Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
MỤC LỤC
Mục
PHẦN I.
PHẦN II.
I.
Nội dung
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG ĐÀM PHÁN
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG
1. Kỹ năng của luật sư trong tư vấn đàm phán hợp đồng
1.1.
1.2.
1.3.
II.
mua bán
Vai trò của luật sư trong công việc đàm phán.
Công tác chuẩn bị trước khi đàm phán.
Quá trình đàm phán.
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TƯ VẤN
SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
1.
Kỹ năng tư vấn soạn thảo hợp đồng
2. Một số điều khoản cần chú ý khi soạn thảo hợp đồng
III. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TƯ VẤN KÝ
PHẦN III.
KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ.
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
2
3
3
3
3
4
5
7
7
8
9
11
12
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU.
Tư vấn là một trong các công việc hay ngành nghề mà người luật sư có quyền
thực hiện. Trong lĩnh vực tư vấn thì tư vấn cho khách hàng về Hợp đồng là một công
việc tương đối phức tạp, nhất là việc tư vấn trong hợp đồng mua bán hàng hoá.
1
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Khách hàng sẽ thường là một trong hai bên, hoặc là người mua hoặc là người
bán. Và tất nhiên, đối tác sẽ ngược lại. Mỗi một khách hàng lại có những điều kiện khác
nhau như về tài chính, tính cách cá nhân, yêu cầu về quyền lợi, chủng loại hàng hoá,
mua bán trong nước, xuất nhập khẩu ...
Để có thể thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, đảm bảo quyền lợi cao nhất,
tránh rủi ro một cách tối đa cho khách hàng đòi hỏi người luật sư tư vấn phải có những
hiểu biết nhất định về kỹ năng trong các giai đoạn đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp
đồng.
Để có được những kỹ năng cao trong công việc này, người luật sư trước hết cần
trau dồi về kiến thức pháp lý nội dung, sau đó là học tập, rèn luyện qua các bài học ở
Học viện tư pháp và quan trọng hơn nữa là đúc rút kinh nghiệm qua các công việc thức
tế khi hành nghề.
Qua thời gian học tại Học viện tư pháp trong chuyên đề Tư vấn Pháp luật và
Hợp đồng, được sự truyền đạt từ các thầy cô giáo qua các bài giảng, em xin trình bày
một số hiểu biết cơ bản của mình trong việc tư vấn hợp đồng cho khách hàng qua bài
tiểu luận với đề tài: «Kỹ năng của luật sư trong tư vấn đàm phán, soạn thảo, ký kết
hợp đồng mua bán».
Do thời gian nghiên cứu chuyên đề có hạn, bài viết không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự chỉ dạy của các thầy, cô giáo và góp ý của
bạn đọc để bài viết hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
PHẦN II: NỘI DUNG BÀI VIẾT.
Khi khách hàng có yêu cầu luật sư tư vấn trong quá trình ký kết một hợp đồng
mua bán thì công việc của người luật sư thường sẽ là : Tư vấn trong giai đoạn đàm
phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng. Khi đó, người luật sư cần có những kỹ năng nhất
định để thực hiện công việc tư vấn một cách hiệu quả, bảo đảm lợi ích tối đa, rủi ro tối
thiểu cho khách hàng.
2
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Một số kỹ năng của luật sư sẽ là :
I.
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HỢP
ĐỒNG.
1. Kỹ năng của luật sư trong tư vấn đàm phán hợp đồng mua bán.
1.1.
Vai trò của luật sư trong công việc đàm phán.
Đàm phám hợp đồng là việc trao đổi, bàn bạc giữa hai hay nhiều bên có một số
lợi ích chung và lợi ích đối kháng nhằm mục đích đạt được một thoả thuận chung (hợp
đồng).
Quá trình đàm phán bao gồm việc: Gặp gỡ, tiếp xúc; Trao đổi, bàn bạc; Thoả
thuận hay thống nhất ý chí.
Người luật sư được coi là người có kỹ năng giao tiếp, truyền đạt thông tin tốt.
Luật sư có thể giúp các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa thương lượng với nhau
một cách hiệu quả hơn. Vì thế luật sư thường đứng ra trình bày vấn đề, không chỉ
những vấn đề về pháp lý mà có thể cả những vấn đề mang tính thương mại như giá cả,
điều kiện giao hàng …
Có những trường hợp thân chủ chỉ ngồi nghe và chỉ đạo cho luật sư trong các vấn
đề đàm phán. Có trường hợp, bản thân thân chủ không tham dự buổi đàm phán mà chỉ
cử luật sư đi đàm phán một mình theo uỷ quyền. Trong những trường hợp như vậy, luật
sư phải rất cẩn thận không được phép đưa ra những cam kết ngoài phạm vi được ủy
quyền.
Trong quá trình đàm phán, luật sư phải luôn cố gắng để bảo vệ khách hàng của
mình một cách tốt nhất. Cụ thể, luật sư sẽ phải cố gắng đàm phán, soạn thảo hợp đồng
sao cho rõ ràng, thể hiện đúng nội dung kết quả đàm phán, không có những nội dung
chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau.
Khi nảy sinh những vấn đề mang tính pháp lý, luật sư sử dụng kiến thức của
mình để đưa ra những giải pháp phù hợp với pháp luật và bảo vệ cho thân chủ.
Đối với mỗi điều khoản hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản do đối tác đưa ra,
luật sư có vai trò phải giải thích rõ cho thân chủ biết các rủi ro pháp lý liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ của thân chủ. Bởi trong nhiều trường hợp, thân chủ không lường
trước được những rủi ro này.
Khi hai bên đã thống nhất được với nhau về một nguyên tắc cụ thể, luật sư giúp
hai bên, đặc biệt là khách hàng của mình sử dụng từ ngữ trong hợp đồng diễn tả đúng
chính xác nội dung đã được thống nhất, không để xảy ra những sơ hở hay rủi ro do từ
ngữ của hợp đồng thiếu chặt chẽ.
I.2.
Công tác chuẩn bị trước khi đàm phán:
3
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Để có thể đạt được kết quả cao theo ý muốn khi đàm phán thì luật sư cần có sự
chuẩn bị về phương án đàm phán một cách cụ thể. Cần có sự thu thập về thông tin liên
quan như: Về thị trường, về đối tượng kinh doanh, về đối tác, hay đối thủ cạnh tranh.
Luật sư phải nắm thật chắc, rõ ràng nội dung giao dịch mua bán được đàm phán.
Mặc dù vai trò của luật sư không nằm trong việc quyết định giá cả, loại mặt hàng …
nhưng người luật sư vẫn phải biết rõ nội dung giao dịch, những vấn đề có liên quan để
có thể hiểu được tổng thể nội dung của công việc đàm phán. Luật sư không thể đàm
phán một giao dịch mua bán, nếu như chưa biết rõ nội dung cơ bản, những đặc thù của
nó, ví dụ: Loại hàng mua bán có thuộc loại hàng kinh doanh đặc biệt không; các bên
nhận và giao hàng như thế nào ; thủ tục thanh toán ra sao … Việc này đòi hỏi luật sư
phải đọc kỹ tài liệu (dự thảo hợp đồng, đơn đặt hàng, chào hàng …) và trao đổi kỹ với
khách hàng về giao dịch sắp đàm phán.
Trên cơ sở nội dung giao dịch, luật sư cần phải nắm được ý đồ và các phương án
của thân chủ. Lý do phải có đàm phán là do có một số vấn đề mà thân chủ cho rằng phía
đối tác sẽ khó chấp nhận. Vì vậy, luật sư cần phải nắm chắc được phạm vi nội dung mà
thân chủ có thể chấp nhận và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được vượt ra
ngoài phạm vi đó. Điều quan trọng nhất là luật sư không bao giờ được đưa ra những
cam kết ngoài phạm vi mình được ủy quyền đàm phán.
Luật sư và thân chủ phải đề ra những mục tiêu cụ thể, trọng tâm. Phải đưa ra mục
tiêu cao nhất mong muốn, mục tiêu thấp nhất có thể chấp nhận. Lập bản dự thảo hợp
đồng với nội dung là các điều khoản cần phải đàm phán. Dự liệu những yêu cầu tối đa,
yêu cầu tối thiểu. Những nhượng bộ có thể phải thực hiện, những đòi hỏi đổi lại cho
những nhượng bộ đó ... Trong trường hợp khách hàng không trực tiếp đàm phán và uỷ
quyền cho luật sư thì đó cũng là phạm vi mà luật sư được quyền đàm phán và quyết
định. Mọi vấn đề thấp hơn mức yêu cầu thấp nhất đều phải được sự đồng ý của thân
chủ.
Trường hợp khách hàng yêu cầu tư vấn những hợp đồng lớn, nhiều người tham
gia đàm phán thì luật sư cũng cần tư vấn để chuẩn bị nhân sự đàm phán cho thân chủ.
Chuẩn bị trưởng đoàn, luật sư, cố vấn thương mại, phiên dịch ... Luật sư cũng cần chuẩn
bị chiến lược, chiến thuật đàm phán (cộng tác, thoả hiệp hay hoà giải ...; thời gian, địa
điểm, thái độ ...).
Luật sư phải cố gắng dự đoán trước những gì mà phía đối tác có thể đưa ra để có
thể lường trước và suy nghĩ, vạch sẵn những lý lẽ để có thể phản bác hoặc chỉ chấp
nhận một phần các đề xuất của phía đối tác. Điều này sẽ giúp cho luật sư không mất
thời gian suy nghĩ nhiều trong khi họp đàm phán và không đưa ra những ý kiến vội
vàng trong khi đàm phán.
4
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Luật sư nên mang theo tất cả những tài liệu có liên quan kể cả các văn bản pháp
luật, để tiện xem xét khi cần thiết.
1.3.
Quá trình đàm phán:
Thông thường, việc đàm phán thường diễn ra trên cở sở một bản dự thảo hợp
đồng. Hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc, thống nhất từng điều khoản một. Điều khoản nào
nếu hai bên đồng ý ngay thì sẽ thống nhất nhanh. Những điều khoản quan trọng hơn mà
hai bên cần đàm phán về quyền và lợi ích căng thẳng thì phải mất nhiều thời gian hơn.
Người luật sư bước đầu sẽ đề xuất phương án tốt nhất cho khách hàng của mình
và để phía đối tác nhận xét. Sau đó, chờ đối tác đưa ra phương án của họ để xem xét có
thể chấp nhận được hay không. Khi bên đối tác không đồng ý với một vấn đề gì, luật sư
cần bao quát vấn đề nhanh và phán đoán xem liệu sự không đồng ý đó nằm ở một vấn
đề mang tính nguyên tắc hay là chỉ nằm ở vấn đề câu chữ của dự thảo hợp đồng.
Nếu cảm thấy đề xuất của đối tác không thể chấp nhận được do nằm ngoài phạm
vi mà thân chủ có thể chấp nhận được thì đương nhiên là câu trả lời đối với đối tác là
“không thể chấp nhận”. Luật sư nên thay mặt khách hàng của mình cố gắng giải thích
quan điểm của phía bên mình để khiến đối tác hiểu và chấp nhận. Điều này đòi hỏi luật
sư phải hiểu thật rõ giao dịch thông qua khâu chuẩn bị. Vấn đề nào mà đối tác vẫn
không chịu chấp nhận, hai bên sẽ để vấn đề hay điều khoản đó sang một bên để sau này
quay lại đàm phán tiếp sau khi đã trao đổi lại với thân chủ của mình. Việc có chấp nhận
hay không lúc này tùy vào ý kiến của thân chủ và luật sư vẫn chỉ giữ vai trò tư vấn.
Luật sư cần tránh hiện tượng sa lầy vào một vấn đề mà rõ ràng hai bên chưa thống nhất
được.
Nếu cảm thấy phương án của bên kia là có thể chấp nhận được, luật sư có thể
quyết định chấp nhận ngay để dứt điểm vấn đề đó và có thể chuyển tiếp sang các vấn đề
khác. Hoặc luật sư có thể có chiến thuật tạm coi là chưa chấp nhận để sau này có thể
“đánh đổi” điều này với một điều khoản khác mà bên kia không sẵn sàng chấp nhận.
Luật sư cũng nên có tính sáng tạo trong khi đàm phán, không cứng nhắc.
Luật sư nên cẩn thận tránh lối suy nghĩ những điều khoản nào tỏ ra công bằng với
các bên là có thể chấp nhận được. Thực tế không phải như vậy, do rủi ro, nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng là không giống nhau, vì vậy, một điều khoản thoạt nghe có vẻ
công bằng cho cả hai bên, nhưng thực tế có thể bất lợi cho thân chủ của mình.
Như trong trường hợp đối tác có thể muốn đưa vào một điều khoản bất khả kháng
chung chung, nói rằng bất kỳ một sự kiện nào mà một bên không thể kiểm soát và sửa
chữa được sẽ coi là bất khả kháng và bên đó được miễn trách nhiệm. Điều khoản này
thoạt nghe có vẻ công bằng cho người mua và người bán. Tuy nhiên, người mua hàng
rất ít khi phải lo lắng đến bất khả kháng. Ngược lại, người bán hàng lại rất quan tâm. Vì
5
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
thế trong trường hợp này, bên mua sẽ không muốn đưa vào hợp đồng điều khoản bất
khả kháng, hoặc nếu có sẽ chỉ là một điều khoản cụ thể nêu rõ các trường hợp bất khả
kháng như thế nào, tất cả các trường hợp khác sẽ không được coi là bất khả kháng.
Trong khi đàm phán, luật sư cần chú ý đến những nguyên tắc dẫn đến thành công
như : Tạo ấn tượng tốt, thân thiện ngay từ lúc bắt đầu gặp gỡ ; chú ý tới tác phong, cử
chỉ, thái độ, động tác của cơ thể ; luôn bám sát mục tiêu đàm phán đã đề ra ; trình bày
vấn đề khéo léo, linh hoạt ; Cần có ý thức, tư duy sẵn sàng thoả hiệp nếu cần thiết ; Và
điều quan trọng là cần chốt lại vấn đề mà các bên đã thoả thuận được trước khi chuyển
sang nội dung đàm phán mới.
Các chiến thuật có thể áp dụng khi đàm phán:
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Sử dụng 3 phương tiện cơ bản: Lời nói, cử chỉ, thái độ
Kiểu cứng và kiểu mềm
Khả năng ứng biến nhanh của người đàm phán, tính bí mật và bất ngờ
Nhiều lúc cần phải giấu mục đích
Sử dụng sức ép của thời gian
Thay đổi nhà đàm phán
Thẩm quyền hạn chế
Đánh lạc hướng
Tửu kế
Mỹ nhân kế
Bên cạnh đó, luật sư cũng tránh một số lỗi thông thường như:
•
•
•
•
•
Không biết rõ bên đối tác ai là người có quyền quyết định cuối cùng ;
Không biết điểm mạnh của mình và không biết ử dụng nó ;
Khi bước vào đàm phán thì đầu óc thiếu minh mẫn, mục đích chung chung không
rõ ràng;
Không đề xuất những quan điểm, lý lẽ có giá trị ;
Không biết kết thúc đúng lúc...
II. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TƯ VẤN
SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.
1.
Kỹ năng tư vấn soạn thảo Hợp đồng:
Khi tiến hành soạn thảo hợp đồng cho khách hàng, luật sư cần phải chú ý đến các
vấn đề tránh cho hợp đồng bị vô hiệu và để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng. Luật sư
6
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
cần phải bảo đảm các yếu tố như: Bảo đảm về mặt hình thức của hợp đồng, bảo đảm về
mặt nội dung của hợp đồng.
- Về mặt hình thức:
Hợp đồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Tuỳ theo các quan hệ mua bán
hàng hoá cụ thể mà cần phải tuân thủ Luật chung hay phải tuân thủ theo cả luật chuyên
ngành.
Nếu là hợp đồng mua bán tài sản thì tuân thủ các Điều : 428 – 449 và 456 – 462
Bộ luật Dân sự 2005;
Nếu là hợp đồng hàng hoá thì cần tuân thủ quy định tại các Điều : 24 – 73 Luật
thương mại 2005;
Hợp đồng mua bán nhà ở thì theo các Điều : 94 – 98 Luật nhà ở 2005, các Điều
450 – 455 Bộ luật Dân sự 2005.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một ví dụ về trường hợp bắt buộc hình
thức của hợp đồng mua bản phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương như: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu. Cho nên, để bảo đảm tín
hiệu lực về mặt hình thức của hợp đồng, khi soạn thảo hợp đồng cho khách hàng luật sư
cần phải tư vấn cho khách hàng lựa chọn hình thức phù hợp với quy định pháp luật.
Việc thiếu quan tâm đến hình thức hợp đồng sẽ dẫn đến vô hiệu và điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi các bên tham gia hợp đồng.
- Về mặt nội dung:
Mặc dù hợp đồng là sự tự do thỏa thuận của các bên, nhưng sự thỏa thuận đó phải
đặt trong khuôn khổ của pháp luật. Như nội dung không vi phạm điều cấm của pháp
luật, các bên phải có đầy đủ năng lực (Ví dụ: Là doanh nghiệp thì phải có đăng ký kinh
doanh) để thực hiện những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, khi soạn thảo
hợp đồng, luật sư cần phải thận trọng xem xét đối tượng hợp đồng sẽ ký kết có phù hợp
với chức năng kinh doanh của các đối tác tham gia hợp đồng có được quy định trong
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phép kinh doanh không. Bởi vì nếu bỏ qua
vấn đề này thì có thể hợp đồng ký kết sẽ bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần.
2.
Một số điều khoản cần chú ý khi soạn thảo hợp đồng :
Điều khoản về các định nghĩa: Trong thực tế hiện nay, các hợp đồng mua
bán hàng hóa thường rất ít khi có điều khoản định nghĩa. Điều khoản về các định nghĩa
của hợp đồng là hết sức cần thiết, nó giúp cho văn phong hợp đồng rõ ràng, dễ hiểu
hơn, không bị nhầm lẫn khi thực hiện hợp đồng. Ví dụ định nghĩa về hành vi vi phạm
7
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
hợp đồng, bất khả kháng, container hàng, giấy chứng nhận nghiệm thu chất lượng hàng
hóa, các thuật ngữ viết tắt …
Điều khoản về mục lục hợp đồng: Khi soạn thảo hợp đồng rất ít khi
chúng ta làm các trang mục lục hợp đồng. Tuy đấy chỉ là hình thức nhưng thực ra việc
soạn thảo bảng mục lục của hợp đồng như vậy sẽ giúp ích nhiều cho các bên khi tham
khảo hợp đồng. Mục lục của hợp đồng cần phải ghi rõ tên gọi theo thứ tự các điều
khoản cũng như đánh số trang của hợp đồng.
Quy định về tên, địa chỉ, số giấy phép kinh doanh, đại diện có thẩm
quyền và số tài khoản giao dịch của các bên tham gia hợp đồng: Trong hợp đồng
mua bán hàng hóa đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại để tránh
hợp đồng bị vô hiệu, khi soạn thảo hợp đồng luật sư cần phải kiểm tra các tài liệu liên
quan đến các giấy tờ trong hồ sơ hoạt động của đối tác như giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh… do các cơ quan có thẩm quyền cấp. Đặc biệt phải chú trọng đến vấn đề
người đại diện ký kết hợp đồng. Luật sư cần phải kiểm tra người đại diện ký kết hợp
đồng có thuộc thẩm quyền của mình không, có thẩm quyền ký kết không, có được ủy
quyền ký kết không … đây chính là một trong những lý do lớn dẫn đến hợp đồng mua
bán hàng hóa bị vô hiệu thường gặp nhất.
Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Đối với hợp đồng mua bán hàng
hóa, điều khoản về đối tượng hợp đồng là điều khoản hết sức quan trọng. Để tránh xung
đột, các sản phẩm dịch vụ cần phải được mô tả một cách chi tiết về số lượng, chất
lượng, quy cách, chủng loại, đặc tính kỹ thuật, màu sắc, điều kiện bảo quản… Do đó,
khi soạn thảo hợp đồng, luật sư cần phải hỏi khách hàng và đối tác của khách hàng
những thỏa thuận chi tiết, cụ thể về hàng hóa mua bán là đối tượng hợp đồng và phải có
riêng điều khoản quy định chặt chẽ về đối tượng hợp đồng.
Điều khoản về sự kiện bất khả kháng: Đây là điều khoản để miễn trừ
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Vì vậy, luật sư khi
soạn thảo hợp đồng phải đưa vào hợp đồng một điều khoản riêng về các sự kiện được
hai bên xem là sự kiện bất khả kháng, trong đó quy định cụ thể nghĩa vụ của các bên
trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng.
Điều khoản giải quyết tranh chấp: Có nhiều trường hợp các bên ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa dân sự nhưng lại quy định
khi xảy ra tranh chấp lại khởi kiện đến tòa kinh tế để giải quyết. Trường hợp này khi
xảy ra tranh chấp, các bên sẽ gặp khó khăn khi không được tòa kinh tế hoặc tòa dân sự
thụ lý vụ án. Hay trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, các bên lại
không quy định có tranh chấp xảy ra sẽ giải quyết bằng trọng tài thương mại. Thế
nhưng các bên lại không quy định rõ đích danh tổ chức trọng tài mà chỉ nêu chung
chung thì xem như thỏa thuận này bị vô hiệu.
8
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Điều khoản về phương thức giao hàng: Trong hợp đồng mua bán hàng
hóa, phương thức giao hàng là một điều kiện quan trọng khi đàm phán và soạn thảo hợp
đồng. Các bên có thể lựa chọn nhiều phương thức giao hàng khác nhau, mỗi phương
thức lại làm phát sinh những nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, luật sư cần chú ý đến việc
soạn thảo phương thức phù hợp nhất trong từng trường hợp cụ thể.
Điều khoản phụ lục hợp đồng: Luật sư chú ý nếu hợp đồng có phụ lục thì
phải quy định rõ các phụ lục là bộ phận không tách dời của hợp đồng và các bên cần ký
kết, đóng dấu (nếu có) vào tất cả các phụ lục hợp đồng
Điều khoản về ngày có hiệu lực của hợp đồng: Đối với hợp đồng mua
bán hàng hóa thì đây cũng là một trong những điều khoản quan trọng. Từ thời điểm hợp
đồng có hiệu lực sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì vậy cần phải quy định
rõ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, có thể hợp đồng có hiệu lực ngay sau khi ký kết
hoặc có hiệu lực sau vài ngày ký kết. Tùy vào đối tượng của hợp đồng mà luật sư cần
quy định điều khoản này cho phù hợp.
Trên đây chỉ là một số khía cạnh mà các luật sư cần chú ý khi soạn thảo hợp đồng
mua bán hàng hóa. Hợp đồng càng chi tiết, cụ thể và chặt chẽ bao nhiêu thì quyền lợi
khách hàng càng được bảo vệ bấy nhiêu. Các tranh chấp sẽ bị hạn chế phát sinh, hoặc
khi tranh chấp phát sinh thì việc xử lý cũng đơn giản do trong hợp đồng đã có những
thoả thuụân chi tiết và cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên.
III. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TƯ VẤN
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.
Kết quả cuối cùng của quá trình thiết lập quan hệ giao dịch mua bán hàng hóa là
ký kết hợp đồng. So với quá trình đàm phán, soạn thảo hợp đồng thì đây là giai đoạn
khá dễ dàng đối với vai trò tư vấn của luật sư. Tuy nhiên, luật sư vẫn cần phải chú ý một
số vấn đề sau để đạt hiệu quả công việc:
Luật sư nên đọc thật kỹ lại hợp đồng trước khi ký kết, đặc biệt chú ý đến những
điều khoản quan trọng, đến ý nghĩa của từ, văn phong, cách trình bày … để đảm bảo
không có sai sót trong nội dung.
Luật sư nên kiểm tra lại về thẩm quyền ký kết hợp đồng. Người ký kết hợp đồng
phải có đủ thẩm quyền ký kết. Phải có đủ các sự đồng ý của các cấp có liên quan, người
đứng ra ký kết không có thẩm quyền ký kết thì sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu.
Luật sư cần đề nghị các bên tham gia ký kết, ký nháy từng trang và ký đầy đủ,
đóng dấu ở trang cuối cùng, dấu giáp lai, tránh hiện tượng gian lận có thể xảy ra sau này
do việc đánh tráo trang.
9
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
Luật sư cần kiểm tra lại một lần nữa các văn bản pháp luật, các bản khách hàng
cung cấp liên quan đến hợp đồng vào thời điểm ký kết để xác nhận mọi nội dung là phù
hợp.
Sau khi ký kết hợp đồng, luật sư nên photo lại bản hợp đồng đã được ký kết để
làm hồ sơ lưu trữ tại văn phòng. Bởi vì, luật sư cần có tài liệu lưu trữ cho quá trình làm
việc của mình, làm tài liệu nghiên cứu cho những lần tư vấn sau đó, làm tài liệu, chững
cứ cho việc giẩi quyết các tranh chấp có thể phát sinh về sau ….
Luật sư sẽ phải thường xuyên tư vấn cho khách hàng trong quá trình thực hiện,
đặc biệt là khi có phát sinh tranh chấp. Khách hàng đôi khi sẽ để mất chính bản gốc của
hợp đồng mà họ giữ. Vì vậy, nếu luật sư có được bản hợp đồng copy thì sẽ giúp cho
khách hàng trong quá trình giải quyết được thuận lợi hơn.
PHẦN III: KẾT LUẬN.
Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung đã rất chú trọng,
quan tâm đến việc đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng đúng trình tự, thủ tục, quy
định của pháp luật. Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan mà hầu hết
các doanh nghiệp chỉ ký kết các hợp đồng hết sức đơn giản theo mẫu chung và tồn tại tự
10
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
nhiều năm nay. Trong khi đó mỗi quan hệ hợp đồng ngoài những điểm chung mà hợp
đồng nào cũng có còn có những nét riêng biệt do nhiều yếu tố tạo nên, đặc biệt là đối
với hợp đồng mua bán hàng hóa, loại hợp đồng thông dụng nhất trong giao dịch hiện
nay.
Để bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng, đòi hỏi hợp đồng
phải được đàm phán, soạn thảo, ký kết một cách chặt chẽ, đúng quy định pháp luật. Yêu
cầu này đòi hỏi các bên ký kết hợp đồng phải có một trình độ am hiểu pháp luật nhất
định cũng như giàu kiến thức kinh tế - xã hội. Thông thường rất ít khi người ký kết hội
đủ những điều kiện này, vì vậy họ cần có sự tư vấn của luật sư.
Trong những kỹ năng về tư vấn pháp luật và hợp đồng thì kỹ năng của luật sư
trong tư vấn đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng là kỹ năng hết sức quan trọng đối
với một luật sư. Trong ba giai đoạn, ba bước để xác lập một giao dịch thông qua hợp
đồng: đàm phán, soạn thảo, ký kết đòi hỏi ở luật sư rất nhiều kỹ năng và nhiều kiến thức
pháp luật và trên những lĩnh vực khác. Vì vậy, một luật sư muốn là thành công trong
lĩnh vực tư vấn hợp đồng thì cần phải có kỹ năng tư vấn giỏi trong đàm phán, soạn thảo,
ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Qua tiểu luận này, người viết đã trình bày một số kỹ năng cần thiết của người
luật sư trong đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa, soạn thảo hợp đồng và ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa. Trình bày những điều cần lưu ý khi đàm phán, soạn thảo, ký
kết hợp đồng. Từ đó, có thể rút ra được những kinh nghiệm tư vấn cho bản thân.
Trong giới hạn của một tiểu luận, người viết không thể trình bày hết những kỹ
năng của luật sư trong tư vấn đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng cũng như không thể
tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ
quý thầy cô, bạn bè và các đồng nghiệp để tác giả có thể hoàn thiện kỹ năng của mình,
trở thành một người hành nghề luật sư chuyên nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005.
- LUẬT THƯƠNG MẠI 2005.
11
Tiểu luận Tư vấn Pháp luật và Hợp đồng.
Nguyễn Xuân Đệ - lớp K, LS 7.3
- LUẬT NHÀ Ở 2005.
- CÁC NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN THI HÀNH CÁC BỘ LUẬT VÀ LUẬT
NÓI TRÊN.
- CÁC BÀI GIẢNG CỦA CÁC THẦY, CÔ GIÁO TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP.
- CÁC BÀI VIẾT VỀ TƯ VẤN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC TÁC
GIẢ TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG.
- CÁC BÀI NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT
NAM SAU KHI HỘI NHẬP WTO ….
12