Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.76 KB, 20 trang )

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...........................................................................................................................................3
NỘI DUNG..............................................................................................................................................4
1. Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng..........................................................................4
1.1 Những quy định của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng.........................................4
1.1.1 Cơ sở của những quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng.........................................4
1.1.2 Quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng qua các thời kì............................................4
1.1.3. Quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong BLDS 2005........................................7
1.2 Những vướng mắc còn tồn tại trong quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng.................9
1.2.1 Quy định về một phần di sản dùng vào việc thờ cúng....................................................9
1.2.2 Quy định về nghĩa vụ thờ cúng của người được chỉ định quản lí di sản dùng vào việc
thờ cúng...................................................................................................................................10
1.2.3 Quy định về quản lí di sản trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc
đều đã chết..............................................................................................................................11
1.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật thừa kế về di sản dùng vào việc
thờ cúng.......................................................................................................................................12
1.3.1 Cần có quy định rõ ràng về một phần di sản dùng vào việc thờ cúng để tránh áp dụng
tùy tiện.....................................................................................................................................12
1.3.2 Cần đưa ra một chuẩn mực nhất định về việc thực hiện nghĩa vụ thờ cúng...............12
1.3.3 Cần sửa đổi quy định tại đoạn 3 Điều 670 cho phù hợp hơn.......................................13
1.3.4 Cần có quy định cụ thể về những di sản dùng vào việc thờ cúng được truyền từ đời
này qua đời khác, đặc biệt là vấn đề nhà thờ họ....................................................................13
2. Một số vấn đề về di tặng.............................................................................................................14
2.1 Những quy định của pháp luật về di tặng.............................................................................14
2.1.1 Quy định về di tặng trong BLDS 2005............................................................................14
2.1.2 Những đặc điểm của di tặng..........................................................................................15
2.2 Một số vướng mắc còn tồn tại và kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật thừa kế
về di tặng......................................................................................................................................16

1



2


LỜI NÓI ĐẦU
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn
sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngay từ thời kì phong kiến, trong các
bộ Luật Hồng Đức và Luật Gia Long đã thể hiện sự bảo hộ của pháp luật đối
với quyền thừa kế của công dân. Qua các thời kì khác nhau, quyền và lợi ích
về tài sản của công dân cũng được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước; chế định thừa kế cũng theo đó mà có sự
thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
Hiện nay, các chế định về thừa kế được quy định khá toàn diện và
chiếm một số lượng điều luật đáng kể trong Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS).
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng những quy định này trong thực tiễn cũng
như trong việc giải quyết những tranh chấp về thừa kế..., vẫn tồn tại không ít
khó khăn, vướng mắc. Hàng năm, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lí và xét xử sơ
thẩm trên dưới 3.000 vụ án về thừa kế. Trong đó, số lượng các vụ án xét xử sai,
bị hủy án, sửa án còn khá cao.
Trong thực tế, các tranh chấp về di sản thờ cúng và di tặng cũng là những
tranh chấp thường gặp. Đây là những vấn đề không chỉ mang tính pháp lí cao mà
còn có liên quan đến phong tục, tập quán, truyền thống của nhân dân. Do vậy,
những tranh chấp này không phải là những tranh chấp dễ xử lí. Tuy vậy nhưng
những quy định của pháp luật về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng
còn khá sơ sài và còn nhiều vướng mắc trong quy định, dẫn đến khó khăn trong
việc áp dụng. Từ thực trạng này, sau đây, bài viết sẽ trình bày về Một số vấn
đề về di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng.
Việc nghiên cứu vấn đề này nhằm làm rõ những quy định hiện nay của
pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng, qua đó thấy được một
số vướng mắc còn tồn tại trong những quy định này và đưa ra một số kiến

nghị để hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật về vấn đề này.

3


NỘI DUNG
1. Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng.
1.1 Những quy định của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng.
1.1.1 Cơ sở của những quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng.
Thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ là một truyền thống tốt đẹp của nhân
dân ta từ xa xưa và còn tồn tại cho đến ngày nay. Việc thờ cúng được thực
hiện trên cở sở của các quan niệm mang tính đạo đức và văn hóa như: tôn
trọng và biết ơn công sinh thành dưỡng dục; con người có nguồn cuội, tổ
tông, con cháu phải biết ơn những thế hệ cha ông kể cả khi còn sống cũng như
khi họ đã khuất.
Bên cạnh đó, theo phong tục của đa phần các địa phương ở Việt Nam,
sau khi một người chết đi còn phải có rất nhiều nghi lễ như: lễ 3 này, lễ tuần
đầu, lễ 49 ngày, lễ 100 ngày, lễ cải táng và lễ trong các ngày dầu tháng, ngày
rằm, ngày giỗ, ngày tết,... Những ngày lễ này tuy không phải là bắt buộc
nhưng là phong tục của các địa phương và việc thực hiện cũng không phải là
không tốn kém. Dó đó, người chết trước khi ra đi ai cũng muốn được con
cháu chăm lo đầy đủ theo phong tục địa phương.
Như vậy, việc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng sau khi chết không
chỉ thể hiện ý nguyện của người chết mà còn góp phần duy trì truyền thống
tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa đến nay. Đây chính là cơ sở để những quy định
về di sản dùng vào việc thờ cúng ra đời.
1.1.2 Quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng qua các thời kì.
Không phải chỉ đến ngày nay thì những quy định về di sản dùng vào
việc thờ cúng mới xuất hiện mà ngay trong pháp luật phong kiến cũng đã có
những quy định về việc dành một phần di sản của người chết để thực hiện

việc thờ cúng người đó. Theo luật Hồng Đức quy định thì trong gia đình của
có người nắm quyền gia trưởng, trong dòng họ có người trưởng họ và trong
nội tộc có tôn trưởng. Những người nắm quyền gia trưởng, tôn trưởng sẽ quản

4


lí tài sản của người chưa thành niên, quản lí một phần di sản của người chết
để lại để thực hiện việc thờ cúng. Trong trường hợp cha mẹ đều mất cả, có
ruộng đất chưa kịp làm chúc thư, thì anh em trong gia đình phải lấy một phần
hai mươi ruộng đất làm phần hương hỏa và giao cho người con trai trưởng
giữ. Người con trai trưởng sau này chết thì người cháu trưởng sẽ giữ hương
hỏa và phần hương hỏa này được tính như sau: lấy điền sản là hương hỏa
của ông nội đem nhập vào điền sản của cha sau đó dành một phần hai mươi
toàn bộ điền sản đó để làm hương hỏa và lưu truyền cho các thế hệ sau. Nếu
cha mẹ có chúc thư lập hương hỏa thì con cháu phải theo đúng chúc thư để
thực hiện, người nào vi phạm thì mất phần mình được hưởng. Khi đã thiết lập
hương hỏa, dù con cháu nghèo đói cũng không được bán, nếu bán sẽ phạm
vào tội bất hiếu. Khác với luật Hồng Đức, luật Gia Long tuy không có quy
định cụ thể về hương hỏa nhưng vấn đề trưởng tử và thừa tự được quy định
rải rác trong các mục 4, 10, 11 Quyển 6 – Hộ luật. Theo luật Gia Long, tài
sản của bố mẹ không chia cho các con mà giao cho con trưởng để kế thừa,
nối dõi nghiệp cha ông. Như vậy, luật cổ Việt Nam rất coi trọng việc thờ cúng
tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Di sản dùng vào việc thờ cúng trong thời kì này chủ
yếu chỉ là điền sản.
Truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta tiếp tục được Bộ
Dân Luật Bắc và Dân Luật Trung kế thừa và phát triển. Theo quy định tại điều
394 Dân Luật Bắc và điều 400 Dân Luật Trung thì di sản dùng vào việc thờ
cúng được coi là phần động sản hay bất động sản trong gia tài dùng vào việc
cúng giỗ một người vợ hay chồng người ấy và cúng giỗ tổ tiên bên nội người

ấy. Thông thường, hương hỏa được giao cho người nối dõi hay được coi như
người nối dõi người đã chết để sử dụng thu hoa lợi dùng vào việc thờ cúng
cho người để lại hương hỏa và những người theo quan hệ huyết tộc của người
đó. Phần gia tài lập thành hương hỏa không thể quá một phần năm tổng số tài
sản của người lập hương hỏa (theo quy định tại điều 398 Dân Luật Bắc và 406
Dân Luật Trung). Di sản dùng vào việc thờ cúng được coi như trường tồn và

5


như vậy không thể dùng để chia thừa kế. Tuy nhiên, hương hỏa có thể không
trường tồn theo ý muốn của cá nhân do bị tiêu hủy hay bị triệt tiêu theo quy
định của pháp luật hoặc người có hương hỏa bị tuyệt tự hay của hương hỏa bị
trưng dụng do hội đồng gia tộc quyết định. Như vậy, theo quy định trọng bộ
Dân Luật Bắc và Dân Luật Trung, hương hỏa được lập theo ý chí của người
có tài sản. Tuy nhiên pháp luật cũng hạnh chế một tỉ lệ tài sản nhất định để
làm hương hỏa, phần còn lại chia theo những người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật và của hương hỏa không ai được phép định đoạt. Đến Bộ Dân
luật Sài Gòn năm 1972 cũng đã tiếp thu, kế thừa và phát triển những quy định
ở hai bộ luật trên và có những quy định khá đầy đủ về vấn đề này.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, việc thờ cúng tổ tiên của công dân được
pháp luật cho phép. Pháp luật còn quy định về việc để lại di sản dùng vào việc
thờ cúng và phương thức giải quyết di sản đó trong các mối quan hệ khác. Ví
dụ, Thông tư số 81/TATC ngày 24/7/1981 của tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn giải quyết về nhà thờ họ. Nhà thờ họ có từ lâu đời hoặc nhà thờ họ do các
thành viên đóng góp công sức, tiền của mà xây dựng nên là tài sản thuộc sở
hữu chung của cả họ. Nhưng theo tinh thần của thông tư 81 nói trên thì khi
xảy ra tranh chấp thì giải quyết theo nguyện vọng chung của các thành viên
trong họ. Nếu nhà thờ họ đó là do trưởng họ xây dựng bằng chính tài sản của
mình thì khi trưởng họ chết, nhà thờ họ đó thuộc di sản thừa kế của trưởng họ.

Di sản dùng vào việc thờ cúng được chính thức quy định tại điều 21
Pháp lệnh thừa kế ban hành năm 1990: Nếu người lập di chúc có để di sản
dùng vào việc thờ cúng thì di sản đó được coi như di sản chưa chia. Khi việc
thờ cúng không được thực hiện theo di chúc thì những người thừa kế của
người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng có quyền hưởng di sản đó. Nếu
những người thừa kế đó đều đã chết, thì di sản thuộc về người đang quản lí
hợp pháp di sản đó trong số những người thừa kế theo pháp luật quy định tại
Điều 25 và Điều 26 của Pháp lệnh này.

6


Kế thừa và phát triển Pháp lệnh thừa kế 1990, Điều 673 BLDS 1995 và
sau đó là Điều 670 BLDS 2005 đã có những quy định về di sản dùng vào việc
thờ cúng. Và quy định của Điều 670 BLDS 2005 là quy định có hiệu lức pháp
lí cao nhất đối với vấn đề này trong thời điểm hiện nay.
1.1.3. Quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong BLDS 2005.
Trong BLDS 2005, di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại
điều 670:
1.Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng
vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao
cho một người đã được chỉ định trọng di chúc quản lí để thực hiện việc thờ
cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không
theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền
giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lí để thờ cúng.
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lí di
sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lí di sản thờ cúng.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết
thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di
sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh
toán nghĩa vụ của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào
việc thờ cúng.
Theo quy định trên, người có tài sản có quyền lập di chúc định đoạt
một phần di sản giao cho một người quản lí để dùng vào việc thờ cúng. Người
lập di chúc chỉ định một người cụ thể quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng và
thực hiện việc thờ cúng. Nhưng những người thừa kế cũng có quyền giao
phần di sản này cho người khác quản lí để thờ cúng nếu người được chỉ định
không thực hiện nghĩa vụ của mình theo di chúc hoặc theo thỏa thuận của
những người thừa kế. Đối với trường hợp người để lại di sản không chỉ định
người quản lí di sản dùng vào thờ cúng và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng thì

7


những người thừa kế cử một người quản lí di sản. Tuy pháp luật không quy
định rõ cá nhân có điều kiện gì thì mới được quản lí di sản dùng vào việc thờ
cúng và thực hiện nghĩa vụ đối với người đã chết nhưng theo thông lệ và
phong tục trong nhân dân thì những người quản lí thường là con, cháu, anh
hoặc em ruột của người đã chết. Việc thực hiện nghĩa vụ thờ cúng nếu không
được viết rõ trong di chúc thì sẽ được tiến hành theo tục lệ của cộng đồng,
dòng họ người để lại di sản đó.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết
thì theo quy định tại khoản 1 Điều 670 BLDS 2005, phần di sản dùng vào
việc thờ cúng sẽ thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó, với điều
kiện người đang quản lí di sản đó phải thuộc diện thừa kế theo pháp luật (hoặc
thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hoặc là người thừa kế thế vị hưởng di sản
của người để lại di sản). Pháp luật không quy định trường hợp người quản lí
di sản dùng vào việc thờ cúng là hợp pháp nhưng người này không thuộc diện
thừa kế của người để lại di sản và trong trường hợp tất cả những người thừa

kế theo di chúc thì di sản dùng vào việc thờ cúng đó sẽ xử lí như thế nào. Tuy
nhiên, căn cứ vào những quy định tại điều 670 BLDS thì di sản đó sẽ được
giao cho những người thừa kế tại hàng thừa kế được hưởng của người để lại
di sản để họ tự định đoạt hoặc là cử một trong số họ quản lí và thực hiện
nghĩa vụ thờ cúng hoặc là thỏa thuận để chia thừa kế theo pháp luật; nếu
không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.
Di sản dùng vào việc thờ cúng tuy cũng nằm trong tổng di sản của
người chết để lại nhưng phần di sản này chỉ được mang ra thanh toán các
nghĩa vụ về tài sản của người chết trong trường hợp toàn bộ di sản không đủ
để thanh toán các nghĩa vụ đó. Còn đối với di sản chia thừa kế thì phần di sản
đó chỉ được chia sau khi đã thanh toán xong hết các nghĩa vụ về tài sản mà
người chết để lại và các chi phí về chia thừa kế.
Vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cùng vừa là vấn đề có mang tính
chất pháp lí lại vừa ảnh hưởng đến phong tục, tập quán, lễ nghi của người Việt

8


Nam ta. Do vậy, việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tế không
phải là chuyện đơn giản và bản thân những quy định của pháp luật cũng còn
nhiều vấn đề đáng lưu ý.
1.2 Những vướng mắc còn tồn tại trong quy định về di sản dùng vào việc
thờ cúng.
Hiện nay, quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng mới chỉ được quy
định tại điều 670 BLDS. Ngay trong quy định này vẫn còn tồn tại một số
vướng mắc, dẫn đến việc gây ra khó khăn cho các tầng lớp nhân dân cũng như
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp.
1.2.1 Quy định về một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 670 thì người lập di chúc có thể để lại
một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Nếu như trong bộ Luật Hồng Đức

hay Dân Luật Bắc và Dân Luật Trung có quy định cụ thể phần di sản để dùng
vào việc thờ cúng chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong tổng số di sản thì nội dung của
Điều 670 lại không quy định cụ thể giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc
thờ cúng chiếm tỉ lệ nhất định nào trong tổng giá trị di sản; người để lại di sản
chỉ có thể để lại một phần hay có thể để lại toàn bộ di sản của mình dùng vào
việc thờ cúng? Việc hiểu thế nào là một phần di sản dùng vào việc thờ cúng
có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền về tài sản của người thừa kế.
Theo quy định của pháp luật thì người lập di chúc có thể để lại một
phần di sản để dùng vào việc thờ cúng. Nếu hiểu theo câu chữ thì người lập di
chúc chỉ có thể để lại không quá 1/2 tổng giá trị di sản của mình để dùng vào
việc thờ cúng; phần còn lại được đem chia theo pháp luật. Nếu hiểu như vậy
thì vô hình chung đã hạn chế quyền định đoạt tài sản của cá nhân sau khi chết.
Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, người lập di chúc có quyền định đoạt
tài sản của mình là để lại cho người thừa kế hay để lại dùng vào việc thờ
cúng. Như vậy, người để lại di sản hoàn toàn có quyền để lại một phần hay để
lại toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng. Quyền tự định đoạt tài sản của

9


người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ bị hạn chế trong hai trường
hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, nếu sự định đoạt đó vi phạm quyền thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS. Nếu
người lập di chúc để lại một phần hoặc phần lớn tài sản của mình dùng vào
việc thờ cúng mà xâm phạm đến quyền được hưởng 2/3 một suất thừa kế chia
theo pháp luật của cha, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi và con đã trưởng
thành nhưng không có khả năng lao động thì trước hết phải chia thừa kế cho
những người này theo quy định tại Điều 669 BLDS. Di sản dùng vào việc thờ
cùng sẽ là toàn bộ di sản còn lại sau khi đã trừ đi phần của những người được

thừa kế không theo nội dung di chúc. Quy định này nhằm bảo về quyền lợi
của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Trường hợp thứ hai, nếu toàn bộ tài sản của người chết để lại không đủ
để thanh toán tài sản của người đó thì không có di sản dùng vào việc thờ
cúng. Quy định như vậy để bảo vệ người có quyền lợi trong quan hệ dân sự
với người để lại di chúc.
1.2.2 Quy định về nghĩa vụ thờ cúng của người được chỉ định quản lí di
sản dùng vào việc thờ cúng.
Nếu người được chỉ định quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng và có
nghĩa vụ thờ cúng nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ đó thì những người
thừa kế có quyền giao di sản dùng vào việc thờ cúng đó cho người khác quản
lí và thực hiện nghĩa vụ. Thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ thể hiện sự biết ơn,
lòng thành kính đối với người đã khuất. Chúng ta có 54 dân tộc anh em, mỗi
dân tộc lại có một nét văn hóa khác nhau nên cũng sẽ có những tục lệ khác
nhau trong việc thờ cúng. Ngay trong dân tộc Kinh, ở mỗi một địa phương
khác nhau lại có một phong tục thờ cúng khác nhau. Đây là vấn đề tâm linh
của mỗi người, do vậy không thể quy định một khuôn mẫu cụ thể về thờ cúng.
Vì vậy mà pháp luật cũng không thể khống chế việc thờ cúng và đưa ra một
khuôn mẫu nhất định.

10


Vậy, hành vi như thế nào thì được coi là không thực hiện nghĩa vụ thờ
cúng? Trong trường hợp nội dung di chúc quy định rõ nghĩa vụ thờ cúng thì
người quản lí di sản dùng vào việc thờ cúng bị coi là không thực hiện nghĩa
vụ thời cúng khi không thực hiện đúng theo di chúc. Còn khi nội dung di chúc
không quy định rõ về việc thờ cúng thì người quản lí di sản dùng vào việc thờ
cúng được coi là không thực hiện nghĩa vụ khi không thờ cúng theo thỏa
thuận của những người thừa kế.

Tuy nhiên, nội dung của di chúc hay những người thừa kế này cũng
không thể yêu cầu người có nghĩa vụ thờ cúng thực hiện nghĩa vụ vượt quá
phạm vi di sản mà người chết để lại.
1.2.3 Quy định về quản lí di sản trong trường hợp tất cả những người
thừa kế theo di chúc đều đã chết.
Theo quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 670 BLDS thì: Trong trường
hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng
để thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những
người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Quy định này đã làm rắc rối một vấn
đề đơn giản trong nhân dân và cũng không phù hợp với thực tế.
Thứ nhất, di sản dùng vào việc thờ cúng không chỉ là tài sản mà còn là
đối tượng thiêng liêng, không thể bán, cho, tặng,... Theo phong tục của người
Việt Nam ta thì chỉ thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình để thể hiện lòng
biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Do vậy, không ai thờ cúng người họ khác,
những người không có công ơn sinh thành, dưỡng dục mình.
Thứ hai, nếu tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di
sản thờ cúng sẽ thuộc về người thuộc diện thừa kế đang quản lí di sản. Quy
định như vậy không phù với thực tế và mâu thuẫn với quy định tại Điều 645
BLDS, ví dụ như trường hợp tất cả người thừa kế theo di chúc đều đã chết
nhưng thời hiệu thừa kế chưa hết thì tại sao di sản dùng vào việc thờ cúng lại
thuộc về người đang quản lí? Như vậy là không phù hợp với ý chí của người
để lại di sản.

11


1.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật thừa kế về di sản
dùng vào việc thờ cúng.
Như đã nêu ở trên, vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng là vấn đề phức
tạp trong khi những quy định hiện hành của pháp luật về vấn đề này còn sơ

sài (mới chỉ được dự liệu trong một điều luật) và vẫn còn tồn tại một số
vướng mắc. Vì thế, cần có các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể để giải
quyết những vướng mắc còn tồn tại trong điều luật hiện nay.
1.3.1 Cần có quy định rõ ràng về một phần di sản dùng vào việc thờ cúng
để tránh áp dụng tùy tiện.
Theo như vấn đề đã trình bày ở trên, người lập di chúc hoàn toàn có
quyền định đoạt một phần hay toàn bộ di sản của mình để dùng vào việc thờ
cúng. Trong trường hợp người lập di chúc muốn định đoạt toàn bộ di sản
dùng vào việc thờ cúng thì quyền của họ chỉ bị hạn chế trong hai trường hợp
đó là có sự xuất hiện của người thừa kế không theo nội dung di chúc theo quy
định tại Điều 669 BLDS và theo quy định tại khoản 2 Điều 670 BLDS –
trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ mà
người chết để lại thì sẽ không có di sản dùng vào việc thờ cúng. Nếu như
không có người thừa kế không theo di chúc và cũng không có nghĩa vụ phải
thanh toán thì di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ là toàn bộ di sản trong trường
hợp người lập di chúc muốn định đoạt toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng.
1.3.2 Cần đưa ra một chuẩn mực nhất định về việc thực hiện nghĩa vụ
thờ cúng.
Người quản lí di sản cần phải thực hiện nghĩa vụ như thế nào và như
thế nào là không thực hiện nghĩa vụ thờ cúng? Những người không thực hiện
nghĩa vụ theo nội dung di chúc hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế
thì được coi là không thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Tuy luật không thể quy
định một khuôn mẫu chung cho việc thờ cúng người chết nhưng cũng cần có
chuẩn mực nhất định, tránh trường hợp nội dung di chúc hoặc những người

12


thừa kế đưa ra yêu cầu về việc thờ cúng quá cầu kì, vượt quá phạm vi của di
sản dùng vào việc thờ cúng.

1.3.3 Cần sửa đổi quy định tại đoạn 3 Điều 670 cho phù hợp hơn.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết
thì di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ thuộc về người đang quản lí hợp pháp di
sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật là quy định
không thỏa đáng và không phù hợp thực tế cũng như không thể áp dụng. Hơn
nữa, nếu trong trường hợp người đang quản lí di sản hợp pháp nhưng không
thuộc diện thừa kế theo pháp luật thì sẽ xử lí ra sao? Nếu tất cả những người
thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di sản dùng vào việc thờ cúng nên do
những người thừa kế theo pháp luật thỏa thuận và vẫn giữ đúng nguyên tắc là
di sản dùng vào việc thờ cúng không thể là di sản chia thừa kế và phải giao
cho một người quản lí để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng.
1.3.4 Cần có quy định cụ thể về những di sản dùng vào việc thờ cúng
được truyền từ đời này qua đời khác, đặc biệt là vấn đề nhà thờ
họ.
Để đảm bảo nguyên tắc di sản dùng vào việc thờ cúng không thể đem
chia và thực hiện ý nguyện của người đã khuất thì những di sản dùng vào việc
thờ cúng được truyền từ đời này qua đời khác, đặc biệt là vấn đề về nhà thờ
họ. Để tôn trọng phong tục, tập quán của người Việt Nam thì nên có quy định
không thể chia nhà thờ họ dù đó là sở hữu chung của cả họ hay do cá nhân
xây dựng nên. Nếu là do cả họ góp công sức, tiền của xây dựng nên thì tất
nhiên không thể thuộc về cá nhân để chia thừa kế. Còn nếu là do cá nhân xây
dựng nên thì khi xây dựng cũng là với mục đích để thờ cúng ổ tiên, ông bà,
cha me, tưởng nhó tới người đã khuất. Nếu nhà thờ họ trở thành di sản để chia
thì đã mất đi ý nghĩa và mục đích xây dựng ban đầu của người đã xây dựng.
Như vậy, vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng là một vấn đề không
chỉ mang tính pháp lí mà còn liên quan đến vấn đề tâm linh của người Việt
Nam. Đây là một vấn đề khá phức tạp và hiện nay đang xảy ra nhiều tranh

13



chấp. Ngày nay, trong thời buổi của kinh tế thị trường, nhiều giá trị đạo đức
của con người cũng như những phong tục tập quán đang dần mai một đi. Do
vậy, pháp luật cần có những quy định như thế nào để gìn giữ nét đẹp văn hóa
này và để giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề di sản dùng vào việc
thờ cúng.
2. Một số vấn đề về di tặng.
2.1 Những quy định của pháp luật về di tặng.
2.1.1 Quy định về di tặng trong BLDS 2005.
Trước năm 1945, ở nước ta, vấn đề di tặng cũng đã được quy định
trong các Bộ dân luật Bắc Kì, dân luật Trung Kì và trong các sắc lệnh điền thổ
ngày 21/7/1925 và ngày 29/3/1939. Tuy nhiên, những văn bản pháp luật nói
trên đều có những quy định phân biệt sự tặng giữ với di tặng, được gọi là sinh
thời tặng giữ và di tặng nhân tử và đều được coi là cho.
Nhưng từ sau năm 1945, pháp luật ngước ta không có quy định nào về
di tặng. Chỉ đến khi Bộ Luật Dân Sự năm 1995 được ban hành thì di tặng mới
được quy định cụ thể ở Điều 674. Và khi Bộ Luật Dân Sự 2005 được ban
hành thay thế Bộ Luật Dân Sự 1995 thì vấn đề di tặng được quy định tại Điều
671, có nội dung tương tự với nội dung quy định trong Điều 674 BLDS 1995.
Điều 671 BLDS 2005 quy định:
1.Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho
người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với
phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ tài sản không đủ để thanh toán
nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để
thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.
Theo quy định trên, căn cứ để phát sinh di tặng đó là do người lập di
chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di
chúc có hiệu lực pháp luật. Người được di tặng có thể là bất kì ai, người thuộc


14


diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di tặng hay người không thuộc
diện thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc.
Tuy nhiên, người được di tặng không phải là người thừa kế theo di
chúc. Mặc dù họ cũng được người lập di chúc chỉ định rõ trong di chúc, được
hưởng một phần di sản của người lập di chúc giống như người thừa kế theo di
chúc, nhưng họ lại không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di
tặng (trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản
của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần
nghĩa vụ của người này). Đây là căn cứ xác định sự khác biệt giữa người được
di tặng với người thừa kế theo di chúc.
Đối tượng để di tặng có thể hiểu là hiện vật, khoản tiền, ... mà người
lập di chúc di tặng cho một hoặc nhiều người. Quy định về di tặng như vậy
thể hiện sự tôn trọng quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản
đó. Tuy nhiên, mục đích di tặng của người để lại di tặng sẽ không thực hiện
được trong trường hợp toàn bộ di sản của người đó không đủ để thanh toán
nghĩa vụ tài sản mà người đó để lại thì phần di tặng cũng được dùng để thực
hiện nghĩa vụ này.
2.1.2 Những đặc điểm của di tặng.
Thứ nhất, bản chất của di tặng không phải là hợp đồng tặng cho. Hợp
đồng tặng cho là sự thỏa thuận giữa người được tặng cho và người tặng cho.
Chủ thể tặng cho và chủ thể được tặng cho đều phải còn sống để thể hiện ý
chí cho và nhận tài sản. Nhưng di tặng chỉ phát sinh từ cơ sở định đoạt của
người có di sản lập di chúc và người được chỉ định nhận di tặng khi người để
lại di tặng chết. Người được di tặng chỉ có thể là một người hay nhiều người
cụ thể, là người này mà không phải là người khác, tùy thuộc vào sự định đoạt
của người có di sản lập di chúc.
Như vậy, di tặng và tặng cho giống nhau là sự chuyển dịch quyền sở

hữu tài sản của người di tặng, tặng cho cho người được di tặng và tặng cho;
đồng thời, người được di tặng và tặng cho không có nghĩa vụ đối với bên thứ

15


ba. Điểm khác nhau giữa di tặng và tặng cho đó là di tặng do người lập di
chúc quyết định còn nhận hay không do người được di tặng quyết định. Đây
là hai quan hệ độc lập. Tuy nhiên, tặng cho thì khác. Tặng cho là một giao
dịch dân sự có thỏa thuận giữa người tặng cho và người được tặng cho.
Thứ hai, di tặng là một nội dung của di chúc. Người có tài sản có
quyền lập di chúc để tặng cho người khác tài sản của mình sau khi chết. Di
chúc di tặng tài sản có giá trị pháp lí sau khi người lập di chúc chết. Người lập
di chúc có thể chỉ lập một di chúc để vừa định đoạt cho người khác tài sản,
vừa di tặng người khác.
Thứ ba, người hưởng di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ của người
di tặng để lại. Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa
vụ của người để lại thừa kế trong phạm vi di sản được hưởng. Ngược lại,
người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đó. Người được di tặng chỉ
phải thực hiện nghĩa vụ do người di tặng để lại trong trường hợp toàn bộ di
sản chia thừa kế không đủ để thực hiện nghĩa vụ. Khi đó, người được di tặng
phải trích một phần hoặc toàn bộ phần di tặng để thực hiện nghĩa vụ. Trong
trường hợp này, người được di tặng có hai tư cách: tư cách của người được di
tặng và tư cách của người thừa kế theo di chúc.
2.2 Một số vướng mắc còn tồn tại và kiến nghị để hoàn thiện quy định
của pháp luật thừa kế về di tặng.
2.2.1 Về các chủ thể có thể được nhận di tặng.
Điều 671 BLDS 2005 không quy định cụ thể điều kiện để một người
được nhận di tặng mà chỉ quy định chung: Người lập di chúc được dành một
phần tài sản để di tặng cho người khác. Vậy người khác ở đây được hiểu như

thế nào? Chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm cả cơ quan, tổ chức? Sở dĩ phải
đặt ra vấn đề này là do trong thực tế, có rất nhiều trường hợp người để lại di
sản đã lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình với mục đích tặng cho
các quỹ (quỹ học bổng, quỹ từ thiện…). Như vậy, người được di tặng không
thể chỉ là cá nhân mà cũng có thể là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, mặc dù không

16


quy định cụ thể người khác bao gồm những ai, nhưng BLDS cũng không quy
định: người được di tặng chỉ có thể là cá nhân.
Một vấn đề nữa được đặt ra ở đây là, người được di tặng có cần thỏa
mãn các điều kiện như đối với người thừa kế hay không? Điều 635 BLDS
2005 quy định: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời
điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng
đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa
kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào
thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên lại không có quy định nào về người được di
tặng, người được di tặng có cần thỏa mãn những điều kiện như người thừa kế
hay không? Về bản chất, những người được di tặng cũng là người được
hưởng di sản theo sự định đoạt của người lập di chúc. Vì vậy, để được nhận di
tặng, người được di tặng cũng phải thỏa mãn những điều kiện của người thừa
kế được quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005.
2.2.2 Về quyền từ chối nhận di tặng của người được di tặng.
Điều 642 BLDS quy định về quyền từ chối nhận di sản nhưng lại chỉ
quy định đối với người thừa kế, còn đối với người được di tặng thì lại không
nói gì. Người được di tặng cũng có quyền nhận và có quyền từ chối quyền
hưởng di tặng mà không hạn chế quyền định đoạt như đối với người thừa kế.
Tuy vậy, pháp luật vẫn cần có quy định về việc người được di tặng có quyền
từ chối nhận di sản di tặng hay không?

2.2.3 Về tính chất của phần tài sản để di tặng.
Điều 671 BLDS 2005 quy định cho người lập di chúc có quyền dành
một phần di sản để tặng cho người khác nhưng Điều luật này lại không quy
định tính chất của phần tài sản di tặng này. Khoản 1 Điều 671 BLDS quy
định: Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho
người khác. Mà theo quy định tại Điều 163 BLDS 2005 thì quyền tài sản của
một người cũng là tài sản của người đó.

17


Căn cứ vào khoản 1 Điều 672 và Điều 163 như trên thì đối tượng của
việc di tặngkhông những bao gồm vật đặc định hoặc vật đặc định hóa, khoản
tiền mà còn là các quyền tài sản khác của người để lại di chúc nhằm để di
tặng quyền đó cho người khác. Theo đó, đối tượng của việc di tặng bao gồm:
tài sản là vật đặc định hoặc tài sản được đặc định hóa; các quyền tài sản của
một người (bao gồm: quyền sử dụng đất, ngoại tệ, trái phiếu, các giấy tờ có
giá khác, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đòi nợ, quyền nhận tiền bảo hiểm,...
Di tặng là một phần trong khối di sản của một người để lại khi qua đời,
sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản đó
với người khác mà phần di sản còn lại đó vẫn bảo đảm được quyền của những
người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.
2.2.4 Trong trường hợp có cả di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng, thì
phải dùng phần di sản nào để thanh toán nghĩa vụ tài sản trước.
Di tặng hay phần di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được dành để thanh
toán trước trong trường hợp trên?
Có ý kiến cho rằng, do tính chất đặc biệt của phần di sản dùng vào việc
thờ cúng – là sự biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, nếu xếp
di sản dùng vào việc thờ cúng ngang với di sản chia thừa kế hay di tặng đồng

nghĩa với việc hy sinh truyền thống cổ xưa vì lợi ích của quyền tự do cá nhân.
Chính vì vậy, trong trường hợp này, ta phải dùng phần di sản dành cho di tặng
để thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ thì mới dùng đến di sản dùng vào
việc thờ cúng.
Ý kiến khác lại cho rằng, phải dùng di sản dùng vào việc thờ cúng để
thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ mới dùng đến di tặng, bởi tài sản
dành cho di tặng thường có ý nghĩa đặc biệt với người di tặng cũng như người
được di tặng. Việc để lại di tặng thường nhằm mục đích làm kỷ niệm, lưu dấu
một mối quan hệ tốt đẹp thân thiết giữa người di tặng với người được di tặng.

18


Hợp lí hơn cả trong trường hợp này chúng ta phải dùng cả di tặng cũng
như di sản dùng vào việc thờ cúng để thanh toán. Việc cắt giảm hai phần di
sản này sẽ được thực hiện theo tỷ lệ. Bởi theo quy định tại Điều 670 và 671
thì hai loại di sản này có địa vị pháp lí tương đối cân bằng nhau, bởi cơ sở để
dùng hai loại di sản này để thanh toán nghĩa vụ đều là toàn bộ di sản của
người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó. Tuy nhiên,
đó vẫn chỉ là suy nghĩ của cá nhân dựa trên một số quy định liên quan. Đó là
một trường hợp có thể xảy ra tranh chấp trong thực tế cuộc sống, do vậy cần
có một điều luật cụ thể quy định về vấn đề này.
Như vậy, di tặng là một nội dung khá mới trong BLDS nước ta. Tuy
nhiên, vấn đề này hiện nay lại khá phổ biến. Trong khi đó, những quy định
của pháp luật về vấn đề này lại còn khá sơ sài và chưa thể dự liệu trước được
hết mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống. Do vậy, cần tiếp tục tìm
hiểu để hoàn thiện hơn nữa những quy định về di tặng để có thể giải quyết
một cách thỏa đáng nhất những tranh chấp xảy ra trong cuộc sống về vấn đề
này.


KẾT LUẬN
Di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng là hai nội dung quan trọng
trong chế định về thừa kế theo di chúc. Bài viết đã làm rõ được những quy
định của pháp luật hiện nay về vấn đề này cũng như thây được một số vướng
mắc còn tồn tại, đưa ra một số ý kiến chủ quan để góp phần hoàn thiện nội
dung này. Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những ý kiến chủ quan, vẫn cần có những
quy định cụ thể của pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành để có
thể giải quyết thỏa đang các tranh chấp xảy ra trong cuộc sống.
Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, với thực trạng của nền kinh tế thị
trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay thì vấn đề tài
sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân ngày càng phức tạp và trở nên đa dạng.
Vì thế, không chỉ là những vấn đề liên quan đến di sản dùng vào việc thờ
19


cúng và di tặng mới cần được quan tâm mà toàn bộ nội dung về di sản thừa kế
và xác định di sản thừa kế , thanh toán và phân chia di sản thừa kế cũng đặt ra
nhiều hơn những vấn đề cần xử lí. Vì vậy, cần có sự điều chỉnh những chế
định về thừa kế sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 1,
Nxb CAND, Hà Nội, 2009.
2. Bộ Luật Dân sự 2005.
3. Pháp lệnh thừa kế 1991.
4. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, 2008
5. Nguyễn Minh Tuấn, Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề
lí luận và thực tiễn, Nxb. Lao động – xã hội, Hà Nội, 2009.
6. Trần Thị Huệ, Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam, những
vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, 2011.

7. Phùng Trung Tập, Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên hệ
với di sản thừa kế, Tạp chí luật học, số 1/2001.
8. />9.

20



×