A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính chất tác động của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn
thực thi nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế, tổ chức quốc tế của quốc gia. Sau đây, em
xin đi vào phân tích tác động của Luật quốc tế đối với quá trình hoàn thiện các quy định
của hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quyền trẻ em – vấn đề đang được xã hội
quan tâm.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.
KHÁI QUÁT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ ĐẾN PHÁT TRIỂN VÀ
HOÀN THIỆN LUẬT QUỐC GIA
Trước xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia không thể bó hẹp trong phạm vi quan hệ trong
nội bộ quốc gia mình mà buộc phải mở rộng sự liên kết theo hướng đa dạng hóa, đa
phương hóa các quan hệ đối ngoại. Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ
phải tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể
hiện thông qua nhiều hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các
văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa
mang tính đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia.
Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật quốc tế thể hiện thành tựu mới
của khoa học pháp lý sẽ dần được chuyển tải vào trong văn bản pháp luật quốc gia. Những
thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự pháy triển của pháp luật quốc gia, đảm bảo cho
quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung vừa có thể thiết lập được một hệ
thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Luật quốc tế không chỉ thúc đẩy sự phát triển
và hoàn thiện pháp luật quốc gia mà còn tạo điều kiện đảm bảo cho pháp luật quốc gia
trong quá trình thực hiện
II.
TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ ĐỐI VỚI LUẬT QUỐC GIA TRONG
LĨNH VỰC QUYỀN TRẺ EM
1. Công ước Quyền trẻ em 1990
Công ước Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định các
quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Các quốc gia phê chuẩn
công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế. Cơ quan
giám sát thi hành công ước này là Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc bao gồm các
thành viên từ các quốc gia trên khắp thế giới. Mỗi năm một lần, ủy ban này đệ trình một
bản báo cáo cho Ủy ban thứ 3 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, và cũng nghe chủ tịch ủy
ban công ước nay báo cáo, và Đại hội đồng ra một nghị quyết về quyền trẻ em.
Các quốc gia đã phê chuẩn công ước này phải báo báo trước Ủy ban về quyền trẻ
em Liên Hiệp Quốc theo định kỳ để ủy ban này kiểm tra việc quá trình tiến triển trong việc
thực thi công ước và tình trạng quyền trẻ em ở quốc gia đó.
Tất cả các quốc gia trên thế giới là thành viên của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ Hoa
Kỳ và Somalia, đều đã phê chuẩn công ước này. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã phê
chuẩn bản công ước này vào luật quốc tế trong một nghị quyết tư vấn vào ngày 20 tháng
11 năm 1989; bản công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990 sau khi đã
được số quốc gia phê chuẩn theo quy định. Theo công ước này, trẻ em là người có độ tuổi
dưới 18, pháp luật một số quốc gia có quy định độ tuổi ít hơn.
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công
ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990.
Công ước gồm 54 điều khoản trong đó nêu bật bốn nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ
em xuyên suốt toàn bộ Công ước, bao gồm: Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo
thực hiện tất cả các quyền trẻ em; trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình
và quyền đó phải được tôn trọng; dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ em; những điều
khoản trong Luật quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em so với những điều khoản
trong Công ước sẽ được áp dụng
Trên cơ sở 4 nguyên tắc cơ bản trên, sự điều chỉnh của Công ước đối với bảo vệ
quyền trẻ em bao gồm các quyền sau: Quyền được sống: bao gồm quyền của trẻ em được
sống và được đáp ứng những nhu cầu để tồn tại, như: mức sống đủ, có nơi ở, dinh dưỡng
và chăm sóc sức khỏe; Quyền được phát triển: bao gồm những thứ trẻ em cần có để phát
triển đầy đủ nhất như: quyền giáo dục, vui chơi, các hoạt động văn hóa, tiếp nhận thông
tin; Quyền được bảo vệ: đòi hỏi trẻ em phải được bảo vệ, chống tất cả các hình thức lạm
dụng, sao nhãng, bóc lột. Quyền được tham gia: cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực
trong cộng đồng và đất nước của các em, gồm sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm
2. Tác động của Công ước Quyền trẻ em đến pháp luật quốc gia Việt Nam
Để tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xác lập các quy tắc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, với việc tham
gia phê chuẩn CƯVQTE vào năm 1990, hoạt động lập pháp trên lĩnh vực này đã có những
bước phát triển đáng kể, nhằm đưa các quy định của pháp luật quốc gia phù hợp với các
quy định của pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm nhiều ngành luật có đối tượng điều chỉnh là các
lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau, trẻ em với tính cách là một loại chủ thể pháp luật, các
quan hệ xã hội về trẻ em cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành luật
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, từ đặc thù riêng nên pháp luật về quyền trẻ
em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau, vì
thế có nhiều ngành luật khác nhau cùng tham gia bảo vệ quyền trẻ em.
a. Việc ban hành các văn bản pháp luật.
Ngay sau khi phê chuẩn Công ước, năm 1991, nhà nước Việt Nam đã ban hành hai
đạo luật riêng về quyền trẻ em (Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em và Luật Phổ
cập giáo dục tiểu học). Càng về sau, pháp luật Việt Nam càng thể chế hóa những bảo đảm
của Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách rộng rãi
và hiệu quả hơn.
Như vậy, Việt Nam phê chuẩn Công ước quyền trẻ em đã tạo cơ sở pháp lí quốc tế
cho việc bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam đồng thời làm thay đổi nhiều hoạt động đảm bảo
2
có hiệu quả quyền của trẻ em. Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình
phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp
b. Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống pháp luật ở nước ta liên quan đến việc BVCS&GDTE có thể thấy qua các
văn bản pháp luật như:
Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam kiểu mới, Hiến pháp 1946
quy định về quyền định về quyền được giáo dục và giáo dưỡng của trẻ em. Nhà nước đảm
bảo cho trẻ em được giáo dục, học tập, được chăm sóc về mặt giáo dưỡng. Không những
thế, Nhà nước còn có chính sách trợ giúp đối với học trò nghèo. Chỉ số lượng ít ỏi, Hiến
pháp 1946 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên khẳng định các quyền cơ bản và thiêng liêng của
trẻ em, bao gồm quyền được học tập và chăm sóc. Hiến pháp 1980, ngoài việc kế thừa
Hiến pháp trước, quy định thêm rằng Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho
công tác chăm sóc sức khỏe, cho hoạt động học tập, giáo dục, sinh hoạt văn hóa tinh thần
của trẻ em. Đặc biệt tại đây, lần đầu tiên quyền lợi của trẻ em được đặt bên cạnh trách
nhiệm của gia đình trong việc nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Sau khi Việt Nam gia
nhập Công ước Quyền trẻ em 1990 thì quyền trẻ em được quy định một cách cụ thể, đầy
đủ, phù hợp với bản Công ước mà quốc gia đã gia nhập trong bản đạo luật có hiệu lực
cao nhất - Hiến pháp năm 1992 - đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đánh dấu một
mốc quan trọng trong việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền cơ bản của
công dân, thừa nhận vấn đề quyền con người, trong đó có quyền trẻ em. Nhà nước đảm
bảo cho trẻ em được giáo dục, học tập và được chăn sóc về mặt giáo dưỡng. Hiến pháp
1992 đã quy định quyền trẻ em trở thành một chế định chứ không còn là những quy định
riêng lẻ như Hiến pháp trước với gói gọn 10 Điều, nội dung hoàn thiện hơn, đáp ứng được
nhu cầu, nguyện vọng chung của xã hội. Hiến pháp 1992 đã thể hiện có tính nguyên tắc sự
cam kết của Nhà nước Việt Nam trong thực thi Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em, là cơ sở quan trọng đề hình thành hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em. Cụ thể như: Quyền được sống, tồn tại, được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 40,
63); quyền được giáo dục (Điều 35); Trẻ em thiệt thòi, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa cũng được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện giúp (Điều 59, Điều 67). Tới
hiến pháp năm 1992 sửa đổi, một lần nữa một chế định hoàn chỉnh về quyền trẻ em lại
được khẳng định
Luật quốc tịch: Trong Hiến pháp, chế định quốc tịch là một trong
những chế định quan trọng nhằm bảo vệ quyền nhân thân của trẻ em. Khi nói về quốc tịch
của trẻ em tức là đề cập đến quan hệ giữa Nhà nước với trẻ em từ góc độ trách nhiệm,
nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Luật quốc
tịch quy định về sự có, mất, thay đổi quốc tịch của trẻ em, thẩm quyền và thủ tục giải
quyết các vấn đề về quốc tịch. Dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em, Luật quốc tịch thể hiện
mối quan hệ hữu cơ gắn bó và tác động qua lại giữa Nhà nước và trẻ em là công dân, làm
3
phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm
của Nhà nước đối với công dân. Với phạm vi điều chỉnh như vậy, Luật quốc tịch trở thành
công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ cho trẻ em quyền có quốc tịch, xác định và
hình thành ý thức cho trẻ em Việt Nam về niềm vinh dự được mang quốc tịch Việt Nam.
Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được Quốc hội
thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (thay Luật Bảo vệ chăm sóc và
giáo dục trẻ em năm 1991). Luật năm 2004 đã bổ sung đầy đủ hơn các quyền và bổn phận
của trẻ em, theo đó, trẻ em là công dân, nên trẻ em có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của
công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc tế về quyền trẻ em.
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em sửa đổi (gọi tắt là Luật năm 2004) có số lượng
điều luật (60 điều) tăng lên rất nhiều so với luật cũ (chỉ có 26 điều). Về nội dung,
Luật năm 2004 đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo
vệ quyền lợi trẻ em . Luật mới còn thể hiện rõ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách
nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội và của mọi công dân.Một điểm mới và tiến bộ cơ
bản của Luật năm 2004 là chế định bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt được quy định tại Chương IV. Điều này cho thấy sự đáp ứng rất kịp thời, phù hợp của
đạo luật trước thực trạng xã hội hiện nay, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối
với các em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ bị bỏ rơi,
khuyết tật, nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ nhiễm HIV, nghiện ma túy, bị xâm hại tình
dục…
Luật Hành chính: Luật Hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Luật hành chính là ngành luật có phạm vi điều
chỉnh rộng, bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn
hoá - xã hội, khoa học - giáo dục, trật tự an toàn xã hội..., hoạt động quản lý nhà nước
nhằm tạo lập trật tự cho xã hội. Trẻ em với tư cách là một bộ phận hợp thành của công
dân, là loại chủ thể đặc biệt tham gia hầu hết các quan hệ xã hội, vì thế cũng là đối tượng
của Luật Hành chính. Trẻ em thường tham gia các lĩnh vực hoạt động như: học tập, vui
chơi, giải trí, y tế... đều chịu sự quản lý của nhà nước. Chính vì vậy, Luật Hành chính xác
định trẻ em là đối tượng đặc biệt khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính, cần
được quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ đặc biệt so với các chủ thể khác. Do đó, trong rất nhiều
các lĩnh vực khác nhau Luật Hành chính đã có quy định riêng áp dụng cho trẻ em.
Bộ Luật hình sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các
vấn đề liên quan đến trẻ em: Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ em, Nhà nước
Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và đã thúc đẩy việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, trong đó đã dành sự quan tâm đặc biệt cho
đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật, nhất là những trường hợp người chưa thành niên
phạm tội. Bên cạnh những tư tưởng chỉ đạo, quan điểm nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình
sự (TNHS) với người phạm tội chưa thành niên, những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, quá
trình điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Điều này thể hiện ở
4
chương XXXII Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) - một chương quy định về thủ tục tố
tụng hình sự bổ sung áp dụng đối với đối tượng này. Tuy nhiên, dựa trên các quy định đối
với người chưa thành niên phạm tội ở Chương X Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999, chúng ta
có thể hiểu khái niệm trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên. Xuất phát từ cơ
sở lý luận của chính sách hình sự được ghi nhận trong Công ước về quyền trẻ em năm
1989 là: “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc
biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lí trước cũng như sau khi ra đời” . Đồng thời,
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định tại Điều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân
phẩm...”. Bộ luật Hình sự hiện hành xây dựng một chương riêng quy định đường lối xử lý
đối với người chưa thành niên phạm tội. Quy định này dựa trên cơ sở phân tích về tâm,
sinh lý đối với người chưa thành niên. Đây là đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất
cũng như về tâm, sinh lý, họ bị hạn chế về trình độ nhận thức cũng như về kinh nghiệm
sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên họ dễ bị
kích động, dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm. Do đó, pháp luật hình
sự Việt Nam đã đặt ra những nguyên tắc riêng khi xử lý hành vi phạm tội của người chưa
thành niên. Các quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên có những điểm
khác biệt so với thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với người thành niên phạm tội. Chính
sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự người
chưa thành niên là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người chưa thành niên nhận ra sai
lầm từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hòa
nhập cuộc sống. Với lý do này pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã có những quy định
về thủ tục tố tụng riêng dành cho người chưa thành niên khi họ là bị can, bị cáo trong các
vụ án hình sự. Trong BLHS Việt Nam quy định về chính sách hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội tại Điều 69, còn chính sách hình sự đối với người chưa thành niên
trong tố tụng hình sự thể hiện tại chương XXXII - thủ tục tố tụng đối với người chưa thành
niên - BLTTHS năm 2003. BLHS có qui định nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội, nhưng không đưa ra nguyên tắc xử lý đối với bị can là người chưa thành
niên. Chính sách đối với người chưa thành niên trong lĩnh vực hình sự chủ yếu liên quan
đến năng lực chịu TNHS, mục đích áp dụng TNHS nặng về giáo dục, giúp họ sửa chữa sai
lầm, phát triển lành mạnh để họ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội chứ không nặng
về trừng phạt “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” .
Điều này thể hiện rõ trong các quy định từ Điều 69 đến Điều 77 của BLHS 1999. Còn
chính sách hình sự trong tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo
chủ yếu là những quy định nhằm bảo đảm một cách tốt nhất quyền bào chữa cho đối tượng
này, hạn chế một cách tối đa việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế, hạn chế một cách
thấp nhất những tác động không thể tránh khỏi về tâm lý đối với bị can, bị cáo là người
chưa thành niên do hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất
5
cho việc làm rõ những nguyên nhân điều kiện phạm tội của họ để Tòa án có thể xét xử và
tuyên bản án có tác động tích cực nhất đến tâm lý của đối tượng này. Nhìn chung, chính
sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đã thấm nhuần tinh thần nhân đạo, coi mức độ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo chưa thành niên giảm nhẹ hơn so với bị can, bị cáo thành
niên. Như vậy, những quy định trong pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự Việt Nam
không chỉ thống nhất với hệ thống văn bản pháp luật trong nước mà còn phù hợp với các
văn bản pháp luật quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia, ký kết, tạo ra một hành lang pháp
lý an toàn để bảo vệ quyền lợi và sự phát triển của người chưa thành niên trong trường hợp
họ là người phạm tội.
Ngược lại, pháp luật hình sự nước ta rất nghiêm khắc đối với với hành vi phạm tội
xâm hại đến trẻ em và các quyền trẻ em. Nhìn chung Các tội phạm xâm hại đến trẻ em
trong Bộ Luật hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng. Cụ thể một số tội
danh như: Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều
252); Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều
112).Đặc biệt theo khoản 4, Điều 112 Bộ luật hình sự “ Mọi trường hợp giao cấu với trẻ
em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai
năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình ”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Nhất quán với các quy định của
Công ước Quyền trẻ em vê vấn đề trách nhiệm của bố mẹ đối với trẻ em (Điều 5); Quyền
được sống cùng cha mẹ (Điều 9); Quyền dược gia đình chăm sóc và nuôi dưỡng (Điều 21).
Với phạm vi điều chỉnh là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha
mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình coi trẻ em là
thành viên đặc biệt của gia đình, cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt. Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam
XHCN, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; Luật còn là
công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nghĩa vụ
của cha mẹ đối với con như: Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái;
cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con nuôi, con riêng;
nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ và người gây ra việc ấy phải chịu
trách nhiệm hình sự. Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo
việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ, đạo đức; cha mẹ không
được phân biệt đối xử giữa các con; cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối
hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình;
các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình; con có nghĩa vụ kính trọng,
chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ.
Bộ Luật Dân sự 2005: Quy định nhiều nội dung liên quan đến các
quyền của trẻ em, trong đó có các quyền về nhân thân, quyền về tài sản như: Trong trường
hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
6
thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của
người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 20); Cá
nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); cá nhân có quyền có quốc tịch. Việc
công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định
của pháp luật về quốc tịch (Điều 45).
Qua các chế định trên cho thấy pháp luật dân sự, coi trẻ em là một loại đối tượng
đặc biệt cần phải bảo vệ, vì thế bằng các quy định cụ thể của mình pháp luật dân sự đã
hướng tới việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bảo đảm cho trẻ em được hưởng các quyền và lợi
ích hợp pháp khi tham gia các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.
Bộ Luật lao động liên quan đến trẻ em: Phù hợp với quy định Công
ước Quyền trẻ em về quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế, Bộ Luật lao động năm
1994, qua các lần sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2002-2006-2007 quy định
nhiều nội dung liên quan đến lao động trẻ em như: Người lao động là người ít nhất đủ 15
tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Nơi có sử dụng người lao
động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc
đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao
động yêu cầu.Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên(Điều
119);cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ
LĐTB&XH quy định (Điều 120); Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm
những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại (Điều 121).
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Từ những điểm trình bày ở trên cho thấy hệ thống pháp luật Việt Nam dù là bất kỳ
ngành luật nào cũng luôn xác định trẻ em, người chưa thành niên là chủ thể và là đối tượng
đặc biệt, do đó, ngành luật nào cũng dành cho trẻ em và người chưa thành niên những quy
định đặc thù riêng theo ngành luật của mình. Với Công ước quyền trẻ em năm 1989 và hệ
thống các chế định trong các ngành luật trên đã tạo nên một hệ thống đồng bộ, thống nhất
cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ các phương diện khác nhau, là cơ sở pháp
lý vững chắc để bảo vệ quyền trẻ em, bảo đảm cho trẻ em Việt Nam được phát triển lành
mạnh về cả thể lực và trí lực. Như vậy, Luật quốc tế tác động đến sự hoàn thiện các quy
định của hệ thống pháp luật Việt Nam, cụ thể trong bài phân tích trên đó là lĩnh vực quyền
trẻ em.
7