Tải bản đầy đủ (.doc) (83 trang)

“Khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt của gà lạc thủy và gà lai F1(LT x LP) tại huyện việt yên – tỉnh bắc giang”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 83 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG - LÂM BẮC GIANG

NGUYỄN ĐĂNG THẮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT
CỦA GÀ LẠC THỦY VÀ GÀ LAI F1(LT x LP) NUÔI
TẠI VIỆT YÊN - BẮC GIANG
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 60620105

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Trọng Kim
2. TS. Đoàn Phương Thúy

BẮC GIANG, năm 2018


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tôi đã
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu trường
Đại học Nông Lâm, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm và tập thể các thầy cô giáo
và các em sinh viên khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Bắc
Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài và hoàn thành
luận văn này.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của giáo viên
hướng dẫn: TS. Nguyễn Trọng Kim và TS. Đoàn Phương Thúy.
Sự quan tâm động viên giúp đỡ tạo điều kiện của lãnh đạo và cán bộ công
chức Đài thành phố Bắc Giang cơ quan nơi tôi đang công tác, gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp để tôi hoàn thành nhiệm vụ công tác, học tập và luận văn tốt nghiệp./.


Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bắc Giang, ngày 10 tháng 8 năm 2018
Tác giả

Nguyễn Đăng Thắng

i


MỤC LỤC
Lời cảm ơn..........................................................................................................................i
Mục lục..............................................................................................................................ii
Danh mục các từ viết tắt.....................................................................................................iv
Danh mục các bảng biểu......................................................................................................v
Danh mục các hình.............................................................................................................vi
Mở đầu...................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................2
3. Những đóng góp mới......................................................................................................2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.........................................................................................2
Chương 1. Tổng quan tài liệu...............................................................................................3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài..........................................................................................3
1.1.1. Cơ sở khoa học của lai tạo và ưu thế lai..................................................................3
1.1.2. Cơ sở khoa học của lai kinh tế...............................................................................11
1.1.3. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng..........................15
1.1.4. Khả năng chuyển hóa thức ăn................................................................................20
1.1.5. Khả năng cho thịt...................................................................................................22
1.1.6. Sức sống và khả năng kháng bệnh........................................................................28
1.2. Nguồn gốc, đặc điểm sinh học của gà Lạc Thủy và gà Lương Phượng...................30
1.2.1. Gà Lạc Thủy..........................................................................................................30

1.2.2. Gà Lương Phượng.................................................................................................31
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước..............................................................32
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước..........................................................................32
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới........................................................................35
Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu..............................................37
2.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................37
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................................37
2.3. Nội dung của đề tài...................................................................................................37
ii


2.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................37
2.4.1. Phương pháp thiết kế thí nghiệm...........................................................................37
2.4.2. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi..........................................................................39
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu.....................................................................................43
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.....................................................................44
3.1. Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm.................................................................44
3.1.1. Khối lượng cơ thể gà qua các tuần tuổi.................................................................44
3.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối.............................................................................................47
3.1.3. Sinh trưởng tương đối............................................................................................51
3.2. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn................................................................53
3.3. Năng suất thịt của gà thí nghiệm..............................................................................56
3.4. Một số chỉ tiêu về chất lượng thịt.............................................................................58
3.5. Tỷ lệ mắc bệnh và nuôi sống gà thí nghiệm.............................................................60
3.5.1. Tỷ lệ mắc bệnh......................................................................................................60
3.5.2. Tỷ lệ nuôi sống......................................................................................................62
Kết luận và kiến nghị..........................................................................................................66
1. Kết luận.......................................................................................................................66
2. Kiến nghị.....................................................................................................................66
Tài liệu tham khảo..............................................................................................................67


Phụ lục 1. Một số hình ảnh của đề tài

iii

73


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs..

Cộng sự

KL

Khối lượng

LP

Lương Phượng

LT

Lạc Thủy



Thức ăn

TLNS


Tỷ lệ nuôi sống

TT

Thứ tự

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

g

gram

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm.......................................................................................38
Bảng 2.2. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm.....................................39
Bảng 2.3. Lịch phòng bệnh cho gà thí nghiệm....................................................................39
Bảng 2.4. Chỉ tiêu khảo sát năng suất thịt...........................................................................41
Bảng 3.1. Khối lượng cơ thể gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) qua các tuần tuổi
(gram/con)............................................................................................................44
Bảng 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) (g/con/ngày)..........48

Bảng 3.3. Sinh trưởng tương đối của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) (%)......................51
Bảng 3.4. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP)
(n=3).....................................................................................................................54
Bảng 3.6. Chất lượng thịt của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP).......................................58
Bảng 3.7. Tỷ lệ mắc bệnh của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP)......................................61
Bảng 3.8. Tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP).......................................63

v


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Khối lượng gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) qua các tuần tuổi.........................47
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) từ 1-17 tuần tuổi....50
Hình 3.3. Sinh trưởng tương đối của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) từ 1-17 tuần tuổi
.............................................................................................................................53
Hình 3.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc Thủy và gà F1(LT x LP)............................................64

vi


TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tác giả: Nguyễn Đăng Thắng
Tên luận văn: “Khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt của gà Lạc
Thủy và gà lai F1(LT x LP) tại huyện Việt Yên – tỉnh Bắc Giang”.
Ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60620105
Tên cơ sở đào tạo: Đại học Nông Lâm Bắc Giang
Mục đích nghiên cứu:
- Xác định được khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà Lạc Thủy
và gà lai F1 (LT x LP);

- Xác định được năng suất thịt và một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của gà
Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Xác định được khả năng chống đỡ bệnh tật và tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc Thủy
và gà lai F1 (LT x LP).
Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung 1: Khả năng sinh trưởng của gà Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trên 300 gà Lạc Thủy và
300 gà lai F1 (LT x LP) ở 3 đợt thí nghiệm được lọc từ 1200 gà thí nghiệm (được
đeo số).
- Phương pháp nghiên cứu: được xác định theo phương pháp thường quy sử
dụng trong chăn nuôi gia cầm và xác định các chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh
trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
Nội dung 2: Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn
của gà Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trên 300 gà Lạc Thủy và 300 gà
lai F1 (LT x LP) ở 3 đợt thí nghiệm được lọc từ 1200 gà thí nghiệm (được đeo số).
- Phương pháp nghiên cứu: thống kê cân khối lượng được sử dụng thức ăn
hàng ngày cho đàn gà bằng cách lấy khối lượng thức ăn cho ăn trừ khối lượng
thức ăn còn lại. Sau đó xác định tiêu tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng.
Nội dung 3: Năng suất thịt của gà Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Đối tượng nghiên cứu: Mổ khảo sát 10 con (5 trống và 5 mái) của mỗi 01 lô
thí nghiệm trong mỗi đợt thí nghiệm (có 3 đợt thí nghiệm) ở thời điểm 17 tuần
tuổi, gà được chọn với khối lượng bằng khối lượng trung bình của quần thể.
vii


- Phương pháp nghiên cứu: xác định các chỉ tiêu về tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi,
tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ thịt đùi, ngực và tỷ lệ mỡ bụng.
Nội dung 4: Một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của gà Lạc
Thủy và gà lai F1 (LT x LP).

- Đối tượng nghiên cứu: Lấy mẫu từ 10 con mổ khảo sát (5 trống và 5 mái) của
mỗi 01 lô thí nghiệm trong mỗi đợt thí nghiệm (3 đợt thí nghiệm) ở thời điểm 17
tuần tuổi, gà được chọn với khối lượng bằng khối lượng trung bình của quần thể.
- Phương pháp nghiên cứu: xác định các chỉ tiêu về pH15, pH24, màu sắc thịt (L*,
a*,b*), độ dai thịt, tỷ lệ mất nước bảo quản và tỷ lệ mất nước chế biến
Nội dung 5: Tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ mắc bệnh của gà Lạc
Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 1200 gà thương phẩm
(600 gà Lạc Thủy và 600 gà lai F1(LT x LP) nuôi từ 1 ngày tuổi đến 120 ngày
tuổi trong điều kiện nuôi nhốt để theo dõi tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ mắc bệnh của
02 đàn gà thí nghiệm trong 3 lần lặp lại
- Phương pháp nghiên cứu: xác định các chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ mắc bệnh.
Kết quả chính và kết luận
- Khối lượng cơ thể gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) tuân theo quy luật
tăng dần qua các tuần tuổi và có sự chênh lệch giữa gà trống và gà mái (P<0,05);
và các lô thí nghiệm có sự sai khác ((P<0,05); trong đó, khối lượng cơ thể ở 17
tuần tuổi là gà Lạc Thủy trống 2130,9g và mái 1624g thấp hơn so với của gà lai
F1(LT x LP) trống 2248,5g và mái 1752,4g. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối
của gà Lạc Thủy cũng tuân theo qui luật phát triển của gia cầm.
- Lượng thức ăn thu nhận của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) tăng dần
theo tuần tuổi, cùng theo đó là tiêu tốn thức ăn cũng tăng dần. Tiêu tốn thức ăn
trung bình (kg TĂ/kg tăng khối lượng) của gà Lạc Thủy trống 3,86 và mái 4,14 là
cao hơn so với gà lai F1(LT x LP) trống 3,72 và mái 4,10.
- Ở 120 ngày tuổi, năng suất thịt ở gà trống và gà mái Lạc Thủy; ở gà trống
và mái F1(LT x LP) là tương đương nhau (P>0,05). Tỷ lệ mỡ bụng ở gà trống là
hầu như chưa có và ở gà mái tỷ lệ mỡ bụng cũng rất thấp.
- Giá trị chất lượng thịt của gà lai F1(LT x LP) và gà Lạc Thủy có sự sai
khác không có ý nghĩa thống kê
- Tỷ lệ nhiễm bệnh của gà lai F1(LT x LP) về mắc cầu trùng và bệnh đường
hô hấp dễ nhiễm hơn so với gà Lạc Thủy. Tỷ lệ nuôi sống lúc 17 tuần tuổi của gà

Lạc Thủy là 92,67% và gà lai F1(LT x LP) là 91,67
viii


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xu hướng hiện nay trên thế giới là thay đổi cơ cấu chăn nuôi theo hướng
tăng tỷ lệ sản lượng thịt gia cầm. Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm
nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam đang rất phát triển. Nó chiếm
một vị trí quan trọng trong nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Đặc biệt là
các giống gà thả vườn do có chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng được thị hiếu của
người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông hộ. Trong những năm
qua, để đáp ứng nhu cầu về con giống gà thả vườn, nước ta đã nhập nhiều giống
gà nổi tiếng như gà Tam Hoàng, Sasso, Kabir, Lương Phượng… Bên cạnh những
ưu điểm như khả năng sinh sản cao, tăng trọng nhanh… thì các giống gà nhập
nội có nhiều nhược điểm như khả năng chống chịu bệnh kém, chất lượng thịt
không đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng.
Hiện nay, Việt Nam đang phát triển những giống gà đặc trưng vùng miền và
những giống gà cho năng suất, chất lượng cao. Chính vì vậy, một số giống gia
cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng
những yêu cầu đó. Trong rất nhiều giống gà địa phương đang được chú trọng
phát triển hiện nay thì gà Lạc Thủy bước đầu được đánh giá là một trong những
giống gà địa phương có nhiều ưu điểm và có thể đáp ứng nhu cầu thị hiếu của
người tiêu dùng. Gà Lạc Thủy có thời gian nuôi gà thịt khoảng 4-4,5 tháng, chất
lượng thịt khá tốt, tỷ lệ nuôi sống cao, mọc lông sớm và nhanh nên có khả năng
thích nghi và chống chịu thời tiết tốt. Có thể chăn nuôi theo phương thức nuôi
nhốt, bán chăn thả, thích hợp với quy mô hộ gia đình, trang trại và bán trang trại
(Đỗ Thị Kim Dung, 2014). Bên cạnh đó, thì gà lai F1 (LT x LP) cũng đang là
hướng phát triển giúp cải thiện khối lượng của gà địa phương.
Ở Bắc Giang, gà Lạc Thủy và gà lai F1 (Lạc Thủy x Lương Phương) chưa

được nghiên cứu và chăn nuôi trong sản xuất. Để phát huy tính đa dạng sinh học
và có cơ sở khuyến cáo với người chăn nuôi về chọn gà nuôi phù hợp với điều
kiện của địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khả năng sinh
trưởng, năng suất, chất lượng thịt của gà Lạc Thủy và gà lai F1(LT x LP) tại
huyện Việt Yên – tỉnh Bắc Giang”.

1


2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định được khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà Lạc Thủy
và gà lai F1 (LT x LP);
- Xác định được năng suất thịt và một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của gà
Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Xác định được khả năng chống đỡ bệnh tật và tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc Thủy
và gà lai F1 (LT x LP).
3. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
- Đánh giá được khả năng khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của gà
Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP) trong điều kiện chăn nuôi tại huyện Việt Yên,
tỉnh Bắc Giang.
- Đánh giá được năng suất thịt và một số chỉ tiêu về chất lượng thịt của gà
Lạc Thủy và gà lai F1 (LT x LP).
- Đánh giá được khả năng chống đỡ bệnh tật và tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc
Thủy và gà lai F1 (LT x LP) nhằm góp phần xác định hiệu quả trong chăn nuôi.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học

- Kết quả của đề tài cung cấp số liệu khoa học về khả năng sinh trưởng,
năng suất, chất lượng thịt, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ nuôi sống của gà Lạc Thủy và
gà lai F1 (LT x LP) cho các nghiên cứu tiếp theo.

Ý nghĩa thực tiễn

- Thăm dò thị hiếu người tiêu dùng để có cơ sở nhân rộng gà Lạc Thủy và
gà lai F1 (LT x LP) nuôi ở nông hộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Khuyến cáo cho người chăn nuôi lựa chọn loại gà nuôi có hiệu quả kinh tế cao.

2


Chương1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở khoa học của lai tạo và ưu thế lai
1.1.1.1. Khái niệm về ưu thế lai
Hiện tượng ưu thế lai đã được biết và vận dụng từ lâu. Điểu hình là việc tạo
con La, kết quả lai khác loài giữa con ngựa cái (Equus Caballus) và lừa đực
(Equus asinus). Con La nổi tiếng về sức khoẻ, sức dẻo dai và khả năng chịu nóng
(Horn, 1978). Tuy nhiên việc nghiên cứu các hiện tượng trên một cách có hệ
thống mới bắt đầu từ hơn 200 năm nay.
Trong công tác giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân giống thuần chủng qua
nhiều đời để cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi, thì thông qua con đường lai tạo
sẽ đem lại hiệu quả trong thời gian ngắn hơn. Ngày nay việc tạo ra các loại sản
phẩm phần lớn đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo đã ảnh hưởng tốt đến sản
lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần Đình Miên, 1994).
Sự lai tạo được sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm
khai thác thế mạnh của con lai. Bởi vì ưu thế lai cho sản phẩm cao nên nó đuợc
áp dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở các nước
đang phát triển. Chính là lai giữa các giống khác nhau đã giúp cho việc quyết
định chiến lược thích hợp về công tác giống.
Bouwman (2000) cho rằng lợi ích to lớn của lai giống là xuất hiện sức mạnh ở
con lai còn gọi là ưu thế lai. Con lai thường có sức chịu bệnh tật khoẻ hơn, sức sản

xuất sản phẩm tốt hơn, khả năng thụ tinh cũng được nâng cao. Mặc dù vậy, ưu thế
lai không thể đoán trước. Sự khác biệt giữa hai giống càng lớn thì ưu thế lai càng
lớn. Ưu thế lai chỉ có thể xẩy ra ở một công thức lai nào đó, vì thế phải tiến hành
nhiều công thức lai khác nhau, ưu thế lai không di truyền, nếu tiếp tục cho giao phối
đời con lai với nhau thì kết quả sẽ là mất ưu thế lai và mất sự đồng đều. Trong công
thức lai tạo, người ta còn quan tâm rất nhiều đến khả năng phối hợp, đó là cách chọn
những con giống gốc lai phù hợp với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới, bao
gồm các tính trạng vốn có ở giống gốc nhưng ở mức độ cao hơn theo mục đích
(Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992). Con lai F1 vượt hơn bố mẹ về sức

3


sống, sự sinh trưởng, phát triển, khả năng sản xuất, sức chống chịu cũng như khả
năng sử dụng các chất dinh dưỡng (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995).
1.1.1.2. Bản chất của ưu thế lai
Trong chăn nuôi, để nâng cao năng suất có rất nhiều con đường khác
nhau, trong đó việc cải tiến bản chất di truyền luôn luôn được các nhà khoa
học quan tâm.
Thuật ngữ “ưu thế lai” được nhà khoa học người Mỹ G.H.Shull đề cập
đến từ năm 1914, sau đó vấn đề ưu thế lai được sử dụng khá rộng rãi ở động
vật và thực vật.
Tìm hiểu về bản chất của ưu thế lai có rất nhiều giả thuyết khác nhau. Theo
Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) có ba thuyết chính để giải thích hiện
tượng ưu thế lai: Thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng tác động của các
gen không cùng locus.
- Thuyết trội:
Theo thuyết này trong điều kiện chọn lọc lâu dài, các gen trội phần lớn là
các gen có lợi và lấn át sự hoạt động của các gen lặn, do đó qua tạp giao có thể
đem các gen trội của hai bên bố mẹ tổ hợp lại ở đời lai, làm cho đời lai có giá trị

hơn bố mẹ (AA = Aa > aa).
Theo Davenport (1908), Keeble and Pelow (1910), Jones (1917), Kushner
(1969): nhờ tác dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo gen trội
thường là gen có ích, được biểu hiện ra kiểu hình sinh vật. Biểu hiện kiểu hình
của con lai là do các gen qui định, các gen này chính là sự tổ hợp các gen của bố
mẹ. Các gen trội có thể biểu hiện thành kiểu hình, có thể ức chế các gen lặn
tương ứng tạo ra tác dụng lẫn nhau làm tăng các đặc điểm trội lên, các gen lặn
bao giờ cũng bị che lấp, còn gen trội khi lai sẽ có tác động mạnh hơn nên biểu
hiện ra kiểu hình có năng suất cao hơn.
Các tính trạng số lượng như khả năng sinh trưởng, khả năng sinh sản...
được nhiều gen điều khiển nên rất hiếm các gen đồng hợp tử. Thế hệ con được
tạo ra do lai giữa 2 cá thể sẽ được biểu hiện do tất cả các gen trội trong đó (một
nửa thuộc gen trội đồng hợp tử của bố và một nửa gen trội của mẹ).
Khi cha mẹ xa nhau trong quan hệ huyết thống (khác dòng, khác giống) thì
xác xuất để mỗi cặp cha mẹ truyền cho con những gen trội khác nhau càng tăng
lên, từ đó dẫn đến ưu thế lai càng tăng.
4


Những giải thích của thuyết trội vẫn chưa thoả đáng đối với một số hiện tượng
khác như: bên cạnh các gen trội có lợi vẫn có những gen trội có hại, hay một hiện
tượng thực tế là khi tạp giao giữa các cá thể dị hợp tử với nhau để có con lai 4 dòng
thì chúng lại có ưu thế lai cao hơn khi lai giữa 2 dòng.
- Thuyết siêu trội:
Thuyết này cho rằng sự tác động của các alen dị hợp tử Aa lớn hơn tác động
của các alen đồng hợp tử AA và aa (Aa>AA>aa).
Theo Kushner (1969) từ năm 1904 đã có quan niệm cho rằng: cơ sở của ưu
thế lai chính ngay ở tính dị hợp tử theo nhiều yếu tố di truyền.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, sở dĩ có hiện tượng siêu trội là do hiệu ứng
sinh lý của các gen khác nhau, những tác động lẫn nhau và các sản phẩm phản

ứng của chúng tốt hơn so với tác động độc lập do các tổ hợp gen thuần sinh ra.
Trong quá trình sinh hoá, trình tự khác nhau của các phản ứng vật chất khác nhau
đã tạo ra các vật chất khác nhau. Do đó, phản ứng sinh hoá ở con lai sẽ mạnh hơn
ở con thuần, tất cả sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể lai,
tăng cường sức sống cho cơ thể lai.
Tuy vậy, theo thuyết này ưu thế lai được tạo nên do tác động của alen dị
hợp tử cho nên không thể cố định được, nếu thuần hoá ưu thế lai sẽ giảm vì ưu
thế lai không có khả năng di truyền.
Kết hợp cả hai giả thuyết trên có quan điểm cho rằng sự thay đổi về trạng
thái hoạt động sinh hoá của hệ thống enzim trong cơ thể sống đã tạo ra ưu thế lai,
đó là tính dị hợp tử của cơ thể mới.
- Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus:
Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) nêu thuyết gia tăng tác
động tương hỗ. Thuyết này cho rằng sự tác động tương hỗ của các gen không
cùng lô cút (tác động át gen) cũng tăng lên.
Ví dụ: Đồng hợp tử AA và BB chỉ có một tác động tương hỗ giữa A và B.
Nhưng trong dị hợp tử AA’ và BB’ có 6 loại tác động tương hỗ: A-B, A’-B’, A-B’,
A’-B, A-A’, B-B’ (trong đó A-A’ và B-B’ là tác động tương hỗ giữa các gen cùng
alen, còn 4 loại tác động tương hỗ khác là tác động tương hỗ giữa các gen không
cùng alen). Ngoài ra còn có tác động tương hỗ cấp 2 như: A-A’-B’, A-A’-B...và tác
động tương hỗ cấp 3 như: A-A’-B’-B, A-B’-B-A’...

5


Ưu thế lai biểu hiện ở các mức độ khác nhau ở các tính trạng khác nhau:
các tính trạng số lượng thường được thể hiện, các tính trạng chất lượng ít được
thể hiện. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì hiệu quả chọn lọc thuần chủng
thấp, còn hiệu quả lai tạo lại cao, các tính trạng có hệ số di truyền cao thường có
ưu thế lai thấp.

Ưu thế lai còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp của các cặp bố mẹ. Khi
nghiên cứu về khả năng phối hợp Lebedev (1972) cho rằng: muốn đạt ưu thế lai
siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng gà xuất phát khác nhau về kiểu gen
nhưng lại phải có khả năng phối hợp với nhau tốt.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) cho biết mức độ biểu hiện của
ưu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tương quan âm hay dương giữa môi
trường và kiểu di truyền.
Khi nghiên cứu về ưu thế lai, nhiều nhà khoa học cho rằng ngoài quan niệm
khả năng kết hợp chung còn có khả năng kết hợp đặc biệt, khả năng này có được
là do đặc tính của dòng bố mẹ được chọn đã có từ trước.
Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) cho rằng ưu thế lai là

phần chênh lệch hơn hoặc kém của đời lai so với trung bình bố mẹ, mức độ
biểu thị biểu hiện của ưu thế lai được xác định theo công thức:
XF1 - XP1P2
H (%)=

Trong đó:
x 100

XP1P2

- XF1:

Là trung bình đời con.

- XP1P2: Là trung bình đời bố mẹ
- H: Là mức độ biểu hiện của ưu thế lai (%)

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng sản xuất là các tính trạng số

lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng
trứng… Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng,
sinh sản,… đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng số
lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Phần lớn các tính trạng sản
xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền học của tính trạng số
lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng số lượng
(Quantitative character) là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá
thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại và sự khác nhau
này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân
6


tạo. Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi
trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và
ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó. Tính trạng số lượng
còn được gọi là tính trạng đo lường (Metric character) vì sự nghiên cứu của chúng
phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của gà, kích thước các chiều đo,
khối lượng trứng… Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị của chúng có được
bằng cách đếm như: số lợn con đẻ ra/lứa, số lượng trứng gà đẻ ra trong một năm vẫn
được coi là tính trạng số lượng. Đó là những tính trạng số lượng đặc biệt. Bộ phận di
truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được coi là di truyền học số lượng
(Quantitative genetics.). Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di truyền của
Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với các tính
trạng chất lượng (Quantitative character) đối tượng nghiên cứu của của di truyền
học Mendel về 2 phương diện: thứ nhất là các đối tượng nghiên cứu không thể chỉ
dừng lại ở mức độ cá thể mà phải được mở rộng tới mức độ quần thể bao gồm các
nhóm cá thể khác nhau, thứ hai là sự sai khác giữa các cá thể không chỉ là sự phân
loại mà nó đòi hỏi phải có sự đo lường các cá thể.
Nghiên cứu đặc điểm di truyền học của các tính trạng số lượng, bên cạnh
việc vận dụng các quy luật di truyền của Mendel còn phải sử dụng các các khái

niệm toán thống kê xác suất để phân tích các giá trị di truyền.
Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là
giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó. Các giá trị có liên quan đến
kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường
là sai lệch môi trường (Environmental evitation). Như vậy có nghĩa là kiểu gen
quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với
giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ trên có thể biểu thị
như sau:
P=G+E
Trong đó:

P là giá trị kiểu hình
G là giá trị kiểu gen
E là sai lệch môi trường

Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình
giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen. Khi đó thuật ngữ trung bình quần
thể (population mean) là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung bình giá trị kiểu gen
7


của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen với
tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau.
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ
(minorgene) cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì
rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên
cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (polygene). Môi trường có ảnh
hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng
là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường. Tác động
của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không

khí… lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm
thay đổi các giá trị của tính trạng. Giá trị kiểu gen được phân theo 3 phương thức
hoạt động bao gồm: sự cộng gộp, sai lệch trội và tương tác giữa các gen.
G=A+D+I
Trong đó:

G là giá trị kiểu gen (geneotypic value)
A là giá trị cộng gộp (additive value)

D là sai lệch trội (dominancedeviation)
I là sai lệch tương tác (interaction deviation)
- Giá trị cộng gộp hay giá trị giống: Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ
cho đời con phải có 1 giá trị đo lường mới có liên hệ với gen chứ không phải có
liên hệ với kiểu gen, đó là hiệu ứng trung bình của các gen. Tổng các hiệu ứng
trung bình của các gen quy định tính trạng (tổng các hiệu ứng được thực hiện với
từng cặp gen ở mỗi locus và trên tất cả các locus) được gọi là giá trị cộng gộp
hoặc giá trị giống của cá thể. Nó là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố
định và có thể di truyền cho đời sau.
- Sai lệch trội: Khi xem xét một locus duy nhất, sai lệch trội (D) được sinh
ra từ tác động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một locus (đặc biệt là các
alen dị hợp tử) rất có ý nghĩa trong lai giống.
- Sai lệch tương tác giữa các gen: Là sai lệch do tương tác của các gen
không cùng một locus, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn
là di truyền học Mendel. Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng
nhiều của môi trường E (environmental) và được chia làm hai loại là sai lệch môi
trường chung Eg và sai lệch môi trường riêng Es.

8



+ Sai lệch môi trường chung Eg (general environmental deviation) là sai
lệch do các yếu tố môi trường có tính thường xuyên và không cục bộ tác động
lên toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi.
+ Sai lệch môi trường riêng Es (special environtmental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động
riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi. Tóm lại khi một kiểu hình
của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó
được biểu thị như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Theo Dickenson (1952) (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) thì vấn đề
tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn
nuôi gia cầm. Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở
trên, ta thấy rằng muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
- Tác động về mặt di truyền (G)
+ Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen I bằng cách phối giống tạp giao.
- Tác động về môi trường bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như: thức
ăn, thú y, chuồng trại. Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố
mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được
nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng đó có phát huy tốt hay
không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi.
1.1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai, trong đó có các yếu tố chủ
yếu sau: Nguồn gốc di truyền của bố mẹ:
Bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa thì ưu thế lai càng cao. Điều này giải
thích tại sao khi lai giữa các dòng của các giống khác nhau lại có ưu thế lai cao
hơn khi lai giữa các dòng trong cùng một giống.
Tính trạng nghiên cứu: Các tính trạng có hệ số di truyền càng thấp thì ưu
thế lai càng cao, ngược lại các tính trạng có hệ số di truyền càng cao thì ưu thế lai
càng thấp. Các tính trạng số lượng thường được biểu hiện còn các tính trạng chất

lượng ít được biểu hiện hơn.

9


Công thức giao phối: Ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc chọn con vật nào
làm bố, con vật nào làm mẹ. Trong chăn nuôi gia cầm, để nâng cao năng suất thì
ngoài việc dựa trên cơ sở về khả năng sản suất của giống người ta còn đặc biệt
quan tâm đến việc lựa chọn dòng mái có sức đẻ cao, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ ấp
nở cao, thành thục sớm, khả năng vỗ béo cao; chọn dòng trống có khối lượng cơ
thể lớn, sinh trưởng nhanh và, tiêu tốn thức ăn thấp.
Môi trường:
Mức độ biểu hiện của ưu thế lai chịu ảnh hưởng rõ rệt của môi trường sống.
Theo Bavlow (1981) ở những thay đổi mức độ ưu thế lai thường xảy ra ở những
trường hợp có liên quan đến địa điểm nuôi, mức độ dinh dưỡng, vị trí địa lý...
Hull et al. (1963) cho rằng ưu thế lai bị ảnh hưởng bởi chế độ chăm sóc, chuồng
trại, nhiệt độ môi trường. Mặt khác còn chịu ảnh hưởng của các mùa vụ ấp nở
trong năm.
Tuổi:
Theo Aggrwal và cs.. (1979); Horn et al. (1978) ưu thế lai của một số tính
trạng chịu ảnh hưởng của tuổi trong giai đoạn đầu và ảnh hưởng bởi chu kỳ đẻ.
Trong giai đoạn sinh trưởng đầu của gà thịt, ưu thế lai đối với thể trạng tăng từ 0
(mới nở) lên 2-10% (lúc giết thịt 6-10 tuần tuổi), ưu thế lai với sức sống từ 0-6%,
năng suất trứng/mái từ 2-10%, tăng đáng kể ở chu kỳ 2 so với chu kỳ đầu.
Tính thích nghi của gia cầm đối với điều kiện ngoại cảnh:
Tính thích nghi của gia cầm chính là sự phản ứng của cơ thể đối với các
kích thích trong cơ thể và ngoài môi trường. Khả năng thích nghi của con vật là
yếu tố rất quan trọng giúp cho con vật sinh tồn và phát triển trong điều kiện sống
mới. Di truyền và điều kiện ngoại cảnh là hai yếu tố có tác động cơ bản quyết
định năng suất vật nuôi, có nghĩa là kiểu gen qui định một giá trị nào đó của cơ

thể và môi trường gây ra sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc
hướng khác. Con giống tốt được nuôi trong điều kiện phù hợp sẽ phát huy tối đa
tiềm năng di truyền, nhưng nếu điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi sẽ ảnh hưởng
đến năng suất của con giống. Ngược lại không có con giống tốt thì yếu tố ngoại
cảnh cũng không thể nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi.
Tính thích nghi của gia cầm có liên quan đến sự thay đổi di truyền, sinh lý,
tính thích nghi bao gồm:

10


+ Thích nghi về di truyền: Liên quan đến chọn lọc tự nhiên và chọn lọc
nhân tạo. Tính thích nghi di truyền đề cập đến các đặc tính di truyền, các đặc tính
này giúp cho quần thể động vật sinh tồn trong một môi trường nhất định, nó liên
quan đến sự tiến hoá qua nhiều thế hệ hay là sự biến đổi để có đặc tính di truyền
riêng biệt.
+ Thích nghi về sinh lý: Liên quan đến sự thay đổi của từng cá thể. Tính
thích nghi sinh lý liên quan đến đặc điểm về sinh lý học, giải phẫu học và đặc điểm
của con vật, giúp cho con vật củng cố sức khoẻ và nâng cao sức sống.
Thích nghi bao gồm cả khả năng phát triển và sự điều chỉnh mối quan hệ của
bản thân đối với sinh vật khác và môi trường xung quanh. Con vật có khả năng thích
nghi tốt thì sẽ có khả năng tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị đào thải.
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, khi mới nhập về
môi trường mới, việc quan tâm đầu tiên là tính thích nghi của con vật, giống có khả
năng thích nghi tốt mới có thể nhân giống và phát triển rộng rãi được.
1.1.2. Cơ sở khoa học của lai kinh tế
Lai kinh tế là phương thức lai giữa hai cá thể thuộc hai dòng hoặc hai giống
khác nhau, con lai F1 không sử dụng làm giống mà để khai thác sản phẩm thịt,
trứng, sữa, lông, da... lai kinh tế còn gọi là lai công nghiệp vì chỉ sử dụng F1 làm
sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh, hàng loạt, có chất lượng trong

một đơn vị thời gian tương đối ngắn (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện,
1995). Người ta tiến hành lai kinh tế là để sử dụng ưu thế lai làm tăng nhanh mức
độ trung bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là đối với các
tính trạng khối lượng, tăng trọng, tăng các chiều đo. Con lai có thể mang những
đặc tính trội của giống gốc bố, mẹ hoặc cũng có thể phối hợp được những đặc
tính của hai giống đó, có trường hợp con lai vẫn giữ nguyên tính bảo thủ của một
trong hai giống.
Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại
cảnh. Do vậy trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi
là cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải tiến phương pháp chăn nuôi.
Bên cạnh việc chọn lọc, nhân giống thuần chủng, lai tạo là phương pháp cải
tiến di truyền có hiệu quả cao và nhanh. Nhận thức điều này, từ lâu con người đã
chú trọng công tác lai tạo. Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) kể từ
những giống vật nuôi đầu tiên được tạo ra từ cuối thế kỷ XVIII, các giống mới
11


đều được hình thành bằng con đường lai tạo và những giống gốc ban đầu ít nhiều
có pha máu giữa các giống khác nhau. Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm như
thịt, sữa, trứng, lông... phần lớn đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng
đã có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sản phẩm. Các giống, dòng
càng thuần bao nhiêu thì con lai càng có ưu thế lai cao bấy nhiêu (Trần Đình
Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995). Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Darwin là
người đầu tiên nêu lên lợi ích của việc lai tạo, ông đã kết luận rằng lai là có lợi,
tự giao là có hại đối với động vật.
Trong quá trình nghiên cứu di truyền, Mendel đã đưa ra một nguyên tắc
hoàn toàn mới để nghiên cứu đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên
cứu đặc điểm di truyền của những tính trạng và đặc tính riêng rẽ.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1975) cho rằng lai tạo nhằm mục
đích lay động tính bảo thủ sẵn có trong từng cá thể, từng dòng, từng giống, phát

huy những bản chất di truyền tốt của con lai tạo nên các tổ hợp lai mới có năng
suất cao hơn, hiệu quả chăn nuôi tốt hơn.
Lai tạo còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng đó là ưu thế lai,
làm cho sức sống của con vật, sức miễn dịch đối với bệnh tật và các tính trạng
kinh tế được nâng cao, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của các
tổ hợp lai, ưu thế lai làm căn cứ cho việc chọn lọc giống gia súc (Lê Đình Lương,
Phan Cự Nhân, 1994).
Từ những nguyên lý trên các nhà khoa học kết luận: để tăng năng suất vật
nuôi, trong công tác giống hiện nay chính là nhờ quá trình lai tạo. Tuỳ theo mục
đích lai tạo mà các nhà tạo giống có thể áp dụng các phương pháp lai khác nhau
như: Lai kinh tế, lai pha máu, lai cải tiến, lai gây thành, lai xa... trong đó lai kinh
tế được áp dụng rộng rãi nhất. Khi nghiên cứu phương pháp lai kinh tế, người ta
thường quan tâm đến khả năng phối hợp, bởi vì nếu khả năng phối hợp tốt sẽ tạo
ra ưu thế lai cao.
Nguyễn Ân và cs..(1983) khi nghiên cứu về lai kinh tế đã đưa ra kết luận: để
lai kinh tế có hiệu quả thì phải tiến hành chọn lọc tốt các dòng thuần chủng làm cho
các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử tăng lên.
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới như
Wassen (1928), Kawahara (1960), Kushner (1954,1958), Fomla (1964) cho
rằng khi chọn đúng cặp bố mẹ cho giao phối thì con lai có sức sống cao ở thời
12


kỳ phôi và hậu phôi, sản lượng trứng tăng và chi phí thức ăn giảm (Nguyễn
Ân và cs., 1983).
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) cho rằng trong thực tế chăn nuôi
không phải bất cứ giống nào, dòng nào cho lai cũng cho kết quả tốt, tức là khi chọn
phối các cặp bố mẹ phải có khả năng phối hợp. khả năng phối hợp phụ thuộc vào
mức độ chọn lọc các giống gốc, nếu các giống gốc có áp lực chọn lọc cao, có tiến bộ
di truyền lớn thì khi cho lai với nhau có khả năng phối hợp cao.

Giống gia súc, gia cầm là một quần thể lớn. Trong giống lại bao gồm nhiều
dòng, mỗi dòng lại có đặc điểm chung của giống, nhưng lại có những đặc điểm di
truyền riêng biệt. Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định
ưu thế lai.
Trong công tác giống gia cầm hiện nay, thay thế cho phương pháp lai giữa
các giống như trước đây phương pháp lai giữa các dòng là phổ biến. Người ta lai
các dòng gà khác biệt về kiểu gen, nhưng lại có khả năng kết hợp được trong
cùng một cơ thể. Vì vậy, mà phải chọn các dòng gà có khả năng kết hợp tốt.
Trong công tác nhân giống thuần chủng, công tác chọn giống rất chặt chẽ,
đàn giống được chọn ra từ những cá thể có năng suất cao hơn hẳn năng suất bình
quân toàn đàn, nhưng không phải tất cả các cá thể có năng suất cao đều có chất
lượng di truyền tốt. Vì thế, muốn nâng cao năng suất chất lượng thì người ta phải
thực hiện phương pháp lai tạo. Nhưng muốn đạt hiệu quả cao trong lai tạo thì
chọn giống phải đi theo một hướng nhất định là chọn lọc có định hướng, nếu
không thì sự phối hợp giữa các dòng sẽ dẫn đến kết quả năng suất và chất lượng
con lai không đạt như mong muốn. Do đó, muốn gia cầm lai có năng suất cao thì
không thể cho giao phối một cách ngẫu nhiên mà phải cho giao phối giữa các
dòng đã được qui định, những dòng này đã được kiểm tra chất lượng, năng suất
theo một phương pháp chọn giống nhất định và được thực hiện nghiêm ngặt
trong những cơ sở giống.
Theo Hoàng Kim Loan (1973) gia cầm lai không những thể hiện được chất
lượng tổng hợp của các dòng thuần mà còn đạt hiệu quả của ưu thế lai từ 5-20%.
Có thể nói đây là sự ưu đãi của thiên nhiên mà con người có thể sử dụng tốt, nếu
nắm được quy luật của phương pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng
các gia cầm lai giữa các dòng là một trong những vấn đề quan trọng nhất.

13


Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1975) thì trên thế giới, phương

pháp lai kinh tế được sử dụng rất nhiều, có những nước 80% sản phẩm thịt là do
lai kinh tế. Ở Việt Nam đã nghiên cứu công thức lai giữa các tổ hợp lai như: gà
Tam Hoàng với gà Ri, gà Hồ, gà Mía với gà Tam Hoàng, gà Kabir với gà Ri, gà
Rhode với gà Ri... thường con lai F1 có khả năng cho thịt trứng cao hơn trung
bình gà bố mẹ.
Trong công tác giống gia cầm, khi lai kinh tế người ta có thể dùng phương
pháp lai đơn hoặc lai kép, nhưng đôi khi cũng sử dụng phương pháp lai ngược.

- Lai đơn:
Là phương pháp lai giữa con đực và con cái thuộc hai dòng, giống khác
nhau để sản suất ra con lai F1, tất cả con lai F1 đều được sử dụng để nuôi thương
phẩm và không dùng để làm giống. Trong công tác giống gia cầm lai đơn thường
được sử dụng khi lai giữa các giống gà địa phương với các giống gà ngoại nhập
cao sản thường được sử dụng nhiều trong sản suất gà kiêm dụng trứng thịt nhằm
tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và khả năng
sinh trưởng nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt của gà cao sản nhập nội.

- Lai kép:
Đây là phương pháp lai kinh tế phức tạp. Trước tiên cho lai giữa hai dòng
hoặc hai giống A và B để tạo đời : FAB, lai giữa hai dòng hoặc hai giống C và D
để tạo con đời: FCD. Sau đó cho lai con lai FAB với con lai FCD để được con lai
đời 2: FABCD. Tất cả con lai đời 2 đều sử dụng nuôi thương phẩm và không
dùng để làm giống. Phương pháp này được sử dụng phổ biến để tạo gà thương
phẩm chuyên trứng, chuyên thịt, chẳng hạn đối với gà hướng trứng lai 4 dòng
như Goldline 54, Hisex, ISA Brown, Lohmann Brown... với gà hướng thịt như
BE88, Avian, Abor Acres, Lohmann meat... Theo kết luận của nhiều nhà khoa
học thì lai 4 dòng là tốt nhất đối với gà hướng trứng và gà hướng thịt. Ngoài việc
tạo ưu thế lai với con lai thương phẩm, còn có hiện tượng các gen liên kết với
giới tính để phân biệt gà trống và gà mái từ lúc 1 ngày tuổi thông qua màu lông
hoặc tốc độ mọc lông cánh.


- Lai kinh tế ngược:
Là phương pháp cho con đực và con cái thuộc hai giống khác nhau giao
phối với nhau để tạo con lai F1, sau đó dùng con lai F1 giao phối trở lại với một
trong hai giống xuất phát để tạo con lai F2. Tất cả con lai F2 đều được sử dụng
14


nuôi thương phẩm và không dùng để làm giống. Khi muốn củng cố, phát huy
những đặc tính tốt của một giống nào đó thì người ta thường lai ngược, vì con lai
đời 2 mang 3/4 máu của giống đó.
1.1.3. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
1.1.3.1. Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của
cơ thể, là sự tăng về chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ
cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng
chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, cũng chính
là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên,
Nguyễn Kim Đường, 1992). Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp
protein nên thường lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.
Cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng
đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Nhìn từ khía cạnh giải phẫu, sinh lý thì sự sinh
trưởng của các mô cơ diễn ra theo sơ đồ sau: Hệ thống tiêu hoá nội tiết - hệ thống
xương - hệ thống cơ bắp - mỡ.
Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của
sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát trển của
xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối
của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống
cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật
càng tích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ.

Theo Chamber (1990) thì Mozan (1927) định nghĩa: sinh trưởng là sự tổng
hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt da, xương. Tuy nhiên
có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là
tăng các tế bào của mô cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ
thể. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:
- Phân chia để tăng khối lượng tế bào
- Tăng thể tích tế bào
- Tăng thể tích giữa các tế bào
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của
các bộ phận trong cơ thể hình thành lên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa
hưởng các đặc tính di truyền của đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn
15


thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường. Trong
các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất từ: 42
- 45 % khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ thể của con trống luôn lớn hơn con mái
(không phụ thuộc vào lứa tuổi và từng loại gia cầm) (Ngô Giản Luyện, 1994).
- Các giai đoạn sinh trưởng của gà: Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất
thông qua quá trình trao đổi chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế
bào và dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính
di truyền. Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự tăng
lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn gà con và
giai đoạn trưởng thành.
+ Giai đoạn gà con: Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào
tăng nhanh, một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh
như các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá, do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý
đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh
trưởng của gà. Quá trình thay lông cũng diễn ra trong cùng một giai đoạn này, nó
làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm

lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong khẩu phần ăn.
+ Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như
đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục.
Quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ
thể, một phần để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con.
+ Khối lượng cơ thể ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự
sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai
khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian
ở các độ tuổi. Đơn vị tính được bằng g/con hoặc kg/con.
+ Sinh trưởng tuyệt đối:
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong
một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997). Sinh trưởng
tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì
hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại.
+ Sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời
16


×