Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Học kì hôn nhân 8đ điều kiện kết hôn và sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.54 KB, 17 trang )

MỤC LỤC


A. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội. Ở mỗi giai đoạn cách mạng,
Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn đối với vấn đề gia đình và có chủ trương
để thể chế hóa bằng pháp luật. Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng
của luật hôn nhân và gia đình. Đó cũng là chuẩn mực pháp lí để xác lập quan hệ hôn nhân
và xây dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước
và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Để hiểu rõ thêm về điều kiện kết hôn cũng như lý
do mà các nhà làm luật đưa ra những quy định đó, em xin chọn đề tài: “Điều kiện kết hôn
và sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn” để nghiên cứu. Trong giới hạn một
bài tập và trong khoảng thời gian nhất định, em tập trung vào một số vấn đề như sau:
B. NỘI DUNG
I. Các khái niệm cơ bản
1. Khái niệm kết hôn
Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội. Vì vậy, Nhà nước ta
luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm làm ổn định quan
hệ này. Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân
của một đôi nam nữ đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ. Hôn nhân là
sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được nhà
nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý là đăng ký kết hôn. Vì vậy,
khoản 2 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ
xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết
hôn”.
2. Điều kiện kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng ký của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các
điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 luật HN&GĐ năm 2000:
“Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;



2


2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc,
lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại
Điều 10 của Luật này.”
Theo Điều 10, “Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
1. Người đang có vợ hoặc có chồng;
2. Người mất năng lực hành vi dân sự;
3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong
phạm vi ba đời;
4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con
nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với
con riêng của chồng;
5. Giữa những người cùng giới tính”.
Khi việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn
thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân. Như vậy đăng ký kết hôn là sự kiện
pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước đã
công nhận hôn nhân của đôi nam nữ. Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai
bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
II. Sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn
Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội thì điều kiện kết hôn
chính là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng này. Điều kiện kết hôn được quy định
trong pháp luật, có là điều cần thiết đối với xã hội, gia đình và cá nhân. Cụ thể như sau:


Thứ nhất, nam nữ kết hôn là xác lập quan hệ hôn nhân và hình thành gia đình. Gia đình
phải thực hiện các chức năng xã hội của nó mà một trong những chức năng đó là sinh đẻ

duy trì nòi giống. Để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành
mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, sinh đẻ pháp luật quy định nam
phải từ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ mười tám tuổi trở lên. Đồng thời khi nam nữ đạt độ tuổi
đó có thể tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn. Mặt khác, khi đó nam nữ đã có thể
tham gia vào quá trình lao động và có thu nhập nên có thể đảm bảo cho họ có cuộc sống
3


ổn định về kinh tế sau khi kết hôn. Đó là những yếu tố cần thiết bảo đảm cho nam nữ sau
khi kết hôn có thể cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền
vững. Như vậy quy định về độ tuổi kết hôn là điều thực sự cần thiết, nếu không có quy
định về độ tuổi kết hôn thì tình trạng tảo hôn sẽ ngày càng diễn ra càng nhiều, xã hội sẽ
trở nên “loạn”, không thể kiểm soát nổi, những đứa trẻ 14 15 tuổi cũng có thể lấy nhau và
chúng sẽ ra sao khi còn chưa tự lo cho bản thân mình được mà bây giờ có gia đình riêng
của mình. Các nhà làm luật cũng đã nhận thức được điều đó, lường trước được hậu quả sẽ
xảy ra nếu không quy định về độ tuổi kết hôn, quy định này đảm bảo lợi ích của những
người ết hôn nói riêng cũng như xã hội nói chung.
• Thứ hai, điều kiện về sự tự nguyện của các bên nam nữ cũng là một điều kiện cần thiết.
Trong chúng ta ai cũng muốn có một gia đình hạnh phúc, và điều kiện đầu tiên để gia đình
hạnh phúc là sự tự nguyện của vợ chồng trong việc kết hôn. Sự tự nguyện của các bên
trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tổn tại lâu dài và bền
vững. Do đó, sự tự nguyện của các bên nam nữ trong việc kết hôn phải xuất phát từ tình
yêu chân chính giữa họ nhằm xây dựng gia đình và cùng nhau chung sống lâu dài. Kết
hôn là quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Vì vậy, không thể có hôn nhân ngoài ý muốn
của người kết hôn. Nếu hai người kết hôn mà trong đó có một bên bị cưỡng ép, không tự
nguyện thì thử hỏi cuộc sống gia đình có hạnh phúc được không khi mà họ không yêu
nhau, không bằng lòng ở bên cạnh nhau, chẳng bao lâu mà xuất hiện cảnh “cơm chẳng
lành cơm chẳng ngọt”, từ đó dẫn tới việc gia đình đổ vỡ, ảnh hưởng đến tình cảm giữa hai
bên bố mẹ họ hàng, bạn bè, hàng xóm. Do đó, việc quy định về sự tự nguyện của hai bên
nam nữ trong kết hôn là hoàn toàn cần thiết để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

• Thứ ba, quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy
định tại Điều 10. Điều này đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật hôn nhân và
gia đình, các điều luật phải phù hợp với nhau mà không mâu thuẫn với nhau.
 Trường hợp cấm thứ nhất: Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với
người khác.
Quy định này là sự kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và
gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Đó là qui định hết sức cần thiết đảm
bảo thực hiện nhiệm vụ của luật hôn nhân gia đình là xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình

4


phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng hôn nhân tiến
bộ xã hội chủ nghĩa. Xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự nghiệp hiện đại hóa công
nghiệp hóa, gia đình là tế bào của xã hội nên cũng phải phát triển một cách lành mạnh,
không thể phá vỡ nguyên tắc một vợ một chồng, một người không thể lấy hai chồng hoặc
hai vợ được.
 Trường hợp cấm thứ hai: Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn.

Quy định cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn đúng
đắn và cần thiết. Bởi vì người không có khả năng nhận thức được hành vi thì không có
khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề kết hôn, cũng không thể
nhận thức và thực hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời
sống gia đình. Nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, sức khỏe của vợ, chồng, con
cái họ.
 Trường hợp cấm thứ 3: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực

hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
Xét về quan hệ thực tế, giữa những người này không có quan hệ huyết thống, tuy
nhiên, trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha, mẹ, con và có quan hệ chăm sóc, nuôi

dưỡng. Do vậy, việc pháp luât hôn nhân và gia đình quy định những người này cấm kết
hôn với nhau là hoàn toàn đúng đắn. Điều này góp phần giữ gìn thuần phong mĩ tục của
dân tộc, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc của cuộc sống, nhằm ổn định mới quan hệ giữa
cha mẹ nuôi với con nuôi, phù hợp với đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, ngăn chặn
hiện tượng cưỡng ép kết hôn do mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.
 Trường hợp cấm thứ 5: Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia
đình hạnh phúc, bền vững, thể hiện trong việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái,
đáp ững lẫn nhau những nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy,
hôn nhân là sự liên kết giữa những người khác giới tính là một đặc điểm vừa mang tính tự
nhiên vừa mang tính xã hội. Để bảo đảm mục đích của hôn nhân được thực hiện, để bảo
vệ yếu tố đạo đức truyền thống và tính tự nhiên trong hôn nhân, trong tục lệ truyền thống,
hôn nhân giữa những người cùng giới tính không được thừa nhận ở Việt Nam. Tóm lại,
5


pháp luật Việt Nam không cho phép những người đồng giới kết hôn với nhau là một điều
kiện cần thiết vì điều đó không phù hợp với đạo đức, tập quán và qui luật sinh học.


Thứ tư, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện theo
nghi thức mà pháp luật quy định tại điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Đăng kí kết hôn là
thủ tục do Nhà nước qui định như một điều kiện về hình thức, điều này là hoàn toàn cần
thiết, nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp.
Việc pháp luật qui định sự kiện kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
chứng nhận là sự ràng buộc pháp lí, là cơ sở để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng. Đăng kí kết hôn là biện pháp để cơ quan Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời
ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ và tuyên truyền, giải
thích pháp luật cho họ hiểu.

Như vậy, các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là thực sự cần thiết.
Điều kiện kết hôn nhìn chung khá cụ thể và đầy đủ, phù hợp hơn với xã hội hiện tại. nhằm
đảm bảo mục tiêu cao nhất là sự yên bình ấm và hạnh phúc của mỗi gia đình, hướng tới
một xã hội văn minh và tốt đẹp.
III. Nội dung các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và
gia đình.
1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều
kiện kết hôn thì: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1. Nam
từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;”
Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội của nước ta. Luật hôn nhân và gia định quy định tuổi kết hôn như vậy là hoàn toàn
hợp lý. Quy định này đã được ghi nhận ngay từ đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình
của Nhà nước ta đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và được giữ nguyên cho đến
nay. Việc pháp luật qui định nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn
là nhằm bảo đảm sự phát triển về mặt thể chất, con cái sinh ra được khỏe mạnh, bảo đảm
cho đôi nam nữ thực hiện các chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái và nhận thức đầy đủ

6


trách nhiệm của mình đối với gia đình. Đây là quy định thể hiện sự quan tâm của nhà
nước đối với sức khỏe cộng đồng và đảm bảo thực hiện tốt chức năng của gia đình.
Về cách tính tuổi kết hôn, theo quy định tại khoản 1 điều 9 và mục 1 điểm a Nghị
quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
23/12/2000, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 thì “không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám
tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang
tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn”. Như vậy, chỉ cần
nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám là đã có thể kết hôn. Quy định
về độ tuổi như vậy là tạo khoảng không gian rộng cho nam nữ lựa chọn thời điểm để kết

mà không phải đợi đến tròn 20 tuổi và tròn 18 tuổi.
2. Điều kiện về sự tự nguyện giữa hai bên nam nữ
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật HN&GĐ và Điều 35 BLDS thì việc kết hôn
do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào và không
ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ thực sự mong muốn trở
thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng nhau xây
dựng gia đình. Mỗi bên kết hôn tự mình quyết định việc kết hôn mà không bị tác động bởi
bên kia hay của bất kì người nào, bất kỳ yếu tố nào khiến họ phải kết hôn trái với nguyện
vọng của họ.
Vì vậy, trong những trường hợp nam nữ tự nguyện kết hôn nhưng không nhằm để
xây dựng gia đình và chung sống lâu dài (hôn nhân giả tạo) thì Nhà nước không công
nhận hôn nhân đó là hợp pháp (Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
Việc kết hôn thiếu sự tự nguyện của một hoặc hai bên sẽ bị coi là kết hôn trái pháp
luật. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì thiếu sự tự nguyện của
nam nữ khi kết hôn là có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kết hôn
Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng
của họ. theo điểm b, khoản 1 nghị quyết số 02/2000/ NQ-HĐTP thì đó có thể là các hành
vi như:
7


“b.1. Một bên ép buộc (ví dụ: đe doạ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng
vật chất...) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn;
b.2. Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc
nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu;
biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu...) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn;
b.3. Một bên hoặc cả hai bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của
người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với
người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ

phải kết hôn với nhau...) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ.”
Những trường hợp kết hôn khi một bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép là vi
phạm điều kiện kết hôn quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
2000.
3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định
tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình
Pháp luật quy định việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn
quy định tại Điều 10 của Luật hôn nhận và gia đình, cụ thể là các điều cấm sau:
a, Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác
Điều 64 Hiến pháp 1992 quy định: “…Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…”.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,
Ph.Ăngghen cũng đã chỉ rõ: “vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ…cho nên hôn
nhân dựa trên tình yêu giữa nam và nữ do ngay bản chất của nó, là hôn nhân một vợ một
chồng”.
Trên cơ sở đó, Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định hôn nhân một
vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tại
Khoản 2 Điều 4 quy định: “…Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Khoản 1 Điều 10 cũng

8


quy định: “Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: 1. Người đang có vợ
hoặc có chồng;”
Theo hướng dẫn của nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP tại mục c.1, điểm c, khoản 1
thì: “Người đang có vợ hoặc có chồng là:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân
và gia đình nhưng chưa ly hôn;

- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và
đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;
- Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước
ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn
nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có
hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003).”
Như vậy, chỉ những người chưa kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng họ
đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn thì mới có quyền kết hôn. Từ đó ta cũng có thể hiểu rằng,
những người đang có vợ có chồng bị cấm kết hôn với nhau và cũng bị cấm kết hôn với
những người chưa có vợ, có chồng. Người đang có vợ, chồng mà kết hôn với người khác
thì việc kết hôn của họ đã vi phạm điều cấm kết hôn và việc kết hôn đó là trái pháp luật.
Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Theo Điều 91
Bộ luật dân sự, một người nếu có sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có
hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai thảm họa….mà sau một
thời gian luật định vẫn không có tin tức gì để biết người đó là còn sống thì những người
có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố người đó là đã chết. Sau khi
tuyên bố của Tóa án có hiệu lực thì vợ hoặc chồng của đó có quyền kết hôn với người
khác. Trong trường hợp đó việc kết hôn là hoàn toàn hợp pháp.
b, Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn
Theo khoản 2 Điều 10 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, những người
mất hành vi dân sự bị cấm kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 điều 22 BLDS năm 2005
thì: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,
làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,
9


Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức
giám định”. Như vậy, người mất năng lực hành vi dân sự là người bị mắc bệnh tâm thần
hoặc mắc các bệnh khác mà mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự và bị tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi

dấn ự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và trên cơ sở kết luận của tổ
chức giám định có thẩm quyền.
Để thực hiện chức năng, vai trò của gia đình thì nam nữ khi kết hôn phải thực hiện
các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con. Nhưng
những người mất năng lực hành vi dân sự không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình nên cũng không thể nhận thức được trách nhiệm của mình khi kết hôn và sẽ gây ảnh
hưởng tới quyền lợi của vợ hoặc chồng và con cái họ. Mặt khác, những người đang mất
năng lực hành vi dân sự không thể thể hiện ý chí của mình một cách đúng đắn trong việc
kết hôn, không thể đánh giá được sự tự nguyện của họ. Hơn nữa, bệnh tâm thần là loại
bệnh có tính di truyền nên dựa trên căn cứ khoa học, để đảm bảo cho con cái họ sinh ra
được khỏe mạnh, bảo đảm cho nòi giống phát triển tốt và bảo đảm cho hạnh phúc gia đình
thì việc cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là cần thiết.
Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 điều 22 BLDS 2005 thì “giao dịch dân sự của
người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện xác lập, thực hiện”. Nhưng
quyền kết hôn và ly hôn là quyền gắn với nhân thân của mỗi người, không thể do người
đại diện thực hiện. Khi một người bị tòa án ra quyết định tuyên bố là mất năng lực hành vi
dân sự thì người đó bị cấm kết hôn. Vì vậy, người mất năng lực hành vi dân sự không thể
kết hôn.
c, Cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau
Khoản 3 Điều 10 luật hôn nhân và gia đình quy định: Những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau.
Việc xác định phạm vi những người có cùng dòng máu về trực hệ, những người
trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP đã có
hướng dẫn cụ thể lại mục c.3 khoản 1: “Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ là
giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại. Giữa những người có họ
10


trong phạm vi ba đời là giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất;
anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em

con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.”
Việc cấm những người kể trên kết hôn với nhau là hoàn toàn cần thiết và phù hợp
với khoa học cũng như đạo đức. Qua nghiên cứu trên cơ sở khoa học và điều tra thực tế
cho thấy, những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng có quan hệ huyết thống gần dễ có
nguy cơ mắc các bệnh di truyền do sự kết hợp của các gen mang bệnh, có thể sinh ra con
dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu (không phân biệt được màu đỏ và màu xanh),
bạch tạng, da vảy cám đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh – mở đầu cho cuộc đời tàn
phế… thậm chí có nhiều trường hợp con cái của họ sẽ tử vong trong thời kỳ mang thai
hoặc tử vong ngay sau khi sinh. Mặt khác, ở nước ta, theo phong tục tập quán của một số
dân tộc thiểu số thì việc kết hôn giữa những người cùng huyết thống diễn ra khá phổ biến
như Lô Lô, Chứt, Ê đê, Si la,… Nếu tình trạng này kéo dài thì còn có thể dẫn đến việc suy
giảm một số dân tộc thiểu số ở nước ta.
Như vậy, nếu những người có quan hệ huyết thống gần kết hôn với nhau sẽ làm suy
giảm giống nòi, không đảm bảo được sự phát triển lành mạnh của xã hội.
d, Cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa
những người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, giữa người đã từng là
bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Đây là một quy định mới so với luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 không có quy định cấm những người này kết hôn với nhau, vì vậy
họ vẫn được kết hôn với nhau. Tuy nhiên, xét về mặt thực tế, những người này không có
quan hệ về huyết thống nhưng họ đã có mối quan hệ cha mẹ con và có quan hệ chăm sóc
nuôi dưỡng.
Về phạm vi của điều cấm này, nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP cũng đã quy định
cụ thể tại mục c.4 Khoản 1: “Đối với trường hợp quy định tại điểm 4 Điều 10 cần hiểu là
ngoài việc cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi thì điều luật còn cấm kết hôn:
- Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;
- Giữa người đã từng là bố chồng với con dâu;
11



- Giữa người đã từng là mẹ vợ với con rể;
- Giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ;
- Giữa người đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng.”
Như vậy, pháp luật nước ta cấm những người này kết hôn với nhau là hoàn toàn
đúng đắn, phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
e, Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Cấm kết hôn giữa những cùng giới tính là quy định mới của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000. Trước đây, luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986 chưa dự liệu
được trường hợp hai người có cùng giới tính kết hôn với nhau.
Giới tính là điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ. Theo đó, cùng
giới tính là những người có đặc điểm sinh học giống nhau, có thể cùng là nam hoặc có thể
cùng là nữ. Hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng
gia đình hạnh phúc, thể hiện ở việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn
nhau những nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy hôn nhân là
sự liên kết giữa những người khác giới tính là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên vừa
mang tính xã hội. Để bảo đảm mục đích của hôn nhân được thực hiện, bảo đảm yếu tố đạo
đức truyền thống và tính tự nhiên trong hôn nhân, pháp luật Việt Nam không thừa nhận
hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
IV. Thực trạng việc chấp hành các điều kiện kết hôn
Mặc dù luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rõ về điều kiện kết hôn,
các trường hợp cấm kết hôn, trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn trái pháp
luật vẫn diễn ra trên phạm vi cả nước mà nhiều nhất là ở các tỉnh miền núi, nơi có nhiều
dân tộc thiểu số sinh sống. Phổ biến trong số đó là v phạm về độ tuổi kết hôn, vi phạm
điều cấm kết hôn giữa những người có cùng huyết thống. Ví dụ như: Tại tỉnh Cao Bằng,
theo thống kê của ngành dân số năm 2008, 12,2% cặp vợ chồng mới cưới ở đây là tảo
hôn. Tuy nhiên, trên thực tế, tảo hôn còn cao hơn nhiều vì số người không đăng ký kết
hôn là rất lớn, do chưa đủ tuổi để đăng ký. Khảo sát trên quy mô toàn tỉnh thì số hộ có
người tảo hôn là 629 hộ gia đình.(1)
Tại Hà Giang, trường hợp hôn nhân con cô con cậu xảy ra khá phổ biến trong cộng
đồng người Lô Lô. Cứ 50 trường hợp kết hôn thì có 12 trường hợp kết hôn là con cô con

cậu. Tại thị trấn Mèo Vạc có 50 hộ thì có 8 trường hợp kết hôn con cô con cậu. Theo tập
12


tục, người Brâu có họ hàng trong 3 đời nhưng khi ưng nhau thì có thể làm lễ cưới, họ lí
giải “nếu lấy người khác thì của cải bị chia sẻ”. (2)
Tại Đắk Lắk, ngoài tình trạng tảo hôn thì tình trạng kết hôn cận huyết vẫn tồn tại.
Bà H’Lê Niê, cán bộ chi cục dân số kế hoạch hóa gia điình Đắk Lắk cho biết: theo phong
tục của người M’nông, Ê đê thì con cô con cậu được phép lấy nhau. Thậm chí con trai của
cậu lấy con gái của cô được coi là điềm lành. Người cô có con gái, khi gả đi, trước hết
phải gả cho con cậu. Mặt khác, theo tập quán mẫu hệ, các em gái ở tuổi 15, 16 đã có thể
chọn chồng. họ thường căn cứ vào hình dáng bề ngoài, sức khỏe của cô gái ở độ tuổi dậy
thì chứ không căn cứ vào tuổi tác. (3)
Không chỉ tồn tại ở các tỉnh miền núi, nơi nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống mà tình trạng tảo hôn vẫn tồn tại ở nhiều thành phố lớn. Một cán bộ hội phụ nữ xã
Tân Phú Trung, huyện Củ Chi cho biết chỉ riêng ở 2 ấp Bến Đò 1 và Bến Đò 2 của xã, nếu
tính sơ sơ thì cũng có trên 5 cặp chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn cưới hỏi rình rang từ hai,
ba năm nay.(4)
Ngoài ra việc kết hôn trái pháp luật do thiếu sự tự nguyện của một hoặc hai bên kết
hôn, kết hôn trái pháp luật do có bên kết hôn là người đang có vợ (chồng), là người mất
năng lực hành vi dân sự hay do các bên kết hôn là những người có quan hệ nuôi dưỡng
hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc vẫn tồn tại.
Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trước hết là do trình độ dân trí của
một số người dân thuộc dân tộc thiểu số chưa cao nên thiếu sự am hiểu về pháp luật. Mặt
khác, do một số dân tộc thiểu số vẫn còn giữ các phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân
nên tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết diễn ra phổ biến.
V. Hạn chế của pháp luật về điều kiện kết hôn và dự thảo luật về vấn đề này
* Về điều kiện về độ tuổi kết hôn: theo Khoản 1 điều 9 thì “nam từ hai mươi tuổi
trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” được kết hôn. Luật hôn nhân và gia đình quy định độ
tuổi kết hôn tối thiểu như vậy là phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của con người, phù

hợp với thực tiễn đời sống hôn nhân của xã hội Việt Nam. Tuy nhiên cách quy định độ
tuổi kết hôn như hiện nay đã dẫn tới những cách tính tuổi không thống nhất trong thực
tiễn, trên thực tế có hai cách tính tuổi: tính theo tuổi tròn và tính theo ngày đầu năm dương
13


lịch. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2005, nếu nữ chưa đủ 18
tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại
diện theo pháp luật đồng ý. Người vợ 17 tuổi một ngày theo Luật hôn nhân và gia đình có
các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản
riêng… Nhưng theo BLDS thì người vợ trong trường hợp này vẫn là chưa thành niên khi
thực hiện các quyền về tài sản của mình. Khi họ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
phải được sự đồng ý của cha mẹ là người đại diện theo pháp luật (Điều 22 BLDS 2005).
Mặt khác, quy định về độ tuổi ở đây sẽ mâu thuẫn với bộ luật hình sự năm 1999 (điều 148
về tội tảo hôn). Do những bất cập đó nên trong dự thảo luật hôn nhân và gia đình mới đây
đã sửa đổi điều 9 về điều kiện kết hôn, tại khoản 1 quy định: “Nam, nữ kết hôn phải tuân
theo các điều kiện sau đây:1. Đủ mười tám tuổi trở lên;” Quy định này nhằm phù hợp với
quy định về người thành niên trong Bộ luật Dân sự, pháp luật về tố tụng dân sự và bình
đẳng giới về tuổi kết hôn. Về dự thảo luật quy định về độ tuổi kết hôn vẫn có nhiều ý kiến
trái chiều, có người kiến nghị nên giữ lại tuổi kết hôn tối thiểu hiện nay. Tuy nhiên, để bảo
đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật thì có thể quy định nam từ đủ 20 tuổi và nữ
từ đủ 18 tuổi trở lên. Bà Nguyễn Thanh Vân - đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng khẳng định không nên thay đổi, điều chỉnh nội dung này vì dễ dẫn đến những xáo
trộn, các cơ quan Nhà nước sẽ mất thời gian tuyên truyền cho người dân hiểu. “Lâu nay,
người dân mặc định hiểu rằng đến tuổi này, tuổi kia thì con họ được lấy chồng, lấy vợ,
chứ người dân đâu có quan tâm con mình tròn tháng, thiếu tháng hay thừa tháng”. Ngược
lại, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa lại tán thành đề
xuất của Tổ biên tập để tạo sự bình đẳng về tuổi kết hôn. “Nếu các vị phân tích được về
khoa học, nam phải hơn nữ ít nhất 2 tuổi mới được kết hôn thì hãy quy định độ tuổi khác
biệt giữa nam và nữ, còn không thì phải cùng độ tuổi với nhau, bao nhiêu tuổi thì chúng ta
sẽ nghiên cứu kỹ hơn”.

* Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết
hôn. Nếu vào thời điểm đăng ký kết hôn, quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
của tòa án có hiệu lực thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật. Song thực tiễn ở nước ta có
những người vì tình yêu thương chân thành và trách nhiệm sẵn sàng chia sẻ cuộc sống
cùng những người mất khả năng nhận thức, tự nguyện gắn bó với họ để bù đắp phần nào
14


những tổn thất cho họ. Trong hoàn cảnh này, người bị mất năng lực hành vi dân sự cũng
rất cần có người yêu thương chăm sóc, ở bên và giúp đỡ trong cuộc sống.
Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi, bổ sung vấn đề này tại khoản 3 điều 9
về điều kiện kết hôn, theo đó “Nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:…3.
Không bị mất năng lực hành vi dân sự;” Như vậy, dự thảo luật lần này đã đưa năng lực
hành vi dân sự vào các điều kiện kết hôn chứ không còn là điều cấm người mất năng lực
hành vi dân sự kết hôn. Việc quy định như vậy là cần thiết bởi người mất năng lực hành vi
dân sự không thể nhận thức và thực hiện được các nghĩa vụ của mình, không có khả năng
gánh vác những nghĩa vụ chung trong đời sống gia đình.
* Một vấn đề gây tranh cãi và đang có nhiều cách giải quyết khác nhau giữa các
nước trên thế giới đó là việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Ở nước ta, quan hệ
đồng giới không còn mới mẻ, có nhiều cặp nam nữ đồng giới chung sống như vợ chồng
một cách công khai. Trên thực tế có người ngay từ khi sinh ra đã bị xác định nhầm giới
tính. Thông thường khi mới sinh thì việc ghi nhận giới tính được xác định theo thị giác
của viên chức hộ tịch. Bên cạnh đó, y học hiện đại cũng đã có thể phẫu thuật chuyển đổi
giới tính, vậy nhà nước sẽ công nhận hay không công nhận giới tính mới của họ và việc
kết hôn giữa những người đồng giới?
Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình đã bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người
cùng giới tính, đồng thời, khẳng định Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa
họ và bổ sung quy định giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa những người cùng
giới tính về quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ, con và quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con.
Xoay quanh vấn đề này có hai luồng ý kiến khác nhau đó là đồng ý với quy định như dự

thảo Luật, vì hiện nay, quan niệm và nhận thức của xã hội về vấn đề trên đã thay đổi. Ở
góc độ quyền con người, việc bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính
thể hiện tính nhân văn, góp phần giảm sự kỳ thị đối với nhóm người này và là cơ sở pháp
lý giải quyết hậu quả trên thực tế đối với tình trạng chung sống của một bộ phận người
cùng giới tính. Ý kiến khác lại đề nghị giữ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng
giới tính như hiện hành vì cho rằng, kết hôn là xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ,
việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính là không phù hợp với đạo

15


đức xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam cũng như không đảm bảo
chức năng của gia đình về duy trì nòi giống, không nên khuyến khích để mối quan hệ này
phát triển.
* Dự thảo luật hôn nhân và gia đình cũng có sửa đổi, bổ sung điều 11 về đăng ký
kết hôn theo hướng ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu hơn, tạo điều kiện cho người dân dễ dàng
thực hiện, cụ thể như sau:
“1. Việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp
luật về hộ tịch.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.”
Dự thảo luật hôn nhân và gia đình đã có những sửa đổi bổ sung nhằm khắc phục
những hạn chế của luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên xoay quanh những vấn
đề về điều kiện kết hôn vẫn có những ý kiến trái chiều và dự thảo vẫn đang trong quá trình
lấy ý kiến của nhân dân. Thiết nghĩ các nhà làm luật nên đưa ra quy định phù hợp về độ
tuổi và đặc biệt là hôn nhân của những người đồng giới, cụ thể là đối với những người
khiếm khuyết về bộ phận sinh dục, về nhiễm sắc thể mà điều đó được chứng minh bằng
phương pháp y học, những người không có khiếm khuyết đó mà chuyển đổi giới tính vì lý
do khác…
C. KẾT LUẬN
Điều kiện kết hôn là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng gia đình bền vững,

hạnh phúc. Vì vậy, để gia đình ấm no, phát triển lành mạnh thì nam nữ khi kết hôn phải
đáp ứng đầy đủ yêu cầu của điều kiện kết hôn. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đang
trong quá trình dự thảo sửa đổi, đây là điều cần thiết và hoàn toàn phù hợp với chủ trương
chính sách của Đảng, góp phần cho sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Trên đây là bài làm của em, do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu
sót, kính mong thầy cô giáo cho nhận xét để em hiểu sâu hơn về vấn đề này!

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.
2.

3.
4.
5.
6.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007;
I. L. Anđrêép, Về tác phẩm của Ph. Ăngghen: Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva, 1987, bản dịch
tiếng Việt của Nxb. Sự thật, Hà Nội;
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000;
Bộ luật dân sự năm 2005;
Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009;
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số

02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một

7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.

số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
/> />ItemID=6123#Dieu_9
/>_Detail.aspx?ItemID=632&LanID=828&TabIndex=1
(1) />(2) />(3) />(4) />
17



×