Mở đầu
Trong xã hội hiện đại, khi sức mạnh đồng tiền gần như chi phối hết tất cả những
gì xảy ra trong cuộc sống thì con người ta càng biết quý trong hơn những giá trị tinh
thần, đời sống tính cảm và những tâm tư, nguyên vọng của cá nhân. Những cái đó
được gọi là tâm lí. Tâm lí là một hiện tượng phức tạp mà con người là tổng hòa của các
mối quan hệ xã hội, là trung tâm để phản ánh thế giới khách quan. Trong đó quá trình
nhận thức giúp con người bày tỏ được thái độ, tình cảm và hành động đối với thế giới
xung quanh mình.
Tri giác nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, là một quá trình nhận thức quan
trọng, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự vật hiện tượng tồn tại trong cuộc sống của
mình. Tuy nhiên mỗi một quá trình nào cũng tuân theo quy luật cụ thể và mỗi quy luật
của tri giác đều là một thể nghiệm đã được thực tế chứng mình. Nhân thức được tâm
thiết yếu của vấn đề, nhóm 7 xin chọn câu “ Trình bày các quy luật của tri giác. Ứng
dụng của các quy luật này trong cuộc sống và trong lĩnh vực pháp lý” để làm bài
tập nhóm cho mình.
Nội dung
Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người ( Nhận thức,
tình cảm, hành động ) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ mật thiết
với các hiện tượng tâm lý khác của con người. Nó là quá trình tâm lý phản ánh hiện
thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh
nghiệm hiểu biết của bản thân.
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau và thể hiện ở những mức
độ phản ánh hiện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực
khách quan( hình ảnh, biểu tượng, khái niệm).
Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia họat động nhận thức thành hai mức độ:
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có
quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau, thống nhất trong quá
trình nhận thức.
Trong quá trình nhận thức cảm tính thì tri giác là đại diện.
1. Cơ sở lí luận
a. Định nghĩa:
Tri giác là quá trình tâm lý phản ảnh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật,
hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan. Là quá trình phản ảnh trong ý
thức con người về những sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào cơ quan
cảm giác.
Ví dụ: 1 đứa trẻ lần đầu tiên nhìn thấy 1 quả tròn màu vàng, có mùi thơm, bề mặt
nhẵn chưa biết là quả gì. Nhưng mẹ bảo là quả thị. lần sau nhìn thấy quả đó nó biết
ngay là quả thị.
b. §Æc ®iÓm:
- Tri giác là một quá trình nhận thức tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc. Kích
thích gây ra tri giác chính là các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
- Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn. Nghĩa là nó phải đem lại cho
ta một hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng.
Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật và hiện
tượng quy định.
- Tri giác phản ánh hiện thực khách quan một cách tiếp nghĩa là sự vật, hiện tượng phải
đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta.
- Tri giác của con người mang bản chất xã hội, lịch sử.
- Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở con người trưởng
thành.
c. Vai trß:
Ở mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác đóng vai trò quan trọng
trong đời sống tâm lí của con người. Vai trò của tri giác được biểu hiện như sau :
- Trên cơ sở phản ánh thế giới một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn cảm giác mà tri giác
giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong môi trường xung
quanh.
- Hình ánh tri giác với sự tham gia của vốn kinh nghiệm sống của các chức năng tâm
lý, hành vi và hoạt động của con người trong thế giới, giúp con người phản ánh thế
giới có lựa chọn và mang tính ý nghĩa.
- Ở trình độ phát triển cao của tri giác có mục đích, có kế hoạch, có biện pháp và đạt
mức phản ánh đối tượng tốt nhất thì tri giác trở thánh hoạt động quan sát của con
người.
II. Các quy luật của tri giác. Ứng dụng của các quy luật này trong cuộc sống
và trong lĩnh vực pháp lý:
1. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:
Chúng ta biết rằng trong cuộc sống có rất nhiều các sự vật, hiện tượng tác động đến
con người, nó đa dạng tới mức con người không thể tri giác và phản ứng với tất cả
những kích thích đó một cách đồng thời. Chúng ta chỉ tách ra một cách rõ ràng từ trong
vô số những tác động đó và tri giác một vài tác động mà thôi. Đặc điểm này đã cho
chúng ta thấy được tính lựa chọn của tri giác.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác đã thể hiện một cách tích cực hoạt động tri
giác: Tách đối tượng ra khỏi bối cảnh chung, là hình ảnh chủ quan vào thế giới khách
quan và lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình. Theo như quy luật tính lựa chọn thì
khi ta tri giác một vật nào đó tức là ta tách vật đó (Đối tượng mà ta tri giác) ra khỏi các
vật xung quanh (bối cảnh). Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất vô định, vai
trò của đối tượng và bối cảnh có thể đổi chỗ cho nhau. Một vật nào đó lúc này là đối
tượng, lúc khác lại là bối cảnh và ngược lại.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được thể hiện thông qua ví dụ sau: khi ta ra
chợ mua ổi, trong rổ quả của người bán hàng có nhiều loại quả: ổi, cam, dứa, xoài. Do
tri giác ta biết được quả ổi có hình dạng là hình tròn, có màu xanh, vì vậy ta chỉ lựa
chọn những quả có đặc điểm như vậy mà không chọn quả cam, xoài hay dứa mặc dù
các loại quả này đều có trong rổ. Ví dụ này đã cho thấy tính lựa chọn của tri giác.
Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được ứng dụng một cách rộng rãi trong cuộc
sống của mỗi con người nói chung và đặc biệt là đối với những cán bộ trong khoa học
pháp lý nói riêng. Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống hàng ngày con người phải
luôn chịu sự tác động của rất nhiều sự kiện có thể là một sự kiện về văn hoá, xã hội
hay một mảng nào đó của đời sống. Nhưng không phải tất cả những sự kiện đó đều
được mọi người quan tâm, xem xét, nghiên cứu hết mà ở đây chúng ta đã biết vận dụng
quy luật về tính lựa chọn của tri giác vào việc lựa chọn những sự kiện có lợi, những sự
kiện phụ vụ cho nhu cầu của cuộc sống.
Ví dụ: Trong một ngày có rất nhiều sự kiện xảy ra có tác động trực tiếp đến cuộc
sống của mọi người trong xã hội như: Sự kiện giá xăng dầu tăng, một bản tin về vấn đề
kinh doanh bất động sản hay một số vấn đề văn hoá, xã hội khác. Nhưng với nhiều sự
kiện đó, có người chỉ lựa chọn và quan tâm đến sự kiện xăng dầu tăng mà không quan
tâm đến những sự kiện khác vì vấn đề này có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của
họ. Đối với những người tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản thì họ chỉ quan
tâm đến thông tin bất động sản mà không hề quan tâm đến những vấn đề khác mặc dù
trong cùng một ngày tất cả các sự kiện đó đều tác động tới mình. Đó là quy luật tính
lựa chọn của tri giác.
Không chỉ được ứng dụng vào thực tế cuộc sống hằng ngày, quy luật về tính lựa
chọn của tri giác còn được ứng dụng vào hoạt động điều tra, xét xử của các cán bộ
trong ngành pháp lý. Ví dụ: đối với một hoạt động điều tra của một điều tra viên trong
quá trình điều tra, hỏi cung sẽ xuất hiện nhiều đối tượng có liên quan đến vụ án nhưng
người cán bộ điều tra phải biết lựa chọn những đối tượng có liên quan đến vụ án mà
mình đang điều tra và loại bỏ những đối tượng không liên quan. Hay đối với hoạt động
xét xử của thẩm phán cũng vậy, khi xét xử một vụ án có rất nhiều các quy phạm pháp
luật điều chỉnh vụ việc đó nhưng người thẩm phán phải biết lựa chọn quy phạm pháp
luật phù hợp có liên quan trực tiếp đến vụ việc mà mình giải quyết và loại bỏ những
quy phạm không liên quan. Vậy tính lựa chọn giúp những người hoạt động trong lĩnh
vực pháp lý xác định được đối tượng liên quan đến vụ án, lựa chọn biết đối tượng nào
cần lưu tâm hơn, cần tri giác hơn. Nhờ vậy, hoạt động điều tra của họ được nhanh
chóng và hiệu quả hơn.
2. Quy luật về tính đối tượng của tri giác:
Trong đời sống thực tế rất ít khi ta có cảm giác về một thuộc tính riêng lẻ nào đó của
sự vật, hiện tượng thông thường mà não bộ phản ánh hiện tượng, sự vật với toàn bộ
những thuộc tính một cách trọn vẹn đó chính là hiện tượng tri giác. Vậy thì ngoài quy
luật nêu trên, tri giác còn có quy luật về tính đối tượng.
Nội dung của quy luật: Khi những sự vật, hiện tượng nào đó của thế giới khách quan
tác động trực tiếp vào các giác quan của con người thì tính tri giác được hình thành.
Mỗi hành động tri giác (Ví dụ như nghe, nhìn..) có một đối tượng cụ thể (nghe âm
thanh, nhìn sự vật..) tồn tại khách quan được ta phản ánh.
Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng nó là cơ sở của chức năng định
hướng hành vi và hành động của con người.
Ở mức độ nhận thức cao hơn cảm giác, tri giác đóng vai trò quan trọng trong đời
sống tâm lí con người. Trên cơ sở phản ánh thế giới một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn
cảm giác mà quy luật về tính đối tượng của tri giác giúp cho con người định hướng và
xác định được chính xác đối tượng mà được ta tri giác. Từ đó giúp con người hiểu rõ
hơn về các sự vật, hiện tượng tồn tại bên ngoài chúng ta. Ví dụ: Một họa sĩ cần vẽ bức
chân dung của người phụ nữ thì người họa sĩ đó phải nhìn vào các đường nét, hình ảnh
trên khuôn mặt người phụ nữ như: mắt, mũi, cằm…mà anh ta muốn vẽ tức là anh ta
phải xác định rõ từng đối tượng cụ thể trên khuôn mặt của người phụ nữ ấy thì lúc đó
anh ta mới vẽ giống và đẹp được.
Không những vậy quy luật về tính đối tượng của tri giác còn có vai trò quan trọng
trong lĩnh vực pháp lý, đặc biệt là trong cơ quan tố tụng, điều tra tội phạm. Nó giúp
cho các điều tra viên xác định được đối tượng liên quan đến vụ án cũng như các dấu
vết hoặc các chi tiết nhỏ nhất trên hiện trường mà hung thủ để lại từ đó đưa ra phán
quyết đúng về vụ án. Mặt khác, thông qua quy luật này các điều tra viên có thể quan
sát hiện trường một cách tỉ mỉ và cũng có thể hình dung ra vụ án xảy ra như thế nào
hoặc có thể là nhìn nét mặt một người nào đó cũng có thể linh cảm rằng đối tượng mà
mình quan sát có thể là tội phạm. Và khi đó kết hợp với tư duy thì điều tra viên có thể
sẽ nhanh chóng tìm ra thủ phạm gây án.
3.Quy luật về tính ý nghĩa:
Qúa trình cảm giác chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẽ, bề ngoài của sự vật hiện
tượng nên không nhận biết được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên ở quá trình
tri giác, con người có thể nhận biết ý nghĩa của sự vật, hiện tượng, gọi tên được sự vật,
hiện tượng. Việc tách đối tượng ra khỏi bối cảnh sẽ giúp con người hiểu được ý nghĩa
của nó đồng thời gọi được tên của nó. Vậy kết quả của quá trình tri giác bao giờ cũng
có nghĩa về sự vật hiện tượng mà chúng ta tri giác. Vì thế, mặc dù tri giác nảy sinh do
sự tác động trực tiếp của sự vật, hiện tượng vào các giác quan nhưng những hình ảnh
tri giác luôn luôn có một ý nghĩa xác định. . Vậy kết quả của quá trình tri giác bao giờ
cũng có nghĩa về sự vật hiện tượng mà chúng ta tri giác.
Tri giác ở con người gắn chặt với tư duy, với sự hiểu biết về bản chất của sự vật. Tri
giác sự vật một cách có ý nghĩa- điều đó có nghĩa là gọi tên được sự vật đó, và xếp
được sự vật đang tri giác vào một nhóm, một lớp các sự vật xác định, khái quát nó
trong một từ xác định. Ví dụ: khi tri giác một sự vật có các thuộc tính như nó hình bầu
dục, có nhiều gai, ruột màu vàng có hạt và rất thơm thì có thể cho phép người ta gọi
vật đó là quả mít.
Ngoài ra ngay cả khi tri giác không quen thuộc, chúng ta cũng cố thu nhận trong nó
một sự giống nhau nào đó với những đối tượng mà mình đã biết, xếp nó vào một phạm
trù nào đó.
Quy luật về tính ý nghĩa của tri giác có ứng dụng rộng rãi trong đời sống và đặc biệt,
trong hoạt động pháp lí, ứng dụng của nó có vai trò rất quan trọng. Trong đời sống,
ứng dụng của tính ý nghĩa giúp con người hiểu sâu sắc, cụ thể, rõ ràng hơn về các sự
vật, hiện tượng mà mình tri giác được bởi nó gắn chặt với tư duy, với sự hiểu biết bản
chất của sự vật. Ví dụ, khi chúng ta ăn món bún chả, chúng ta tri giác được mùi thơm
của thịt heo nướng, hòa quyện với nước chấm chua chua, ngọt ngọt, ăn kèm với rau
sống. Qua đó ta hiểu được một phần nguyên liệu hay cách chế biến của món ăn này,
giúp quá trình thưởng thức món ăn của chúng ta đậm đà và có ý nghĩa hơn.
Trong hoạt động pháp lý, tính ý nghĩa của quy luật tri giác giúp cho mình hiểu được
bản chất, vai trò, ý nghĩa của sự việc mình đang điều tra, qua đó có các phương án đối
phó tối ưu và hiệu quả nhất. Ví dụ khi xét xử một vụ án hình sự, các cơ quan xét xử
phải tìm hiểu cặn kẽ những nguyên nhân, động cơ, mục đích...của tội phạm, hiểu được
chi tiết của từng sự việc liên quan đến vụ án, gọi đúng tên của hành vi phạm tội đó nhờ
đó sẽ quy án cho kẻ phạm tội một cách chính xác và đúng luật nhất. Không để bỏ qua
một đối tượng nào hay một chi tiết nào liên quan đến vụ án. Như vậy tính ý nghĩa giúp
cho hoạt động pháp lý được diễn ra một cách chặt chẽ, đầy đủ và chính xác nhất.
Quy luật về tính ý nghĩa của tri giác giúp cho hoạt động của con người trong đời
sống cũng như của các cán bộ làm việc trong lĩnh vực pháp lí được hoàn thiện và hiểu
quả cao.
4. Quy luật tính ổn định của tri giác:
Sự vật xung quanh ta nằm ở nhiều vị trí khác nhau đối với chủ thể tri giác và những điều
kiện xuất hiện của chúng ( độ chiếu sáng, vị trí trong không gian, khoảng cách tới tri giác)
cũng rất đa dạng. Vì vậy, hình ảnh của chúng luôn luôn thay đổi, xoay chuyển theo những
hướng khác nhau.
Tính ổn định của tri giác là khả năng con người tri giác, phản ánh sự vật hiện tượng
một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi. Tính ổn định của tri giác được
hình thành trong hoạt động với đồ vật và là một điều kiện cần thiết của đời sống con
người. Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có.
Như chúng ta đã biết, tâm lí là sự phản ánh hiên tượng khách quan vào bộ não
người. Bởi vậy, đối tượng mà tâm lí con người hướng đến ở đây chính là các hiên
tượng khách quan đó. Đó có thể là những hiện tượng thiên nhiên đơn giản, cũng có thể
là những hiện tượng đời sống phức tạp. Trong mối quan hệ giữa cặp phạm trù bản chất
và hiện tượng, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định, bản chất là cái ổn định
còn hiện tượng là cái luôn thay đổi. Tính ổn định của tri giác chính là khả năng cảm
nhận được bản chất của các sự vật hiện tượng đó. Sự vật, hiện tượng có thể thay đổi
khi những điều kiện khách quan tác động đến nó thay đổi. Cùng là hình ảnh của một
người, nhưng khi đứng trước một chiếc gương phẳng sẽ khác khi đứng trước một chiếc
gương cầu lồi hay lõm. Cùng là một viên phấn, nhưng ở trong bóng tối, nó sẽ không
còn có màu trắng như bình thường ta vẫn thấy. Nhưng với đặc trưng phản ánh sự vật
hiện tượng một cách trọn vẹn khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta, tri
giác giúp con người nhìn nhận sự vật hiện tượng là nó chứ không phải là một sự vật
hiện tượng nào khác. Một người dù đứng trước muôn vàn cái gương thì người đó vẫn
là chính họ, viên phấn dù trong bóng tối hay ngoài sang, nó vẫn là viên phấn, là vật
hình trụ, dài, màu trắng…
Cũng như các quy luật khác của tri giác, quy luật tính ổn định của tri giác cũng
mang đến những ứng dụng quan trong trong cuộc sống cũng như trong lĩnh vực pháp
lý. Nhờ có tính ổn định này, con người khi tri giác một sự vật hiện tượng luôn nhìn
nhận được những thuộc tính căn bản của sự vật, hiện tượng. Từ đó tạo tiền đề vững
chắc cho hoạt động tư duy. Nhờ tri giác luôn ổn định con người dễ dàng tạo dựng được
những mối liên kết giữa các sự vật, hiện tượng này với các sự, vật, hiện tượng khác, từ
đó có những phát minh, phát hiện hết sức thú vị, đáng ngạc nhiên. Niu-tơn, từ việc
nhìn thấy trái táo rụng xuống mà phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn. Sự phát minh
này của Niu-tơn chính là do sự ổn định của tri giác mang lại. Một ví dụ khác như một
người có chiều cao 1m60 nhưng khi người đó đứng gần người cao 1m80, ta có cảm
giác rằng người đó thấp, mặt khác, khi người đó đứng gần một người có chiều cao
1m50 ta lại thấy người đó cao. Tuy nhiên trong thực tế ta vẫn tri giác người đó cao
1m60.
Trong hoạt động pháp lý, bằng việc tăng cường khả năng quan sát, có sự tri giác
nhạy bén, những nhà hoạt động tư pháp cũng sẽ có một tư duy ngành tư pháp phong
phú hơn. Sự quan sát, kích thích các giác quan, hay nói cách khác là tri giác sẽ dễ dàng
tạo dựng được những mối liên kết sự ràng buộc, và từ đó tìm ra vấn đề vướng mắc. Ví
dụ tính ổn định của tri giác giúp cho các cơ quan điều tra định hình rõ đối tượng mà
mình đang nghi ngờ, tìm hiểu, tức cho dù đối tượng có thay hình đổi dạng như thế nào
thì mình vẫn nhận ra đối tượng đó, nó giúp cho nhà điều tra không bị nhầm lẫn trong
quá trình điều tra vụ việc, không bị những kẻ phạm tội qua mặt hay lừa bịp, để xử lí
công việc một cách hiệu quả và đúng đắn nhất.
5. Quy luật tính tổng giác của tri giác:
Quá trình tri giác không những chịu sự tác động từ các kích thích bên ngoài mà còn
chịu tác động bởi những yếu tố bên trong của chủ thể: nhu cầu, hứng thú, sở thích, tình
cảm, mục đích, động cơ…Ngoài những kích thích gây ra tri giác, nó còn quy định bởi
một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác. Không phải con mắt tách rời,
không phải bản thân cái tai tự nó tri giác sự vật mà là một con người cụ thể, sống động
tri giác sự vật.
Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung của đời sống tâm lí con người, vào đặc điểm
nhân cách của họ, được gọi là hiện tượng tổng giác.
Tri giác luôn phản ánh trọn vẹn các thuộc tính của của sự vật, hiện tượng. và để thực
hiện điều này, chính sự tri giác cũng cần phải có sự tổng quan. Con người tri giác các
sự vật, hiện tượng không chỉ bằng các giác quan mà còn có sự tham gia của tất cả đặc
điểm tâm sinh lý, nhân cách của họ. Giữa ngày hè nắng nóng, với một li nước trong
tay, ta không chỉ tri giác đó là cốc nước, mà với cơn khát đang hành hạ, ta cảm thấy
cốc nước đó mát, sảng khoái vô cùng. Một bát cơm nguội thôi, đối với những người
không trực tiếp làm ra chúng, nó chỉ đơn giản là gạo, một thức ăn nuôi sống con người,
ngọt, mềm và có màu trắng... Nhưng đối với những người đã bỏ công trồng lúa, gom
lấy từng hạt thóc mà sang sẩy .. thành những hạt gạo, nó còn quý trọng hơn vàng, nó là
mồ hôi, công sức của họ. Chính nhờ quy luật này, các sự vật, hiện tượng khi được tri
giác không những có độ rộng mà còn có độ sâu.
Quy luật này ứng dụng vào thực tế cuộc sống nói chung đặc biệt là trong giáo dục
con người và trong hoạt động tư pháp nói riêng. Trẻ em phải được giáo dục trong môi
trường tốt, được xây dựng một nhân cách tốt, phát triển lành mạnh. Chỉ khi đó, đứng
trước những mặt trái của xã hội, trước những tệ nạn như nghiện hút, tiêm chích hay
trộm cắp cướp giật, chúng mới có thể nhận thức đó là những cái xấu và dừng lại đúng
lúc. Một đứa trẻ bình thường, nó có mắt để biết được trước mắt cậu là những bọn lưu
manh, côn đồ. Nó có tai để nghe thấy những lời khó chịu. Nhưng chỉ với một nền tảng
nhân cách tốt, lối sống lành mạnh, nó mới có thể tránh những cạm bẫy xấu xa của xã
hội. Trong hoạt động pháp lý, tính tổng quan của tri giác mang lại những hiệu quả cao
hơn trong công việc. Điều này đòi hỏi ở những người hoạt động pháp lý một kĩ năng,
kiến thức hoàn thiện về pháp luật, một kinh nghiệm phong phú và hơn thế là độ nhạy
cảm trong công việc. Có như vậy, khi đối mặt với tên tội phạm, anh ta mới biết được
hắn có phạm tội hay không, khi đứng trước những chứng cứ phạm tội, anh ta mới cảm
nhận được đâu là những chứng cứ liên quan đến vụ án, đâu là những chứng cư vô can.
Kết bài
Như vậy tri giác có ý nghĩa trọn vẹn trong cách nhận thức, đánh giá, nhìn nhận tổng
quan về sự vật, hiện tượng được phản ánh. Qua phân tích các quy luật của tri giác,
phân tích nó và hiểu rõ hơn qua các vị dụ ứng dụng trong thưc tế và trong lĩnh vực
pháp lý,ta thấy tri giác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con người nói chung
và trong nghiệp vụ của các nhà làm luật nói riêng, nó giúp con người nhạy cảm hơn,
nhanh nhạy hơn, nâng cao khả năng tư duy, cải tạo… giúp chúng ta hoàn thành công
việc một cách hiệu quả và hợp lý nhất.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Giáo trình tâm lí học đại cương, Trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân
dân.
2.
Giáo trình tâm lí học đại cương, Trường đại học sư phạm Hà nội, Nxb ĐH sư
phạm Hà Nội
3.
Một số tài liệu tham khảo trên internet.