LỜI MỞ ĐẦU
Tình hình cạnh tranh cao nên các tranh chấp thương mại hay tranh chấp
kinh doanh trong thời đại kinh tế hiện nay đang rất phổ biến. Khi tranh chấp xảy
ra thì các phương thức giải quyết cơ bản bao gồm: thương lương, hòa giải, trọng
tài thương mại, tòa án. Trong đề tài này chúng em chỉ xin nghiên cứu về giải
quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài thương mại, trong đó đi
sâu vào bàn luận về thi hành, hủy phán quyết trọng tài. Em xin đi vào vấn đề
“Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán
quyết trọng tài » làm bài tập học kỳ. Rất mong ý kiến đánh giá của thầy cô để
bài làm em được hoàn thiện hơn, em xin chân thành cảm ơn.
1
NỘI DUNG
I.
Khái niệm và bản chất trọng tài thương mại và nguyên tắc thi
hành, hủy phán quyết trọng tài
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại, được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự,
thủ tục tố tụng theo quy định của Luật trọng tài Thương Mại. Với tư cách là cơ
quan tài phán tư thì điều quan trọng cần xem xét là trọng tài có hoạt động vì mục
đích lợi nhuận hay không. Trả lời câu hỏi này cần quay trở lại với bản chất của
trọng tài. Trọng tài được lập ra nhằm mục đích giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thương mại và có thể giải quyết cả các tranh chấp dân sự khác.
Tổ chức trọng tài hoạt động xét xử mang tính chất chuyên nghiệp nên sự tồn tại
của nó hoàn toàn phụ thuộc vào doanh thu từ hoạt động xét xử (phí trọng tài).
Nói cách khác, trọng tài là một tổ chức kinh tế được lập ra để kinh doanh dịch vụ
xét xử. Với quan điểm này thì rõ ràng trọng tài hoạt động vì mục đích lợi nhuận,
tức là đổi lại việc thu phí từ khách hàng – là các bên tranh chấp, trọng tài cung
cấp dịch vụ xét xử và bảo đảm cho chất lượng của dịch vụ ấy tốt nhất thông qua
việc bảo đảm tính khách quan, công bằng, vô tư với chi phí thấp, thủ tục đơn
giản và độ bảo mật cao khi tiến hành xét xử. Vì vậy, có thể coi tổ chức trọng tài
chính là một chủ thể kinh doanh tồn tại dưới dạng doanh nghiệp cung ứng dịch
vụ xét xử. Nhận diện đúng yếu tố này sẽ giúp cho việc quản lý nhà nước đối với
trọng tài trở nên phù hợp và hiệu quả hơn.
Phán quyết của Trọng tài có thể hiểu là quyết định cuối cùng giải quyết các
vấn đề được các bên thỏa thuận đệ trình lên Trọng tài, « thi hành » là việc làm
cho điều gì đó có hiệu lực( được thực hiện trên thực tế) điều đã được chính thức
quyết định. Về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt động của Trọng tài, phán quyết
2
Trọng tài có thể được thi hành một trong hai cách :Người có nghĩa vụ thi hành
quyết định đó tự nguyện thực hiện hành vi của mình theo yêu cầu của quyết
định. Nếu người có nghĩa vụ thi hành mà không tự nguyện thi hành thì chỉ thực
hiện khi bị cường chế. Đối với các trường hợp không tự nguyện thực hiện, các
bên phải thi hành theo quyết định của Trọng tài không tự nguyện thực hiện thì
cần cưỡng chế thi hành. Sự cưỡng chế này không thể do bên được thi hành quyết
định của Trọng tài hoặc bản thân Trọng tài thực hiện được, vì cả hai đều không
phải thực hiện quyền lực của cơ quan nhà nước mà chỉ có thể do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đó chính là Tòa án hay Cơ quan thi hành án dân sự thực
hiện. Như vậy sự thi hành quyết định của Trọng tài được hiểu là việc Cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền làm cho quyết định của Trọng tài được thực hiện trên
thực tế. Việc thi hành đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để buộc bên thua
kiện phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà họ đã không tự nguyện thi hành.
Hủy phán quyết trọng tài là phán quyết đó không được công nhận và thi
hành, không đạt được sự công nhận nhằm ngăn ngừa trường hợp một bên tranh
chấp tiếp tục khởi kiện vụ việc đã được trọng tài giải quyết, như vậy hủy phán
quyết trọng tài có thể hiểu là hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phủ
nhận phán quyết của Trọng tài, làm cho nó không có hiệu lực pháp luật.
II.
Những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Qua thực tiễn giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết bằng Trọng tài cho
thấy nhiều ưu thế và được các nhà kinh doanh ưa chuộng và lựa chọn để giải
quyết nếu có tranh chấp xảy ra. Qua thực tiễn cho thấy các ưu thế của việc giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài với các ưu điểm sau:
Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có nhiều công đoạn
tố tụng, nhanh gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên
có liên quan.
3
Nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin
cậy trong quan hệ thương mại. Điều có có ý nghĩa rất lớn trong điều kiện cạnh
tranh.
Các bên đương sự được lựa chọn Trọng tài viên. Cách thức lựa chọn Trọng tài và
Hội đồng Trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng.
Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng Trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế
thi hành, nên các bên đương sự nào không đồng ý phán quyết của Trọng tài thì
có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ việc.
Quyết định giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại phải được các bên
thi hành nhanh chóng.
Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài là một tổ chức
phi Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của Tòa án.
Vì những ưu điểm đó nên trong thời gian gần đây thì các doanh nghiệp Việt
Nam cũng dần dần chọn phương án giải quyết bằng Trọng tài khi có tranh chấp
xảy ra.
III.
Các quy định về thi hành và hủy phán quyết trọng tài- những vấn
đề cần bàn luận
1. Thi hành phán quyết trọng tài
Theo điều 65 và 66 Luật Trọng tài Thương mại 2010, phán quyết của Trọng tài
được « Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành », và " Hết thời hạn
thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện
thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều
69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu
cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.
4
Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn
yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng
tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật này. »
Đối với các trường hợp không tự nguyện thực hiện, các bên phải thi hành theo
Phán quyết của Trọng tài không tự nguyện thực hiện thì cần cưỡng chế thi hành.
Sự cưỡng chế này không thể do bên được thi hành phán quyết của Trọng tài hoặc
bản thân Trọng tài thực hiện được, vì cả hai đều không phải thực hiện quyền lực
của Nhà nước mà chỉ có thể do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đó chính là
Tòa án hay Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện.
Như vậy sự thi hành phán quyết của Trọng tài được hiểu là việc Cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền làm cho phán quyết của Trọng tài được thực hiện trên
thực tế. Trước đó cần có sự nhận quyết định của Trọng tài, theo đúng nghĩa của
nó thì đó là hành vi của cơ quan Nhà nuớc có thẩm quyền thừa nhận phán quyết
của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật. việc công nhận và thi hành phán quyết
của Trọng tài luôn sử dụng một cách song song. Thi hành phán quyết của Trọng
tài là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết tranh chấp. Bởi vậy, nếu công
đoạn này không được thực hiện hoặc thực hiện không phù hợp thì nó sẽ làm cho
việc xét xử tranh chấp của Trọng tài viên trở nên vô nghĩa nếu như bên phải thi
hành phán quyết đó không thi hành phán quyết của Trọng tài cũng sẽ ngày càng
trở nên hạn chế hơn bởi đằng sau sự tự nguyện đó ngoài ý thức chấp hành, tôn
trọng phán quyết của Trọng tài bao giờ cũng có mối e ngại về việc nếu không thi
hành tự nguyện thì sẽ bị cưỡng chế. Nói cách khác, Nếu việc công nhận và thi
hành phán quyết của Trọng tài được tiến hành một cách phù hợp thì nó sẽ góp
phần không chỉ làm cho hoạt động tố tụng của Trọng tài trong các giai đoạn
trước đó có hiệu quả thiết thực, mà còn làm cho các phán quyết khác của
Trọng tài trong tương lai được công nhận và thi một cách tự nguyện nhiều
5
hơn. Và nếu hoạt động của Trọng tài đạt hiệu quả mong muốn thì rõ ràng những
mặt lợi của Trọng tài so với Tòa án mới được phát huy. Bên cạnh đó, việc thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài của thương mại Việt Nam (đồng
nghĩa với việc phán quyết được công nhận) trong những điều kiện phù hợp là cần
thiết về mặt chính trị, kinh tế và pháp lý.
Về mặt chính trị, đó là việc đảm bảo hiệu quả cho một phương thức giải quyết
tranh chấp thông dụng trong nền kinh tế thị trường. Đây là việc làm phù hợp với
quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Về mặt kinh tế, việc thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài thương
mại Việt Nam trong những trường hợp cần thiết sẽ có ý nghĩa thúc đẩy các quan
hệ kinh tế trong nước phát triển. Trong quá trình hợp tác kinh tế giữa các chủ thể
kinh doanh, việc phát sinh các tranh chấp là có thể và tất yếu. Bởi vậy, pháp luật
không chỉ quy định các hành vi mà mà các chủ thể có thể tiến hành trong hoạt
động kinh doanh (đối với các bên đối tác, đối với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền) mà còn có những quy định liên quan tới giải quyết tranh chấp, trong
đó các quy định về phương thức Trọng tài. Nếu việc thi hành tại Việt Nam
phán quyết của Trọng thương mại được tiến hành một cách phù hợp, nếu như
các mặt lợi của Trọng tài được phát huy thì các bên sẽ yên tâm hơn trong việc
phát triển quan hệ hợp tác kinh doanh (bởi cơ hội lựa chọn các phương thức
giải quyết tranh chấp là nhiều hơn). Sự phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế là
một điều kiện quan trọng để phát triển nền kinh tế của đất nước cũng như nâng
cao mức sống của người dân.
Về phương diện pháp luật, việc thi hành tại Việt Nam các phán quyết của Trọng
tài thương mại Việt Nam là cần thiết trong việc khắc phục các khiếm khuyết của
pháp luật về chế định Trọng tài. Các khiếm khuyết của pháp luật ở đây thể hiện ở
chỗ các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành và điều ước quốc tế mà nuớc ta
6
ký kết đã cho phép các bên có thể chọn Trọng tài thương mại Việt Nam để giải
quyết tranh chấp. Nếu Việt Nam không công nhận và thi hành tại Việt Nam
quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam thì rõ ràng các quyết định trên
sẽ không được thi hành nếu bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện. Và
như vậy, việc cho phép chọn Trọng tài sẽ không còn là điều mà các bên trong
thương mại ưa chuộng. Việc Nhà nước ta công nhận và thi hành quyết định của
Trọng tài trong những trường hợp là cần thiết chính là Nhà nước thực hiện
vai trò trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường nhằm phát huy hiệu quả Nhà
nước mong muốn.
Ý nghĩa của việc thi hành quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam:
Việc điều tra, hòa giải, xét xử giải quyết tranh chấp thực ra mới chỉ là những giai
đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự. Ở gia đoạn này Trọng tài
mới chỉ quyết định giải quyết về nội dung tranh chấp, mới xác định các quyền và
nghĩa vụ của các đương sự. Các quyết định này muốn được trở thành hiện thực
trong cuộc sống thì phải thông qua việc thi hành. Tổng hợp các hành vi pháp lý
thi hành các phán quyết của Trọng tài trong các phán quyết đưa ra thi hành thành
một giai đoạn độc lập của một quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự. Giai
đoạn này gọi là giai đoạn thi hành phán quyết của Trọng tài.
Như vậy, thi hành phán quyết của Trọng tài là giai đoạn độc lập, giai đoạn kết
thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó phán quyết của Trọng
tài được đưa ra thi hành.
Đặc điểm của giai đoạn này là Trọng tài không ra một phán quyết nào giải quyết
về nội dung tranh chấp mà chỉ thi hành phán quyết. Các hành vi của những người
tham gia vào quá trình thi hành phán quyết Trọng tài chỉ nhằm thi hành các
phán quyết của Trọng tài trong bản án, phán quyết được thi hành. Các hành vi
đó được thực hiện theo các nguyên tắc đã được pháp luật quy định. Trước hết là
nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, phán quyết của Trọng tài. Theo nguyên
7
tắc này thì bản án, phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật phải được
nghiêm chỉnh thi hành. Bên cạnh đó cũng phải thực hiện các nguyên tắc quyền
tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên
tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các người có liên quan đến việc thi
hành phán quyết Trọng tài. Về việc tuân thủ theo đúng các nguyên tắc nêu trên
nó sẽ giúp cho quá trình thi hành phán quyết Trọng tài có ý nghĩa rất lớn, củng
cố kết quả của công tác xét xử, đảm bảo hiệu quả của bản án. Ngoài ra việc thi
hành phán quyết của Trọng tài còn kiểm tra công tác xét xử của Trọng tài,Tòa án
đốivới từng vụ tranh chấp cụ thể, trên cơ sở đó tổng kết rút kinh nghiệm nâng
cao chất lượng xét xử.
2. Hủy phán quyết trọng tài
Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra
những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một phán
quyết trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải
quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không
phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa
chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của phán quyết trọng
tài. Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết
rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác
định được tính thi hành của phán quyết trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định
của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng
trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn
cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.
Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng
tài là các quy định về huỷ phán quyết trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh
trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ
tiện. Theo điều Ðiều 68 : Căn cứ huỷ phán quyết trọng tài
8
« 1. Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một
bên.
2. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với
thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;
c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp
phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng
tài thì nội dung đó bị huỷ;
d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra
phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất
khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng
của phán quyết trọng tài;
đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
3. Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nghĩa vụ chứng
minh được xác định như sau:
a) Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại các điểm a, b, c và d khoản
2 Điều này có nghĩa vụ chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc
một trong các trường hợp đó;
b) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ khoản 2 Điều
này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định
hủy hay không hủy phán quyết trọng tài. »
Từ trước khi có Luật trong tài thương mại năm 2010, theo thống kê của
Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
9
Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần 9.000 vụ án
trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp. Hồ Chí Minh xử gần
42.000 vụ án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư cách là tổ
chức trọng tài lớn nhất Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh chấp trong năm
2007 và 58 vụ trong năm 2008. Trong khi mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Hà Nội
phải xử trên 30 vụ một năm, ở Toà kinh tế Tp. Hồ Chí Minh xử 50 vụ một năm
thì mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một năm. Như vậy, một trong
những nguyên nhân Trọng tài ít được các bên sử dụng phổ biến ở nước ta là do
chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thực hiện chính sách nhất quán
khuyến khích sử dụng Trọng tài; trong các quy định của Pháp luật hiện hành còn
có nhiều rủi ro cho việc huỷ phán quyết trọng tài và tạo tâm lý e ngại về hiệu lực
của phán quyết trọng tài. Những yếu tố đó đã làm cho độ tin cậy của các bên
tranh chấp vào Trọng tài chưa chắc chắn, chưa cao.
Luật TTTM 2010 hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án
tuyên hủy bởi quy định không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về
quyền của một bên được gửi đơn lên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu
“không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh
đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của
phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận. Cụ thể
Luật TTTM 2010 đã quy định chặt chẽ hơn về điều kiện và căn cứ hủy phán
quyết trọng tài. Một bên muốn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có đủ căn
cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một
trong những trường hợp được quy định cụ thể trong luật Trọng tài. Với quy định
này, chắc chắn số lượng phán quyết trọng tài bị yêu cầu hủy sẽ giảm đi đáng kể.
Các bên sẽ phải cân nhắc kỹ xem có đủ căn cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài hay không trước khi làm đơn ra tòa án yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
10
Điểm khác biệt so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 là Luật
đã phân chia nghĩa vụ chứng minh về căn cứ hủy thành 2 trường hợp. Đối với
các căn cứ tại khoản a, b, c, d bên yêu cầu hủy có nghĩa vụ chứng minh. Đối với
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quy định tại điểm đ, Tòa án có trách nhiệm chủ
động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết
trọng tài.
Thêm nữa, giai đoạn từ năm 1993 - 2013, trong số các phán quyết trọng tài có
12% bị yêu cầu tòa án hủy bỏ, trong đó, số phán quyết bị hủy là 34%. Trung
bình cứ 3 đơn yêu cầu hủy bỏ phán quyết trọng tài thì một phán quyết bị hủy.
Xem xét kỹ hơn, trong giai đoạn 1993 - 2010, khi thực hiện Pháp lệnh Trọng tài,
tỷ lệ phán quyết bị hủy là 25%, giai đoạn 2011 - 2013 thực hiện theo Luật Trọng
tài thương mại thì tỷ lệ hủy lên tới 36%.
Việc ban hành Luật Trọng tài thương mại được xem là tiến bộ, hạn chế tình trạng
hủy phán quyết trọng tài của tòa án, nhưng vì sao tỷ lệ hủy này vẫn tăng lên?
Nguyên nhân đầu tiên là việc thiếu một Nghị quyết hướng dẫn Luật của TAND
Tối cao dù Luật đã có hiệu lực 3 năm. Nguyên nhân này dẫn đến tình trạng xét
xử thiếu thống nhất giữa các tòa án, trong khi các thẩm phán lại có xu hướng áp
dụng tố tụng dân sự khi xem xét đơn yêu cầu hủy bỏ phán quyết.
Thực tế cũng cho thấy, hệ thống Tòa kinh tế trong cả nước đang quá tải với con
số lên đến 3000 vụ trên một năm, gấp rất nhiều lần so với các vụ giải quyết bằng
Trọng tài thương mại.Pháp luật Việt Nam đã quy định khá sớm vai trò của Trọng
tài trong giải quyết tranh chấp. Không thể phủ nhận cơ chế giải quyết tranh chấp
thông qua Trọng tài, giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài với những ưu
điểm: thủ tục đơn gian, tiết kiệm đơn gian, bảo đảm bí mật trong kinh doanh…
Tuy nhiên, xung quanh của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và
tính hiệu lực của phán quyết Trọng tài vẫn còn nhiều điểm cần phải bàn
11
thảo lại, để pháp luật quy định thuyết phục và phù hợp hơn,Tránh tình trạng
phán quyết của Trọng tài bị hủy.
Cần phải quảng bá cũng như phủ sóng rộng hơn nữa các Trung tâm Trọng tài
trong cả nước. Cần tuyên chuyền phổ biến cho doanh nghiệp hiểu thấu đáo về
những điểm mạnh của cách giải quyết tranh chấp bằng con đường Trọng tài
kinh tế. Làm thế nào để các doanh nghiệp luôn nhớ đến các trung tâm Trọng tài
trong mọi hoạt động của mình. Bên cạnh đó trình độ của Trọng tài viên cần phải
được chú ý và năng cao hơn nữa để đáp ứng yêu cầu hội nhập của nền kinh tế.
Các trung tâm Trọng tài của Việt Nam cần mở rộng liên kết với các trung tâm
Trọng tài trên thế giới, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các đoàn luật sư của các
tỉnh.
Khó khăn ở đây là: thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, không có
nhiều công đoạn tố tụng, nhanh gọn, linh hoạt đáp ứng đòi hỏi hoạt động
thương mại của các bên có liên quan. Quyết định giải quyết tranh chấp bằng
Trọng tài thương mại phải được các bên thi hành nhanh chóng. Như vậy, phương
thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài với nhữnh ưu điểm đó nhưng khi khi
hành quyết định thì phải chuyển cho Cơ quan thi hành án với những công đoạn
cùng với những thủ tục kéo dài (pháp luật không quy định rõ thời gian thi hành
án quyết định của Trọng tài. Sau một bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật
cũng có không ít chuyện để nói. Trước hết, đương sự trong bản án muốn được
thi hành án thì phải làm đơn gửi lên Cơ quan thi hành án. Đơn gửi đi rồi, đương
sự còn thắc thỏm không biết ngày nào cơ quan thi hành án sẽ bắt tay vào việc?
Công việc nếu được tiến hành sẽ kéo dài bao lâu? Và sẽ kết thúc ra sao?...Có
những bản án, thời gian thụ lý hồ sơ, xét xử chỉ trong vòng vài tháng nhưng thời
gian thi hành án có khi kéo dài hàng năm. Thậm chí có những bản án vĩnh viễn
chỉ nằm trên giấy) thì ý nghĩa của việc nhanh, gọn, thủ tục đơn gian của giải
quyết bằng Trọng tài sẽ không phát huy được hết ý nghĩa của nó. Theo em thì
12
hiện nay việc thi hành án quyết định của Trọng tài do Cơ quan thi hành án thực
hiện sẽ không phát huy được những ưu việt của phương thức giải quyết tranh
chấp bằng Trọng tài. Vì Cơ quan thi hành án mang tính quyền lực Nhà nước thì
có những thủ tục nhất định. Hơn nữa, hiện nay Cơ quan thi hành án đang quá tải
với các bản án của Tòa án cần phải thi hành, cần phải có tổ chức thi hành án hoạt
động tư (phi Chính phủ) sẽ hoạt động gắng liền với hoạt động của trung tâm
Trọng tài.
Tóm lại, sự ra đời của Luật trọng tài thương mại năm 2010 thể hiện sự nỗ lực
và là thành công của pháp luật Việt Nam trong quá trình hôi nhập. Để góp phần
nâng cao hiệu quả thực thi của Luật trọng tài thương mại để luật trọng tài thương
mại phát huy hiệu quả điều chỉnh của mình đối với việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại, đi vào thực tế cuộc sống, sau đây em xin đưa ra một số
kiến nghị sau :
-
Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thi hành và hoàn thiện các văn bản
có liên quan.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật trọng tài thương
mại.
+) Thứ nhất: Tuyên truyền phổ biến rộng rãi về nội dung Luật TTTM cho các
cơ quan nhà nước liên quan như: Tòa án, cơ quan thi hành án, chính quyền địa
phương để nâng cao nhận thức về trọng tài đối với cán bộ, công chức nhà nước
là điều cần thiết, tạo điều kiện để hoạt động trọng tài phát triển.
+) Thứ hai: Tuyên truyền luật trọng tài thương mại đến thương nhân.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trọng tài viên.
- Phát triển các tổ chức trọng tài mới.
- Tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất cho hoạt động trọng tài.
- Cần có quy định về trách nhiệm của trọng tài
13
KẾT LUẬN
Qua bài tiều luận trên ta không chỉ thấy được tầm quan trọng của trọng tài
thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại xảy ra mà còn thấy
được rằng pháp luật về trọng tài thương mại ngày càng được nâng cao và cụ thể
hóa hơn. Nó giúp cho việc giả quyết các tranh chấp dễ dàng hơn, tránh những
thiệt hại, rủi ro và khó khăn không đáng có trong quá trình giải quyết tranh chấp.
14
● DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
₪ Bộ Luật trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010;
₪Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
₪ Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam 2, ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND, 2006
₪ Luật thi hành án dân sự 2008
₪Luận văn “ Quy định về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài thương
mại tại Việt Nam”- Lê Văn Đây
₪ Trang web />₪ Trang web http://www. ecolaw.vn/;
₪ Trang web
15
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I, Khái niệm và bản chất trọng tài thương mại, thi hành, hủy phán quyết
trọng tài
II,
Những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
III, Các quy định về thi hành và hủy phán quyết trọng tài- những vấn đề
cần bàn luận
1, Thi hành phán quyết trọng tài
2, Hủy phán quyết trọng tài
KẾT LUẬN
16