồng thương mại quốc tế các bên có quyền
thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng, tuy nhiên điều kiện có hiệu lực của chúng được xác
định trên cơ sở quy định của pháp luật mỗi quốc gia mà không phụ thuộc vào luật áp
dụng. Theo quy định cảu pháp luật Việt Nam, hợp đồng thương mại quốc tế được coi là
có hiệu lực khi tuân thủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể của hợp đồng phải có năng lực pháp luật và được phép ký kết hợp đồng
thương mại quốc tế.
Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cầm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội.
Hợp đồng ký kết trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện.
Hợp đồng phải được ký bằng văn bản.
II. Một số tình huống tranh chấp phổ biến trong quan hệ MBHH với thương nhân
nước ngoài và thực tiễn giải quyết
1. Tình huống 1: Thanh toán quốc tế
Tóm tắt nội dung vụ việc- Ngày 07 tháng 11 năm 2006, Công ty U ở Sóc Trăng, Việt
Nam (nhà nhập khẩu – bên mua hàng) và Công ty Galaxy ở Ấn Độ (nhà xuất khẩu –
bên bán hàng) đã ký hai hợp đồng mua bán quốc tế số UX 013/06-GAL và UX 014/06GL. Theo đó, Công ty Galaxy có nghĩa vụ cung cấp cho Công ty U 3.000 thùng chứa
tôm sú vỏ đông lạnh không đầu có tiêu chuẩn hạng nhất (Frozen headless shell-on back
tiger shrimps, first grade brand) (“Sản phẩm Tôm”) tương đương với 32.400 kg tôm
nguyên liệu đông lạnh với tổng giá trị 288.090 USD.
Theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên, các bên đã
chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ làm phương thức thanh toán. Cho nên,
ngày 08 tháng 11 năm 2006, Công ty U có đơn gửi và được một ngân hàng thương mại
Việt Nam trên cùng địa bàn mở L/C cùng ngày để Công ty U hoàn thiện thủ tục mua lô
hàng tôm nguyên liệu từ Công ty Galaxy theo thỏa thuận trong hai hợp đồng nêu trên.
Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ (State Bank of India) là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu
(Công ty Galaxy).
Ngày 15 tháng 12 năm 2006, các lô hàng đã được vận chuyển bằng đường biển về
đến cảng Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh. Một ngày sau đó (16/12/2006), Công ty U đã nhận
bộ chứng từ tại ngân hàng mở L/C và mang chúng đến làm thủ tục nhận hàng tại cảng
Cát Lái. Khi kiểm tra các lô hàng, với sự giám định của Công ty TNHH SGS Việt Nam
(Công ty SGS), Công ty U đã phát hiện thấy sản phẩm tôm trong các lô hàng đã giao
không bảo đảm chất lượng theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế nêu trên. Trong tổng số 2.999 thùng của lô hàng tôm nhập khẩu, chỉ có 1.751 thùng
tôm nguyên liệu đông lạnh, số còn lại 1.248 thùng nước đá đóng khuôn (không có
tôm).
Trước sự việc gian lận thương mại của Công ty Galaxy, Công ty U đã nhiều lần cố
gắng liên lạc với Công ty Galaxy để giải quyết vấn đề phát sinh về chất lượng lô hàng
tôm nhập khẩu nhưng không nhận được bất cứ phản hồi nào từ phía Công ty Galaxy.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngày 17 tháng 01 năm 2007,
Công ty U đã khởi kiện Công ty Galaxy tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng với lý do
Công ty Galaxy đã vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết ngày 07 tháng 11
năm 2006.
Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã chấp nhận thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ kiện
trên cơ sở những quy định hiện hành dưới đây của pháp luật Việt Nam:
Khoản 2 Điều 5 của Luật Thương mại 2005: các bên có quyền thỏa thuận áp dụng
tập quán thương mại quốc tế nếu các tập quán thương mại đó không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Điều 51 của Luật Thương mại 2005: nếu bên mua có bằng chứng về việc bên bán
lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán.
Khoản 3 Điều 2 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt
Nam được áp dụng đối với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trường
hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng
điều ước quốc tế đó.
Điều 19 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn
trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải
nghiêm chỉnh chấp hành
Trong trường hợp nêu trên, khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (tôm đông
lạnh), Công ty U và Công ty Galaxy không thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp
và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Cho nên, theo tư pháp quốc tế, luật và cơ
quan giải quyết tranh chấp của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ được ưu tiên viện dẫn
tới để giải quyết tranh chấp phát sinh. Trường hợp này, việc hàng được giao tại Việt
Nam là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tranh chấp về thanh toán. Do vậy, Tòa án nhân
dân có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ được xác định để giải quyết tranh chấp từ hoặc liên
quan
đến
hai
hợp
đồng
mua
bán
hàng
hóa
quốc
tế
nêu
trên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2007, theo yêu cầu cấp bách của Công ty U, Tòa án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐBPKCTT, trong đó yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng
cho Công ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại thương nêu trên nhằm ngăn
chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra. Trước đó, ngày 16/03/2007, Ngân hàng Nhà
nước Ấn Độ đã gửi điện cho Ngân hàng mở L/C thông báo về việc nhà xuất khẩu đã bỏ
trốn để lẩn tránh sự truy bắt của cảnh sát địa phương.
Đến ngày 29 tháng 01 năm 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra thông báo thụ lý
vụ án và gửi cho phía bị đơn (Công ty Galaxy) đề nghị trình bày ý kiến của mình đối
với yêu cầu của nguyên đơn (Công ty U), nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
không nhận được văn bản trả lời của Công ty Galaxy. Sau một thời gian chờ thư phản
hồi từ phía bị đơn nhưng không có kết quả, ngày 26 tháng 02 năm 2007, Tòa án nhân
dân tỉnh Sóc Trăng tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông
báo thụ lý vụ án cho bị đơn, nhưng việc ủy thác tư pháp cũng không mang lại kết quả.
Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung mà
không có sự tham dự của bị đơn
Căn cứ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/BPKCTT
nêu trên, ngày 29 tháng 01 năm 2007, Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đã ký
Quyết định thi hành án số 10/CĐ.THA yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng
thanh toán tiền mua hàng cho Công ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại
thương ngày 07 tháng 11 năm 2007 giữa Công ty U với Công ty Galaxy.
Ngày 27 tháng 09 năm 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành xét xử sơ
thẩm vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán ngoại thương giữa nguyên đơn là Công ty
U và bị đơn là Công ty Galaxy. Theo Bản án sơ thẩm số 03/2007/KDTM-ST ngày 27
tháng 09 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, thì Công ty U chỉ có nghĩa vụ
thanh toán cho Công ty Galaxy tiền mua hàng theo số lượng thực nhận với số tiền
tương ứng với từng hợp đồng, tổng cộng số tiền thanh toán là 64.815,60 USD và yêu
cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán số tiền mua hàng cho Công ty Galaxy
đối với lô hàng tôm nhập khẩu theo hai hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nêu trên.
Trong khi Ngân hàng mở L/C đang phải thực hiện quyết định, bản án của Toà án nhân
dân tỉnh Sóc Trăng, thì Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu liên tục gửi điện yêu cầu
Ngân hàng mở L/C thực hiện thanh toán tiền lô hàng nhập khẩu theo quy định tại L/C
vì Ngân hàng này thông báo rằng họ đã chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất và thanh toán
cho người hưởng (Công ty Galaxy).
Từ thực trạng giải quyết tranh chấp về thanh toán quốc tế nêu trên, thiết nghĩ các tòa
án Việt Nam, khi xét xử các vụ án liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài, cần tiến hành các thủ tục tố
tụng một cách thận trọng trên cơ sở luật pháp quốc gia và thông lệ, tập quán quốc tế
nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của cả nhà nhập khẩu và ngân hàng mở thư tín dụng;
đồng thời, Tòa án cũng cần xem xét ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết
định số 802/TTg ngày 24 tháng 09 năm 1997: “Doanh nghiệp nhập khẩu được Ngân
hàng bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm, khi đến hạn thanh toán phải chấp hành
nghiêm chỉnh nghĩa vụ thanh toán nợ với nước ngoài. Trong trường hợp doanh nghiệp
chậm hoặc chưa có khả năng thanh toán với nước ngoài, Ngân hàng bảo lãnh phải
thanh toán thay để bảo đảm tín nhiệm trong thanh toán quốc tế và doanh nghiệp phải
nhận nợ bắt buộc với ngân hàng” (Điều 1)
2. Ngân hàng biết thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án hay thông lệ quốc
tế.
Trước tình hình trên, Ngân hàng mở L/C buộc phải lựa chọn một trong hai phương án
sau đây để thực hiện: (i) Phương án thứ nhất là tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng
cho Công ty Galaxy theo bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; (ii)
Phương án thứ hai là tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho ngân hàng phục vụ người
xuất khẩu theo quy định của L/C và UCP 500 (UCP này có hiệu lực vào thời điểm phát
sinh tranh chấp).
Mỗi phương án có những cơ sở riêng để Ngân hàng mở L/C lựa chọn, thực hiện.
Về phương án thứ nhất.
Khi xem xét hiệu lực pháp lý giữa bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng với hiệu lực của UCP 500, nhà nhập khẩu thấy rằng tài liệu xuất bản số 511 (bản
so sánh UCP 500 với UCP 400) của ICC – cơ quan ban hành UCP 500 đã nêu rõ: Do
được dẫn chiếu áp dụng vào Tín dụng chứng từ, UCP chi phối giao dịch Tín dụng
chứng từ là cơ bản nhưng không phải là duy nhất.
Tòa án và Trọng tài thường vận dụng UCP bởi nó là một tuyển tập các thông lệ và tập
quán về tín dụng chứng từ được phổ biến và thông dụng nhất trên toàn thế giới. Nó
được hiểu như là một văn bản đạt được sự hoàn hảo gần với một Bộ luật Quốc tế. Tuy
nhiên, một điều mà chúng ta phải thừa nhận là sự áp dụng của UCP vào tín dụng chứng
từ không ngăn việc tòa án áp dụng luật quốc gia.
Thời gian qua, có nhiều cuộc tranh luận pháp lý, đặc biệt là các trường hợp có sự đối
nghịch giữa UCP và luật quốc gia. Quan điểm của ICC là Bản quy tắc sẽ không nêu ra
những vấn đề pháp lý như vậy và UCP không thể thay đổi được luật quốc gia. Những
tranh chấp, nếu có, tốt nhất là để cho Tòa án xem xét và phán quyết. Tòa án quyết định
mọi vấn đề trên cơ sở luật quốc gia và UCP. Nếu có sự khác biệt giữa hai hệ thống
pháp luật thì quyết định của Tòa án có thể vượt lên tất cả, kể cả UCP.
Căn cứ văn bản trên đây của ICC, nhà nhập khẩu đã cung cấp và đề xuất để
Tòa án nhận định rằng các quy định của UCP 500
Một tập quán quốc tế không được ưu tiên áp dụng hơn so với phán quyết/quyết định
của Tòa án – một văn bản được tuyên dựa trên cơ sở luật quốc gia. Cho nên, trường
hợp có sự khác biệt giữa luật quốc gia và UCP 500, thì bản án, quyết định của Tòa án
sẽ vượt lên và điều chỉnh các vấn đề phát sinh.
Chính vì vậy, trong vụ tranh chấp thanh toán tiền tôm đông lạnh nhập khẩu nêu trên,
Ngân hàng mở L/C cần tuân thủ quyết định, bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng (tạm ngừng thanh toán số tiền mua hàng còn lại cho Công ty Galaxy đối với lô
hàng nhập khẩu tôm đông lạnh theo hai hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nêu trên).
Nhưng thời hạn tạm ngừng thanh toán lại không được quy định cụ thể trong bất cứ văn
bản
nào,
kể
cả
bản
án
của Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
Sóc
Trăng.
Về phương án thứ hai.
Tại Điều 3 của UCP 500 quy định: Về bản chất Tín dụng thư là những giao dịch
riêng biệt với hợp đồng thương mại và các loại hợp đồng khác mà các hợp đồng này là
cơ sở cho Tín dụng thư, nhưng các ngân hàng bất luận trong trường hợp nào cũng
không liên quan đến, hoặc không hề ràng buộc bởi những hợp đồng đó, ngay cả khi
Tín dụng thư có dẫn chiếu đến hợp đồng đó.
Vì thế, cam kết của ngân hàng về thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu hoặc
chiếu khấu và/hoặc thực thi bất kỳ nghĩa vụ nào của Tín dụng thư không phụ thuộc vào
khiếu nại hoặc biện hộ của người mở thư tín dụng phát sinh từ mối quan hệ của người
mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành, hoặc với người hưởng lợi.
Căn cứ những quy định trên đây của UCP 500
Ngân hàng mở L/C phải thực hiện các nghĩa vụ của mình (ngân hàng thanh toán)
theo cam kết tại L/C một cách độc lập mà không phụ thuộc vào bất kỳ tranh chấp phát
sinh nào giữa nhà xuất khẩu (Công ty Galaxy) với nhà nhập khẩu (Công ty U) theo các
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã ký kết. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là
cơ sở để mở thư tín dụng (thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hoá