TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT KINH TẾ
Môn học: LUẬT THƯƠNG MẠI II
Đề tài nghiên cứu:
HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI
GVHD : TS. Lê Văn Hưng
Lớp
: VB15LA001
Nhóm
:7
1)
2)
3)
4)
5)
6)
7)
8)
Lê Tuyết Linh – Nhóm trưởng
Nguyễn Thị Phương Uyển
Võ Thị Kim Ngọc
Nguyễn Thị Thương
Trác Thục Quỳnh
Nguyễn Thị Thùy Nị
Võ Thị Thanh Thúy
Huỳnh Thị Thảo
TP. HCM, tháng 09 năm 2013
MỤC LỤC
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Nhóm 7
Trang 2
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm và các hình thức về nhượng quyền thương mại
1.1. Khái niệm
Căn cứ Điều 284 Luật Thương Mại 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP Hướng
dẫn chi tiết Luật Thương Mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, thì nhượng quyền
thương mại được hiểu như sau:
Đây là một thỏa thuận hay cho phép hoặc cấp phép giữa hai tổ chức pháp lý độc
lập trong đó:
-
Bên nhận quyền có quyền tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ sử dụng phương pháp hoạt động
của bên giao quyền.
-
Bên nhận quyền có trách nhiệm phải trả cho bên giao quyền các khoản phí cho các quyền
lợi này.
-
Bên giao quyền có trách nhiệm phải cung cấp các quyền lợi và trợ giúp cho bên nhận
quyền.
Đối tượng của nhượng quyền thương mại là “Quyền Thương Mại”. Theo điểm c,
khoản 6 Điều 3, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP thì “quyền thương mại” được hiểu bao
gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây:
-
Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến hành
công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do Bên nhượng
quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền.
Nhóm 7
Trang 3
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
-
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại
chung.
-
Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp theo hợp
đồng nhượng quyền thương mại chung.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại:
-
Căn cứ Điều 285 Luật Thương Mại 2005: Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
-
Theo Điều 11 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, nội dung hợp đồng nhượng quyền thương
mại bao gồm:
+ Nội dung của quyền thương mại.
+ Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền.
+ Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền.
+ Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán.
+ Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
+ Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.
Một số thương hiệu nhượng quyền kinh doanh hiện nay:
Nhóm 7
Trang 4
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
1.2. Các hình thức nhượng quyền thương mại
a. Nhượng quyền có tham gia quản lý (management franchise)
-
Bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp người quản lý và điều hành doanh nghiệp ngoài việc
-
chuyển nhượng sở hữu thương hiệu và mô hình, công thức kinh doanh.
Hình thức nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớn như Holiday Inc,
-
Marriott,…
b. Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (equity franchise)
Người nhượng quyền tham gia vốn đầu tư với tỉ lệ nhỏ dưới dạng liên doanh (như trường
hợp của Five Star Chicken (Mỹ) ở Việt Nam để trực tiếp tham gia kiểm soát hệ thống).
Bên nhượng quyền có thể tham gia Hội đồng quản trị công ty mặc dù vốn tham gia đóng
-
góp chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ.
Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnh tranh thị
trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm ba yếu tố quan trọng sau khi lựa chọn mô
hình nhượng quyền phù hợp cho doanh nghiệp:
+ Mức độ kiểm soát hệ thống
+ Chi phí phát triển hệ thống
+ Mức độ bao phủ thị trường
-
Những yếu tố này cũng bao phủ đến chiến lược franchise và cách lựa chọn các cấu trúc
nhượng quyền phù hợp khi ký kết hợp đồng như:
+ Nhượng quyền thương mại đơn lẻ (single – unit franchise): là cách thức nhượng quyền
thương mại trong đó bên nhượng quyền tiến hành nhượng quyền trực tiếp cho từng đối
tác riêng lẻ để mở một cơ sở kinh doanh, tại một địa điểm nhất định và trong một thời
gian cụ thể. Nếu bên nhận nhượng quyền muốn mở thêm một đơn vị nhượng quyền mới,
thì cũng phải ký thêm hợp đồng mới với nội dung tương tự với bên nhượng quyền. Theo
hình thức này, bên nhận nhượng quyền không được phép nhượng quyền lại. Đây là hình
thức nhượng quyền thương mại đơn giản nhất và phổ biến nhất.
Nhóm 7
Trang 5
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
+ Nhượng quyền thương mại đa cơ sở (multiple-unit franchise): cách thức nhượng quyền
thương mại thông qua đó thiết lập nhiều hơn một cơ sở kinh doanh theo phương thức
nhượng quyền thương mại.
+ Nhượng quyền thương mại toàn quyền (master franchise): trong đó người mua được phép
thực hiện nhượng quyền lại trong một khu vực, lãnh thổ cụ thể và cam kết phát triển về
số lượng đơn vị kinh doanh nhượng quyền trong từng giai đoạn cụ thể với bên bán.
+ Nhượng quyền thương mại phát triển khu vực (area development franchise): tương tự
nhượng quyền thương mại đơn lẻ, người mua được độc quyền mở ra nhiều đơn vị kinh
doanh (số lượng theo cam kết với bên bán) tại một khu vực, lãnh thổ nhất định và theo
thời gian cụ thể. Người mua trong trường hợp này cũng không được phép nhượng quyền
lại.
c. Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format
-
franchise)
Mô hình này được cấu trúc chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất trong các mô hình nhượng quyền,
thể hiện mức độ hợp tác và cam kết cao nhất giữa các bên, có thời hạn hợp đồng từ trung
hạn (5 năm) đến dài hạn (20 hay 30 năm).
Bên Nhượng Quyền
Bên Nhận Quyền
Chia sẻ và chuyển nhượng ít nhất 4 loại
“sản phẩm” cơ bản, bao gồm:
Hệ thống: chiến lược, mô hình, quy trình
vận hành được chuẩn hóa, chính sách quản
lý, cẩm nang điều hành, huấn luyện, tư vấn
và hỗ trợ khai trương, kiểm soát, hỗ trợ tiếp
thị, quảng cáo.
Bí quyết công nghệ sản xuất, kinh doanh.
Hệ thống thương hiệu.
Sản phẩm, dịch vụ.
Thu thêm các khoản chi phí khác như chi
phí thiết kế và trang trí cửa hàng, mua trang
thiết bị, chi phí tiếp thị, quảng cáo, các
khoản chênh lệch do mua nguyên vật liệu,
Thanh toán cho bên nhượng quyền hai
khoản phí cơ bản là:
Phí nhượng quyền ban đầu (up-front fee).
Phí hoạt động (royalty fee), thường được
tính theo doanh số bán định kỳ.
Nhóm 7
Trang 6
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
chi phí tư vấn,…
-
Điển hình của loại nhượng quyền này có thể kể đến chuỗi thức ăn nhanh KFC, Subway,
McDonald’s, Starbucks, hoặc phở 24 của Việt Nam.
d. Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (non-business format
-
franchise)
Việc chuyển nhượng một số yếu tố nhất định của mô hình nhượng quyền hoàn chỉnh theo
nguyên tắc quản lý “lỏng lẻo” hơn, bao gồm các trường hợp phổ biến như sau:
+ Nhượng quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ (product distribution franchise) như sơ mi
cao cấp Pierre Cardin cho An Phước, Foci, chuỗi cà phê Trung Nguyên,…
+ Nhượng quyền công thức sản xuất sản phẩm và tiếp thị (marketing franchise) như:
CocaCola.
+ Nhượng quyền thương hiệu (brand franchise/trademark license) như: Crysler nhượng
quyền sử dụng thương hiệu Jeep và Pepsi cho sản phẩm thời trang may mặc ở châu Á;
nhượng quyền thương hiệu Hallmark (sản phẩm chính là thiệp) để sản xuất các sản phẩm
gia dụng như ra giường, nệm gối; nhượng quyền sử dụng các biểu tượng và hình ảnh của
Disney trên các sản phẩm đồ chơi.
+ Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên thương hiệu (banner
grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công ty cung cấp dịch vụ chuyên
nghiệp (professional service) hoặc loại tư vấn kinh doanh, tư vấn pháp lý như KPMG,
Ernst&Young, Grant Thornton…
-
Nhìn chung đối với mô hình nhượng quyền không toàn diện này, bên nhượng quyền là
chủ thể sở hữu thương hiệu/sản phẩm/dịch vụ thường không nỗ lực kiểm soát chặt chẽ
hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập của bên nhượng quyền chủ yếu từ việc bán
sản phẩm hay dịch vụ. Bên nhượng quyền thường có ý định mở rộng nhanh chóng hệ
Nhóm 7
Trang 7
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
thống phân phối nhằm gia tăng độ bao phủ thị trường, doanh thu và đi trước đối thủ như
-
trường hợp cà phê Trung Nguyên hoặc G7 Mart.
Đặc biệt, nhượng quyền thương hiệu (brand licensing) trở thành ngành kinh doanh hấp
dẫn và mang lại nhiều lợi nhuận to lớn cho bên nhượng quyền với tư cách là chủ thể sở
hữu thương hiệu mạnh (như Pepsi) và bên nhận quyền khi tiếp nhận và kinh doanh sản
phẩm gắn liền với thương hiệu đó (trường hợp thời trang Pepsi không có liên hệ gì với
sản phẩm “lõi” nước giải khát Pepsi mang cùng thương hiệu) nhờ sử dụng lợi thế giá trị
tài sản thương hiệu (brand equity) đã được phát triển qua nhiều năm.
Tuy có khá nhiều hình thức nhượng quyền hiện nay, nhưng pháp luật Việt Nam chỉ
quy định thành 02 loại: Nhượng Quyền Sơ Cấp và Nhượng Quyền Thứ Cấp (nghị định số
35/2006/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết Luật Thương Mại về hoạt động nhượng quyền
thương mại)
-
Nhượng quyền sơ cấp: là nhượng quyền thương mại lần đầu.
Nhượng quyền thứ cấp: người nhận quyền có quyền cấp lại quyền thương mại mà mình
đã nhận từ bên nhượng quyền ban đầu cho bên nhận quyền thứ cấp.
2. Đặc điểm hoạt động nhượng quyền thương mại
Ngày nay, giá trị thương hiệu là một nhân tố sống còn của công ty. Việc mở rộng
kinh doanh bằng mô hình nhượng quyền thương mại sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao
tầm ảnh hưởng, vị thế thương hiệu, thông qua kênh phân phối rộng lớn của mình.
Lợi ích đối với xã hội:
− Tiết kiệm được chi phí và rủi ro trong đầu tư, kinh doanh: Nhượng quyền thương mại còn
là một công cụ hữu hiệu để các công ty có thể thâm nhập vào những thị trường mới mẻ.
Phương thức này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và rủi ro khi việc đầu tư
trực tiếp, lập chi nhánh, hay phải thực hiện khảo sát, nghiên cứu nhiều tốn kém. Đối với
các doanh nghiệp Việt Nam đang có tham vọng đưa thương hiệu mình ra thế giới nhưng
chưa đủ lực để đầu tư trực tiếp thì mô hình nhượng quyền có lẽ là phù hợp nhất do không
phải bỏ vốn mà lại bảo hộ và quảng bá được thương hiệu của mình.
− Xã hội và nền kinh tế nói chung sẽ giảm bớt thiệt hại gây ra bởi những doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ do thiếu kinh nghiệm. Có thể xem kinh doanh franchise như là một công cụ
Nhóm 7
Trang 8
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
đào tạo của xã hội, của nền kinh tế đối với lớp doanh nhân mới lần đầu tự kinh doanh.
Thật vậy, thông qua cửa hàng franchise, doanh nhân mới vào nghề có cơ hội học hỏi kinh
nghiệm điều hành từ một hệ thống bài bản và đã được chứng minh thành công của chủ
thương hiệu. Sau khi được trang bị kiến thức và kinh nghiệm thực tế, người mua
franchise sẽ tự tin hơn nếu muốn bắt đầu xây dựng riêng cho mình một mô hình kinh
−
doanh mới.
Giải quyết tranh chấp (nếu có) theo điều lệ của WTO: Do nhượng quyền thương mại là
một hoạt động có liên quan đến li-xăng và chuyển giao công nghệ nên việc xảy ra tranh
chấp cũng là một vấn đế cần quan tâm. Khi đã là thành viên của WTO, các tranh chấp về
thương mại của Việt Nam cũng sẽ được giải quyết dựa trên những điều lệ của tổ chức
này. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thông thoáng hơn, ít tốn thời gian và có tính
ràng buộc cao.
Lợi ích đối với Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền:
Nhượng quyền thương mại là một bước tiến vĩ đại của nền kinh tế thế giới, với
khả năng khuếch trương các địa điểm kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cho doanh
nghiệp một các đáng kể.
Bên nhượng quyền (Franchisor):
− Vốn: vì trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt động kinh doanh
lại chính là bên nhận quyền. Nói cách khác, bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh
doanh bằng chính đồng vốn của người khác nên giảm đươc chi phí thâm nhập thị trường.
Đồng thời việc phải bỏ vốn kinh doanh là động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố
gắng hoạt động có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên nhượng quyền. Đây
có thể nói là một mũi tên trúng hai đích.
− Thời gian: vì việc chuẩn bị tất cả những “nguyên liệu” cần thiết cho việc kinh doanh có
bàn tay của cả hai bên góp vào. Hình thức nhượng quyền sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng
sự hiện diện thương mại một cách nhanh chóng cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, bên
Nhóm 7
Trang 9
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà bên nhượng quyền không thể tiếp cận
được.
− Tối đa hóa thu nhập: Khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền bản quyền thuê
thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của bên nhượng quyền.
Đồng thời, bên nhận quyền phải mua sản phẩm, nguyên liệu của bên nhượng quyền, nhờ
đó mà bên nhượng quyền có thể tối đa hóa thu nhập của mình.
− Mở rộng hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng: Ngày nay, những sự thay đổi trên
thị trường diễn ra rất nhanh. Lẽ dĩ nhiên là nếu bạn không thay đổi, phát triển và mở rộng
cùng với thị trường thì bạn sẽ bị các đối thủ cạnh tranh qua mặt, những cơ hội kinh doanh
cũng sẽ trôi qua tầm tay. Hình thức nhượng quyền sẽ giúp bạn mở rộng hoạt động kinh
doanh, xây dựng sự hiện diện ở khắp mọi nơi một cách nhanh chóng với hàng trăm cửa
hàng trong và ngoài nước mà không một hình thức kinh doanh nào có thể làm được.
− Thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu: Khi sử dụng hình thức nhượng quyền, bên nhượng
quyền sẽ tạo được những lợi thế trong việc quảng cáo, quảng bá thương hiệu của mình.
Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở khắp nơi của chuỗi cửa hàng sẽ đưa hình ảnh về
sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng một cách dễ dàng hơn.
−
Chi phí quảng cáo cho một đơn vị kinh doanh là rất nhỏ: vì chi phí quảng cáo sẽ được
trải rộng cho rất nhiều cửa hàng. Điều này giúp bên nhượng quyền xây dựng được một
ngân sách quảng cáo lớn. Đây là một lợi thế cạnh tranh mà khó có đối thủ cạnh tranh nào
có khả năng vượt qua. Hoạt động quảng cáo càng hiệu quả, hình ảnh về sản phẩm,
thương hiệu càng được nâng cao, giá trị vô hình của công ty càng lớn sẽ mang lại nhiều
thuận lợi cho bên nhận quyền khi sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền.
Và như thế cả bên nhượng quền và bên nhận quyền ngày càng thu được nhiều lợi nhuận
từ việc áp dụng hình thức kinh doanh nhượng quyền.
Nhóm 7
Trang 10
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
− Tăng doanh thu: Chủ thương hiệu hoàn toàn có thể cải thiện doanh số của mình bằng việc
nhượng quyền sử dụng thương hiệu và công thức kinh doanh mà ngày nay đã được xem
như là một thứ tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp. Thông qua các phí: Phí nhượng
quyền ban đầu, phí hàng tháng, doanh thu từ việc bán các nguyên liệu đặc thù để đảm bảo
tính đồng bộ của sản phẩm hay mô hình kinh doanh. Ví dụ như Mc Donald’s cung cấp và
bán cho các cửa hàng nhượng quyền của mình một số nguyên liệu quan trọng như khoai
tây, bánh táo, pho mat…
Bên nhận quyền (Franchisee):
− Giảm thiểu được rủi ro: Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ
lệ thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới
bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các
đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh.
Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được truyền đạt các
kinh nghiệm quản lý, bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền đã thành công qua
những lần trải nghiệm trên thương trường. Chính vì thế, bên nhận quyền sẽ không phải
trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên
nhận quyền các nguyên tắc chung. Bên cạnh đó, bên nhận quyền chỉ cần tập trung vào
việc điều hành hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy
trình vận hành, chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền chuyển giao.
Những nghiên cứu gần đây nhất đã cho thấy 90% công ty theo hợp đồng thương
hiệu tại Hoa Kỳ tiếp tục hoạt động sau 10 năm, trong khi 82% công ty độc lập phải đóng
cửa và cũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so
với 38% công ty độc lập.
− Được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền: Ngày nay, trên thị trường có hàng
ngàn sản phẩm và dịch vụ có cùng giá trị sử dụng nhưng được cung cấp bởi các nhà sản
Nhóm 7
Trang 11
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
xuất khác nhau. Do đó, việc cố gắng tạo dựng một thương hiệu nổi tiếng, được khách
hàng tin cậy và nhớ đến là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.
− Tận dụng các nguồn lực: bên nhận quyền không phải nghiên cứu marketing hay thiết lập
mạng lưới mà có thể tham gia ngay vào hệ thống vốn sản xuất, kinh doanh những sản
phẩm, dịch vụ vốn đã và đang nổi tiếng. Bên nhận quyền chỉ tập trung vào việc điều hành
hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy trình vận hành,
chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách và chuyển giao.
− Tận dụng nguồn nhân lực: bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh doanh và đây là
động lực để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn. Vì khi người nhận quyền là chủ nên họ có trách
nhiệm hơn. Nhờ vậy, bên nhượng quyền tận dụng được nguồn nhân lực từ phía nhận
quyền.
Ngoài ra, bên nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà bên nhượng quyền
không thể tiếp cận được và họ có thể nắm vững thông tin địa phương hơn bên nhượng
quyền.
− Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền luôn có những ưu
đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên nhận quyền. Do đó, bên nhận
quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao
đầy hấp dẫn, tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp nhận quyền.
Giá của các sản phẩm, nguyên liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh
tranh lớn. Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì
bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước. Điều này giúp cho
bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường.
− Nhãn hiệu đã được bảo hộ sẵn: Đa số các thương hiệu, nhãn hiệu khi bán Franchise đã
được đăng kí bảo hộ nhãn hiệu tại nhiều nước nên giảm thiểu chi phí đăng kí cho bên
mua cũng như được bảo hộ trong kinh doanh.
Nhóm 7
Trang 12
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
− Bán những sản phẩm chất lượng cao và ổn định: Phần lớn các doanh nghiệp và những
sản phẩm mới bị thất bại thường là do phải chi phí nhiều cho việc nghiên cứu và phát
triển. Còn quy trình tạo ra sản phẩm trong các chuỗi nhượng quyền được phân nhỏ và
tiêu chuẩn hóa, đảm bảo mọi sản phẩm bán ra từ một chuỗi các cửa hàng nhượng quyền
của cùng một thương hiệu có chất lượng đồng nhất, đảm bảo.
Quy trình làm việc cụ thể còn giúp cho nhân viên làm việc có hiệu quả và thích
nghi với tất cả công việc.
− Giảm thiểu chi phí xây dựng ban đầu: quảng cáo, thành lập doanh nghiệp, nghiên cứu thị
trường. Bên mua cũng không phải lo lắng quá nhiều về thái độ của người tiêu dùng đối
với sản phẩm của mình.
− Có được sự huấn luyện ban đầu kỹ lưỡng và sự hỗ trợ toàn diện về lâu dài: Việc nhượng
quyền không chỉ dừng ở việc đào tạo. Sự thành công và lợi nhuận của cả bên bán và bên
mua có quan hệ mật thiết với nhau. Bên bán có một đội ngũ chuyên gia cố vấn cao cấp sẽ
hỗ trợ cho người được nhượng quyền mọi lĩnh vực từ nhân sự tới hệ thống kế toán… Có
19 hạng mục quan trọng mà người mua Franchise có thể thụ hưởng:
1. Kỹ thuật bán hàng
2. Nghiên cứu phát triển sản phẩm
3. Phương pháp kiểm soát chất lượng
4. Đào tạo, huấn luyện
5. Quan hệ khách hàng
6. Chiến thuật về giá
7. Hỗ trợ, tư vấn thuê, mua bất động sản
Nhóm 7
Trang 13
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
8. Hỗ trợ thiết kế
9. Danh sách trang thiết bị cần thiết
10. Các vấn đề pháp lý
11. Thương hiệu
12. Sản phẩm
13. Dịch vụ
14. Phương pháp kinh doanh
15. Hệ thống sổ sách kế toán
16. Phương pháp dự đoán trong kinh doanh
17. Phương pháp lên kế hoạch chiến lược
18. Phân tích xu thế thị trường
19. Tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại
Thách thức đối với Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền:
Bên nhượng quyền (Franchisor):
Thông thường, chúng ta nghĩ rằng bên giao nhượng quyền sẽ hưởng một khoản
không nhỏ từ bên nhận nhượng quyền. Tuy nhiên, thực tế không hẳn như vậy! Đôi bên
hợp tác, chắc chắn mục đích của họ là lợi nhuận, nhưng họ cũng có những khó khăn nhất
định.
− Uy tín của một mắt xích trong hệ thống nhượng quyền sẽ quyết định uy tín của cả một hệ
thống, đặc biệt là đối với những hệ thống nhượng quyền mới phát triển. Thách thức này
Nhóm 7
Trang 14
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
nằm ngay trong lợi thế của nó. Khi mạng lưới phân phối dày đặc rộng lớn tồn tại yếu
điểm với một số lượng lớn cửa hiệu nhượng quyền cách trở về địa lý, thông tin thì việc
quản lý của các nhà quản lý sẽ gặp trở ngại nhất là khi cần có sự xử lý kịp thời và mang
tính chuyên môn (một vấn đề có thể là hạn chế đối với bên mua). Đôi khi chỉ là thái độ
thiếu lịch sự của một nhân viên một cửa hàng franchise hay vết bẩn trong món ăn dẫn tới
tổn hại chung cho cả thương hiệu và các đối tác trong hệ thống. Yếu điểm của một đại lý
sẽ tổn hại tới uy tín của cả thương hiệu, hoặc chỉ cần có những tin đồn thất thiệt về một
khâu sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới toàn bộ chuỗi cung ứng.
Ví dụ Cafe Trung Nguyên: Trong những năm đầu do là đơn vị đi tiên phong trong lãnh
vực franchise tại Việt Nam nên Trung Nguyên đã khá bối rối trong hướng đi của mình và
khá dễ dãi trong việc bán franchise dẫn đến hiện trạng có quá nhiều quán cafe cùng mang
nhãn hiệu nhưng không cùng một đẳng cấp. Nói cách khác Trung Nguyên rơi vào tình thế
mất kiểm soát chất lượng và tính đồng bộ của mình vì bắt đầu bán franchise với số lượng
lớn khi chưa có đủ sự chuẩn bị. Thật vậy có quán thì khá bề thế, có quán lại quá xập xệ,
khiêm tốn hay có quán có máy lạnh phục vụ tốt, tay nghề khá và có quán tay nghề kém
bình dân, trang trí nội thất cũng không đồng bộ theo một chuẩn mực chung. Từ cuối năm
2002 Trung Nguyên đã cho mời chuyên gia người Úc sang để khắc phục tình trạng này
nhưng trên thực tế để điều chỉnh lại hệ thống với hơn 400 quán cà phê trải dài khắp nước
quả là một thách thức của người điều hành mỗi quán cafe và của người chủ thương hiệu
nói chung.
− Nguy cơ bị mất cắp bí quyết kinh doanh trong quá trình hoạt động cũng là một thách
thức đặt ra đối với một nhà quản lý thương hiệu. Bên mua franchise sẽ được chủ thương
hiệu đào tạo phương thức hoạt động cung cấp những phương công thức chế biến đặc biệt
mang đặc trưng thương hiệu. Đặc điểm này khiến cho kinh doanh nhượng quyền thương
mại khó có thể diễn ra ở những nơi có hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh như là ở Việt Nam.
Việc nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của thương hiệu thực tế đã dẫn đến
nhiều bài học vô cùng đắt giá cho chủ thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế. Do
Nhóm 7
Trang 15
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
không chú trọng tới thương hiệu nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã quên đăng kí bảo
hộ, chỉ đến khi thương hiệu hay nhãn hiệu của mình bị chiếm đoạt thì mới nhận ra và tìm
cách khiếu kiện. Và khi đó mới biết mình không lưu đủ giấy tờ, hồ sơ cần thiết để chứng
minh quyền sở hữu đối với thương hiệu của mình.
Ví dụ: Bánh phồng tôm Sa Giang của An Giang khi xuất khẩu sang Châu Âu thông qua
một đại lý đã bị chính đại lý đó lợi dụng và chủ thương hiệu Sa Giang tại Việt Nam đã
phải mua lại nhãn hiệu của chính mình nếu không thì không có cách nào xâm nhập thị
trường Mỹ.
− Đối tác chủ thương hiệu (bên mua) thường có xu hướng trở thành đối thủ cạnh tranh của
doanh nghiệp nhượng quyền trong nỗ lực giành lấy khách hàng và thị phần: Các CEO
của bên nhượng quyền cũng phải đối mặt với một khó khăn không nhỏ đó (trong trường
hợp cạnh tranh không lành mạnh).
− Mối nguy từ những đối thủ tiềm tàng cũng như người nhận quyền không trung thực: Bên
cạnh những thế mạnh như hiệu quả kinh doanh cao, tiềm lực tài chính mạnh, nhiều cơ hội
lấn sân qua những lĩnh vực khác, mặt trái của Franchise chính là mối nguy từ những đối
thủ tiềm tàng cũng như người nhận quyền không trung thực.
− Hợp đồng nhượng quyền chưa thực hiện đăng kí được: Luật Thương Mại 6/2007 có quy
định về hợp đồng Franchise nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành luật nên chưa
thực hiện được việc đăng kí trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Có 4 rủi ro có thể
xảy ra cho hợp đồng Franchise đặt biệt khi không đăng kí:
Khả năng vô hiệu hợp đồng.
Không lấy được tiền bản quyền.
Không tính được phí chuyển nhượng.
Bên nhận quyền (Franchisee):
+
+
+
Mặc dù có quyền cao nhất trong khu vực hoạt động của mình, nhưng bên mua vẫn
phải chịu một số ràng buộc với chủ thương hiệu theo thỏa thuận trong hợp đồng nếu
không sẽ bị phạt vi phạm.
Nhóm 7
Trang 16
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
− Không được tự ý điều chỉnh việc kinh doanh: thay đổi menu, hạ giá thành sản phẩm…
việc kinh doanh nhắm đến một đối tượng khách hàng với một mục tiêu nhất định theo
phân khúc thị trường mà bên nhượng quyền đã xác định trong chiến lược kinh doanh của
mình.
− Bị giới hạn việc sử dụng thương hiệu trong một khu vực kinh doanh nhất định: Khảo sát
cho thấy 100% các doanh nghiệp nhượng quyền đều Ngoài mục đích kinh doanh chính
các franchisee không được phép thay đổi bất kỳ một sự xáo trộn nào không được phép
quy định trong hợp đồng. Tất cả các chương trình quảng bá khuyến mãi đều phải thông
qua ý kiến của bên nhượng quyền. Lý giải về việc này anh Hoàng Trung phụ trách đào
tạo nhượng quyền của doanh nghiệp Trung Nguyên cho biết: “mục đích là để bảo vệ
thương hiệu cho franchisor và đảm bảo sự công bằng cho các franchisee khác trong hệ
thống không làm ảnh hưởng đến doanh số của nhau khi có những chương trình khuyến
mãi, giảm giá tự phát của một số cửa hàng”.
−
Phải thường xuyên báo cáo doanh thu và tình hình hoạt động định kỳ cho bên bán, đóng
khoản phí hàng tháng dù kinh doanh thua lỗ. Trên thế giới khoản phí này dao động trong
khoảng từ 3 – 10% tổng doanh thu hàng tháng còn ở Việt Nam là 2 – 3%. Tuy nhiên đây
là khoản tính trên tổng doanh thu sau khi đã trừ thuế, vì vậy nếu bên mua franchisee quản
lý chi phí không tốt, kinh doanh thua lỗ thì vẫn phải nộp cho bên chủ thương hiệu một
khoản phí định kỳ dựa trên doanh số bán ra.
− Không chủ động được nguồn nguyên liệu: Chỉ có thể sử dụng nguồn nguyên liệu chỉ định
hoặc cung ứng bởi chủ thương hiệu do đó không chủ động được giá cả, thậm chí ảnh
hưởng đến tiến độ công việc thay vì có thể sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có chất lượng
ngang bằng thì phải đợi để có được nguồn nguyên liệu quy định.
Ví dụ: Trường hợp các cửa hàng KFC ở Việt Nam để làm ra món khoai tây chiên mỗi
năm hệ thống này phải nhập về Việt Nam gần 200 tấn khoai tây Wasington từ Mỹ theo
yêu cầu của chủ thương hiệu.
Nhóm 7
Trang 17
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
− Nguy cơ bị tổn hại do các franchise khác trong hệ thống hoạt động không hiệu quả hoặc
làm trái với các nguyên tắc hoạt động kinh doanh đã được thống nhất. Gần đây Nam An
Group đã phát hiện một trường hợp cửa hiệu phở 24 làm trái quy định: tiết giảm chi phí
hoạt động bằng việc giảm lượng thịt trong tô, tắt máy lạnh; rất may là phát hiện kịp thời
chưa gây ảnh hưởng đến uy tín của chuỗi cửa hàng phở 24.
− Không chủ động được khi chủ thương hiệu cắt hợp đồng khi hết thời hạn:
Thời hạn hiệu lực của một hợp đồng nhượng quyền được các franchisor Việt Nam xác
định khác nhau tùy theo lĩnh vực và chiến lược nhượng quyền. Kết quả khảo sát cho thấy
lĩnh vực kinh doanh thức uống có thời hạn trung bình là 2 – 3 năm, doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ thực phẩm là 5 năm,… Nguy cơ bị lừa đảo tại một số quốc gia đã có
trường hợp chủ thương hiệu sau khi nhận tiền nhượng quyền các franchisee thì trốn mất
(hiện trạng này hiện chưa có ở Việt Nam).
− Đòi hỏi các CEO phải có kinh nghiệm hoặc hiểu biết chuyên môn: Quản lý kinh doanh là
một công việc phức tạp. Đây cũng là điều mà các franchisee cần xem xét quyết định có
nên đăng ký xin được chuyển nhượng hay không.
Một trong những thách thức lớn nhất mà Phở 24 gặp phải trong quá trình chuyển
nhượng trong nằm ở chỗ đội ngũ nhân viên hay trang thiết bị đồng bộ mà ở chỗ chính đối
tác mua franchise - người chủ điều hành quán phở nhượng quyền. Nếu chủ quán không
quan tâm hay thiếu kinh nghiệm vì chỉ là một nhà đầu tư đơn thuần thì khó có thể đưa ra
những quyết định đúng đắn và như thế mô hình kinh doanh nhượng quyền sẽ không đạt
kết quả tối ưu ảnh hưởng ít nhiều đến hình ảnh chung của thương hiệu. Ngược lại trong
một số trường hợp khác nếu đối tác mua franchise có quá nhiều kinh nghiệm trong lãnh
vực nhà hàng thì lại có xu hướng tự làm theo cách của mình vì nghĩ mình đã quá rành.
− Phí nhượng quyền: Chi phí thành lập một cửa hàng Franchise cao hơn một cửa hàng độc
lập do có nhiều chi phí phát sinh. Ví dụ: người mua Franchise phải trả cho chủ thương
hiệu một khoản phí cao, ngoài ra phải trả phí tiếp thị, phí doanh thu hàng tháng.
Nhóm 7
Trang 18
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Trong trường hợp doanh nghiệp mua được quyền thương mại (nhượng quyền
thương mại), do được hưởng sự “an toàn” từ một thương hiệu đã có uy tín mang lại, nên
người mua quyền thương mại phải đóng phí nhượng quyền và chia sẻ một phần lợi nhuận
nhỏ cho chủ thương hiệu theo định kỳ hàng tháng mà thuật ngữ chuyên môn gọi là
royalty fee.
− Khó phát huy khả năng sáng tạo riêng: Người mua quyền thương mại còn phải tuân thủ
những quy định chung của cả hệ thống nhượng quyền, ví dụ như phần trang trí nội thất,
thực đơn, đồng phục, giờ hoạt động của cửa hàng phải đồng bộ với các cửa hàng khác
trong hệ thống. Yếu tố này sẽ gây khó chịu cho những doanh nhân đầy ý tưởng sáng tạo
và có nhu cầu chứng minh khả năng điều hành và quản lý doanh nghiệp của họ. Tuy
nhiên, người mua trong một số trường hợp cũng có thể đàm phán với chủ thương hiệu để
thay đổi chi tiết nêu trên cho phù hợp với tình hình thực tế của cửa hàng mình.
Do đó, mua nhượng quyền franchise (quyền thương mại) hay tự xây dựng một mô
hình kinh doanh với thương hiệu độc lập cho riêng mình là một quyết định tùy thuộc vào
mục đích và nhu cầu của mỗi doanh nhân. Nếu doanh nhân không phải là tuýp người
thích hợp mua nhượng quyền thì sẽ không bao giờ hài lòng và hợp tác tốt với chủ thương
hiệu hay người bán franchise.
Còn chủ thương hiệu thì sẽ không bao giờ chấp nhận duy trì hợp đồng nhượng
quyền cho các đối tác luôn “sáng tạo” và không tuân theo những tiêu chuẩn chung của hệ
thống chuỗi cửa hàng. Vì tính đồng nhất có vai trò quyết định trong sự thành bại của một
hệ thống nhượng quyền.
− Không có quyền sở hữu thương hiệu mãi mãi: Tất cả những công sức và tiền của mà chủ
cửa hàng Franchise đã bỏ ra để quảng cáo củng cố thêm cho thương hiệu (tài sản quý giá
nhất của doanh nghiệp) đều sẽ thuộc về người chủ thương hiệu. Điều này làm cho những
người mua Franchise lưỡng lự, không nhiệt tình đóng phí marketing hay quảng cáo cho
hệ thống Franchise.
Nhóm 7
Trang 19
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Thách thức đối với cả Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền:
− Sự chồng chéo trong khung pháp lý có thể gây ra lúng túng khó khăn tốn kém cho các
doanh nghiệp khi áp dụng: Vẫn chưa có khung pháp lý chính thức điều chỉnh hoạt động
này gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp khi tiến hành nhượng quyền. Thậm chí khi
các quy định trong Luật Thương Mại sửa đổi về hoạt động nhượng quyền thương mại
chính thức có hiệu lực sắp tới thì cũng tạo nên sự chồng chéo với Nghị định 11/2005/NĐCP ngày 2/02/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ sửa đổi. Theo đó trong
chương IV điều 32 thì Bộ Khoa học và Công nghệ, các Sở Khoa học và Công nghệ có
trách nhiệm xác nhận đăng ký chuyển giao công nghệ, thương hiệu tùy theo giá trị hợp
đồng mà Bộ hay Sở xác nhận. Nhưng Luật Thương Mại (sửa đổi và thông qua vào tháng
06/2005) thì lại quy định cơ quan xác nhận đăng ký nhượng quyền là Bộ thương mại.
− Nguồn nhân lực có kiến thức nhượng quyền thương mại còn khan hiếm chủ yếu là do
doanh nghiệp tự đào tạo và nhân viên tự học. Sau đây là kết quả khảo sát một số doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, điều này cho thấy một khoảng cách lớn giữa
−
lý thuyết và thực tiễn.
Việc xúc tiến nhượng quyền thương mại hiện vẫn còn nhiều hạn chế: mặc dù những năm
gần đây đã có nhiều nỗ lực nhưng thực sự vẫn chưa tạo được một thị trường chuyển
nhượng sôi động tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO với sự xâm nhập mạnh mẽ của hàng loạt
tập đoàn bán lẻ và đồ ăn nhanh bằng phương pháp franchising, họ có thể thành lập nên
mạng lưới kinh doanh dày đặc cạnh tranh với cường độ khốc liệt và có khả năng sẽ chiếm
lĩnh cả thị trường bán lẻ. Điều này đòi hỏi các CEO ở Việt Nam phải sớm vạch ra chiến
lược lâu dài.
Đội ngũ CEO trên ở Việt Nam đa phần tự học hỏi do đó những thất bại sai lầm là
không thể tránh khỏi. Trong khi đó đội ngũ quản lý chuyên viên cá doanh nghiệp nước
ngoài đều được đào tạo một cách bài bản, với chương trình tập huấn cập nhật. Đây là một
điểm hạn chế của nền giáo dục Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp trong công tác
đào tạo.
Nhóm 7
Trang 20
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Hơn bất cứ các thương hiệu cà phê được cho là đẳng cấp khác, Trung Nguyên vẫn
là thương hiệu in sâu trong tâm trí người tiêu dùng Việt Nam. Phong cách uống cà phê
của người Việt rất đậm đà và thật khác biệt các quốc gia khác trong khu vực, chính vì thế
hương vị cà phê của Trung Nguyên luôn được người tiêu dùng ưu tiên. Sự cam kết và
niềm đam mê mãnh liệt của doanh nghiệp này với thương hiệu và ngành cà phê là yếu tố
quan trọng tạo sự yên tâm lớn cho đối tác nhận nhượng quyền.
Ông Cho Young Jin, Tổng giám đốc Công ty TNHH Lotteria (Hàn Quốc) cho
biết: “Chúng tôi đã hiện diện ở Việt Nam từ năm 1998 và đã mở được 140 cửa hàng. Là
doanh nghiệp đưa hình thức kinh doanh thức ăn nhanh đến Việt Nam sớm nhất, Lotteria
gặp một số khó khăn do người dân Việt Nam vẫn còn lạ lẫm với loại thức ăn này và do
khác biệt về văn hóa. Trong quá trình đó, chúng tôi luôn nỗ lực để tìm ra một sản phẩm
phù hợp với khẩu vị người tiêu dùng Việt Nam, dựa vào 3 mục tiêu: sản phẩm tốt nhất,
giá cả cạnh tranh nhất, chất lượng và hình thức phục vụ tốt nhất”.
Thực đơn phù hợp với khẩu vị người Việt, thương hiệu có sự nhận biết rộng rãi,
quy mô chuỗi đủ lớn để tiết kiệm chi phí vận hành và thu mua là những điểm cạnh tranh
quan trọng của Lotteria trong cuộc chiến nhượng quyền thương mại.
Phong cách thức ăn Việt phục vụ theo phương thức “fast food” là một xu hướng
đang thịnh hành và có cơ hội thành công cao. Cơm tấm Mộc là một trong những thương
hiệu đó. Với mức vốn đầu tư thấp, vận hành đơn giản và không quá kén chọn về địa điểm
kinh doanh, đây là thương hiệu đầy hứa hẹn cho các nhà đầu tư thích ẩm thực.
Ministop là một mô hình cửa hàng tiện lợi độc đáo và hoàn toàn khác biệt. Chiến
lược kết hợp ngành hàng tiện lợi và thức ăn nhanh tạo thành một cửa hàng theo kiểu
“combo” mang lại cho người tiêu dùng nhiều trải nghiệm thú vị. Đây cũng là một sự kết
hợp tạo ra nhiều cơ hội lợi nhuận tiềm năng cho nhà đầu tư.
Sau sự bùng nổ các trung tâm đào tạo tiếng Anh, là sự phát triển nhanh chóng
những thương hiệu giáo dục toán học tư duy. Với tiềm năng thị trường rất lớn và số lượng
Nhóm 7
Trang 21
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
trung tâm đào tạo chỉ mới giai đoạn ban đầu, Mathnasium là cơ hội kinh doanh tương
đối thú vị cho các nhà đầu tư yêu trẻ em.
3. So sánh hoạt động nhượng quyền thương mại và các phương thức kinh doanh khác
Luật Thương Mại Việt Nam có hiệu lực từ tháng 01/2006 đã giúp thiết lập một
khung pháp lý rõ ràng hơn cho việc quản lý các hoạt động nhượng quyền thương mại.
Song trên thực tế, nhiều thương nhân khi muốn chọn lựa một mô hình kinh doanh phù
hợp, đã nhầm lẫn nhượng quyền thương mại với các hình thức kinh doanh khác có một số
đặc điểm tương đồng. Khi so sánh nhượng quyền thương mại và một số hình thức kinh
doanh khác theo pháp luật hiện hành, chúng ta nhận thấy có những khác biệt cơ bản như
sau:
3.1.
Nhượng quyền thương mại và hình thức chuyển giao công nghệ
a) Về tính chất
Nhượng quyền thương mại là phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
bằng một thỏa thuận cho phép thương nhân khác được sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, quy
trình kinh doanh, công nghệ,…của bên nhượng quyền, còn chuyển giao công nghệ là
hình thức chuyển giao quyền sử dụng/hoặc quyền sở hữu công nghệ để ứng dụng vào quy
trình sản xuất, kinh doanh.
b) Về phạm vi quyền lợi của Bên nhận quyền đối với đối tượng chuyển giao
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có quyền ứng
dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ nhãn hiệu, kiểu dáng, tên thương
mại nào mà họ muốn. Với nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được sử dụng
các công nghệ, quy trình kinh doanh để cung ứng các loại sản phẩm, dịch vụ có cùng chất
lượng, mẫu mã và dưới nhãn hiệu hàng hóa do bên nhượng quyền quy định. Bên nhận
quyền trở thành thành viên trong mạng lưới kinh doanh của bên nhượng quyền điều mà
trong hoạt động chuyển giao công nghệ không hình thành.
c) Về phạm vi đối tượng chuyển giao
Nhóm 7
Trang 22
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Đối tượng của chuyển giao công nghệ là “chuyển giao các kiến thức tổng hợp của
công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo,…kèm theo các kiến
thức công nghệ cho bên mua”. Đối tượng chuyển giao của nhượng quyền thương mại là
“quyền thương mại”, bao gồm các quy trình, cách thức kinh doanh do bên nhượng quyền
quy định, quy trình quản lý, huấn luyện nhân viên, thiết kế địa điểm kinh doanh,…
d) Vấn đề kiểm soát/hỗ trợ
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, về nguyên tắc, sau khi chuyển giao công
nghệ xong, bên chuyển giao sẽ không còn nghĩa vụ hỗ trợ/hoặc kiểm soát thêm đối với
bên nhận chuyển giao (trừ khi các bên thỏa thuận thêm những điều khoản phụ: thời hạn
bảo hành, nhiệm vụ huấn luyện nhân viên sử dụng công nghệ chuyển giao). Trong
nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền vừa có quyền kiểm soát toàn diện và chi
tiết, vừa có nghĩa vụ hỗ trợ đối với bên nhận quyền, nhằm đảm bảo tính thống nhất của
toàn bộ hệ thống nhượng quyền.
3.2.
Nhượng quyền thương mại và hoạt động li-xăng
a) Về đối tượng chuyển giao
Nếu hoạt động li-xăng chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quyền sử dụng các đối
tượng sở hữu công nghiệp, thì trong nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng các đối
tượng sở hữu công nghiệp chỉ là một phần của hoạt động chuyển giao, vì bên cạnh đó,
bên nhượng quyền còn chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu
kinh doanh, thiết kế, trang trí địa điểm kinh doanh,… Nói một cách tổng quát là chuyển
giao cả phần nội dung và hình thức của quy trình kinh doanh. Rõ ràng, đối tượng của
nhượng quyền thương mại rộng và bao quát hơn so với hoạt động li-xăng.
b) Về mục đích của quá trình chuyển giao
Trong hoạt động li-xăng, mục đích mà bên nhận li-xăng hướng tới là nhãn hiệu
hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xác định hình thức,
nội dung sản phẩm, còn trong nhượng quyền thương mại, mục tiêu mà bên nhượng quyền
và bên nhận quyền hướng tới là phát triển một hệ thống kinh doanh, trong đó nhãn hiệu
hàng hóa, các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp chỉ là một bộ phận.
c) Sự hỗ trợ/ kiểm soát giữa các bên trong quá trình chuyển giao
Nhóm 7
Trang 23
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
Với hoạt động li-xăng chỉ là sự hỗ trợ ban đầu khi bên chuyển giao chuyển
nhượng các đối tượng sở hữu công nghiệp cho bên nhận chuyển giao, còn trong nhượng
quyền thương mại, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền là toàn diện
và liên tục. Sự hỗ trợ này được quy định trong nội dung hợp đồng nhượng quyền thương
mại.
Bên cạnh đó, bên chuyển giao trong hoạt động li-xăng chỉ có quyền kiểm soát khi
cần thiết và trong phạm vi hẹp đối với bên nhận chuyển giao (do đối tượng của hợp đồng
li-xăng hẹp hơn đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại). Trong nhượng
quyền thương mại, bên nhượng quyền có quyền kiểm tra sâu sát, toàn diện đối với hoạt
động của bên nhận quyền (bằng hình thức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất). Và việc đối xử
bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng quyền đã được luật
định (đối xử bình đẳng về mức đầu tư ban đầu, mức phí nhượng quyền, phí định kỳ,…
nghĩa vụ hỗ trợ các hoạt động quản lý, huấn luyện nhân viên, thiết kế, trang trí các địa
điểm kinh doanh….), vấn đề này trong hoạt động li-xăng không bắt buộc thực hiện.
3.3.
Nhượng quyền thương mại và đại lý thương mại
Trong quan hệ đại lý thương mại, quyền sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền bán
hàng thuộc về bên giao đại lý, bên đại lý chỉ bán sản phẩm để hưởng thù lao (làm vai trò
trung gian giữa bên giao đại lý và bên thứ ba), tuy hợp đồng cung ứng sản phẩm, dịch vụ
được ký kết giữa đại lý và bên thứ ba, nhưng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
này lại ràng buộc bên giao đại lý.
Đối với nhượng quyền thương mại, thì tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể
hoàn toàn khác, quyền sở hữu hàng hóa dịch vụ thuộc bên nhận quyền, bên nhận quyền
có quyền nhân danh chính mình cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho bên thứ ba. Bên nhận
quyền cũng là người trực tiếp xác lập quan hệ thương mại với khách hàng, chịu trách
nhiệm về các vấn đề phát sinh từ sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp.
3.4.
Nhượng quyền thương mại và ủy thác mua bán hàng hóa
Trong hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, bên nhận ủy thác thực hiện việc mua
bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy
thác và được nhận thù lao ủy thác. Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa không bắt buộc
Nhóm 7
Trang 24
GVHD: TS. Lê Văn Hưng
phải chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp, quy trình kinh doanh, huấn luyện,…
cũng như không tồn tại nghĩa vụ kiểm soát/hỗ trợ kinh doanh toàn diện, chặt chẽ giữa các
bên như nhượng quyền thương mại. Như vậy, hai hoạt động thương mại này hoàn toàn
khác biệt nhau về cả đặc điểm, đối tượng, phạm vi và tính chất chuyển giao.
Nhượng quyền thương mại và hợp tác kinh doanh
3.5.
So với nhượng quyền thương mại, hợp tác kinh doanh cũng có một số điểm chung:
các bên tham gia không thành lập pháp nhân mới, doanh nghiệp đã kinh doanh thành
công trên thị trường phải đóng vai trò hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp vừa tham
gia vào thị trường. Tuy nhiên, hai hình thức kinh doanh này có những điểm khác biệt căn
bản: sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể kinh doanh, vai trò hỗ trợ và kiểm soát của bên
nhượng quyền đối với bên nhận quyền, khả năng giảm thiểu rủi ro đến mức tốt nhất trong
giai đoạn khởi đầu và giai đoạn phát triển của quá trình kinh doanh đã tạo nên những ưu
thế hoàn toàn khác biệt của nhượng quyền thương mại so với hợp tác kinh doanh.
4. Tình huống tranh chấp
TÌNH HUỐNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN
4.1.
-
Các vụ tranh chấp của cà phê Trung Nguyên
Cà phê Trung Nguyên của Đặng Lê Nguyên Vũ được xem là đã “nổ phát súng cho
“phong trào” mất thương hiệu vì quên không đăng ký. Năm 2000, Trung Nguyên từng bị
công ty Rice Field đăng ký bảo hộ thương hiệu Cafe Trung Nguyên tại Mỹ và WIPO (Tổ
chức bảo hộ Trí tuệ Thế giới).
Sau 2 năm thương thảo, Trung Nguyên mới lấy lại được thương hiệu này và Rice
Field nhận làm đại lý phân phối Cafe Trung Nguyên tại Mỹ.
Tuy không công bố cụ thể, nhưng để dàn xếp ổn thỏa, Trung Nguyên đã phải rất
vất vả và tiêu tốn hàng trăm nghìn USD để lấy lại tên miền này. Sau đó, cà phê Trung
Nguyên đã thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu tại hơn 60 nước và lãnh thổ trên thế
giới.
Nhóm 7
Trang 25