Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Làm rõ địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại việt nam theo quy định hiện hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (83.94 KB, 8 trang )

Lịch sử ra đời của Tư pháp Quốc tế khởi đầu từ thế kỷ thứ V sau
công nguyên, đế quốc La mã tan rã và hình thành nên các quốc gia ở châu
Âu cùng với sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động giao thương(1) của các
chủ thể của Tư pháp Quốc tế. Chủ thể của Tư pháp Quốc tế là các chủ thể
tham gia vào quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài. Chủ thể của Tư pháp
Quốc tế thường thể hiện yếu tố nước ngoài, ít nhất là một bên. Chủ thể phổ
biến của tư pháp quốc tế là các cá nhân, pháp nhân và quốc gia(2). Cá nhân
là chủ thể phổ biến nhất của tư pháp quốc tế trong khi đó quốc gia là chủ
thể đặc biệt và ít tham gia hơn. Đối với pháp nhân, đây là chủ thể cũng
tham gia nhiều quan hệ tư pháp nhưng chủ yếu ở lĩnh vực kinh doanhthương mại và đầu tư. Theo pháp luật Việt Nam, pháp nhân nước ngoài
được hưởng những quy chế pháp lý gì? Bài học kì dưới đây sẽ phân tích:
“Làm rõ địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam theo quy
định hiện hành”.
1. Một số vấn đề cơ bản về khái niệm pháp nhân nước ngoài
Pháp nhân là một định nghĩa luật pháp về một thực thể mang tính hội
đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song
theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách pháp lý
độc lập để tham gia các hoạt động pháp lý khác như kinh tế, xã hội (3). Theo
Điều 84 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định, pháp nhân phải là tổ
chức có đầy đủ các điều kiện:
(1) Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập
đăng kí hoặc công nhận;
(2)

1

Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

Chu Tùng Anh, Tư pháp Quốc tế Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống

pháp luật Quốc gia


2
/>3
/>

(3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm
về tài sản đó;
(4)

Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách
độc lập;
Trường hợp ngoại lệ duy nhất là công ty hợp danh. Công ty hợp danh

theo luật doanh nghiệp mặc dù không có tài sản độc lập với cá nhân, tổ
chức khác tuy nhiên công ty hợp danh vẫn được hưởng tư cách pháp nhân
như thường để đảm bảo kích thích và cân bằng đầu tư cũng như xúc tiến
hoạt động kinh doanh.
Pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy
định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước
ngoài. Tuy nhiên, thuật ngữ quốc tịch của pháp nhân là thuật ngữ mượn bởi
bản chất của quốc tịch là là trạng thái pháp lý thể hiện mối quan hệ giữa
công dân một nước với quốc gia- nhà nước nơi họ có quốc tịch, đây là
quyền thành viên của một quốc gia hay một nhà nước có chủ quyền(4). Như
vậy, thuật ngữ quốc tich của pháp nhân được hiểu là mối liên hệ pháp lý
đặc biệt và vững chắc giữa pháp nhân với một nhà nước nhất định.
Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân bao gồm:
(1) Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi đặt trung
tâm quản lý pháp nhân, trụ sở chính của pháp nhân (Ví dụ Cộng Hòa liên
bang Đức);
(2) Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi đăng kí
điều lệ pháp nhân khi thành lập (Hoa Kì);

(3) Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi thành lập
pháp nhân (Việt Nam);
(4) Nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân theo công dân nước
nào nắm quyền quản lý pháp nhân sẽ có quốc tịch của nước đó;

4

/>

Theo quy định tại Điều 16 của Luật Thương mại Việt Nam 2005,
doanh nghiệp nước ngoài là danh nghiệp thành lập, đăng kí kinh doanh
theo pháp luật nước ngoài và được pháp luật nước ngoài thừa nhận. Khoản
20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ rõ: “Quốc tịch của doanh nghiệp là
quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký
kinh doanh”. Hơn nữa, tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định số 138/2006/NĐCP giải thích, “pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo
pháp luật nước ngoài”.
Như vậy, do nguồn gốc chứa đựng yếu tố nước ngoài nên pháp nhân
phải chịu tác động đồng thời của hai hệ thống pháp luật:
(1) Pháp luật của quốc gia sở tại chi phối các hoạt động cụ thể của
pháp nhân được tiến hành trên lãnh thổ quốc gia sở tại chủ yếu bao gồm
các hoạt động giao dịch thương mại- kinh doanh- đầu tư.
(2) Pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch điều chỉnh
các vấn đề nội bộ của pháp nhân, các thủ tục chia tách, sáp nhập, thừa kế,
giải thể phá sản.
2. Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam theo
quy định hiện hành
2.1. Chế độ đãi ngộ và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
nước ngoài
Địa vị pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài thể hiện ở chỗ nếu
quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân nước ngoài trên lãnh thổ nước sở

tại bị xâm phạm thì pháp nhân đó được nhà nước của mình bảo hộ về mặt
ngoại giao. Đồng thời, pháp nhân nước ngoài sẽ đưởng hưởng các chế độ
đãi ngộ quốc gia, chế độ tối huệ quốc và chế độ đãi ngộ đặc biệt. Việc áp
dụng chế độ nào trong từng lĩnh vực cụ thể tuỳ thuộc quy định của pháp
luật nước sở tại ký kết hoặc tham gia. Thực tiễn cho thấy Việt Nam thường
xây dựng quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài trên cơ sở chế


độ đãi ngộ quốc gia; trong các lĩnh vực khác trên cơ sở chế độ đãi ngộ tối
huệ quốc hoặc đãi ngộ đặc biệt
Thông thường, quyền và nghĩa vụ của pháp nhân trong các quan hệ
pháp luật nói chung sẽ xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các Điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều 765 khoản 1 Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài
được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập, trừ
trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập thực hiện các giao dịch dân sự tại
Việt Nam, thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được
xác định theo pháp luật Việt Nam.
Theo pháp luật Việt Nam, khi pháp nhân nước ngoài thực hiện các
giao dịch tại Việt Nam thì năng lực pháp nhân sẽ được xác định theo Điều
86 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp
nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với
mục đích hoạt động của mình. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân
phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm
chấm dứt pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện
theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự.
2.2. Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam
Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư
thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư (khoản 2

Điều 4 Luật Đầu tư năm 2005). Mục đích quy định quyền và nghĩa vụ của
nhà đầu tư nước ngoài (pháp nhân nước ngoài) để mở rộng hợp tác kinh tế
với nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát
triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của đất nước.


Các nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn những hình thức đầu tư
phù hợp với khả năng tài chính cũng như khả năng am hiểu thị trường của
mình như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
thành lập doanh nghiệp liên doanh trên cơ sở hợp đồng kinh doanh, thành
lập doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài,…
Pháp nhân nước ngoài thực hiện đầu tư của Việt Nam sẽ được đối xử
bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước
ngoài khác tại Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân nước ngoài
trong thời gian đầu tư tại Việt Nam sẽ tuân theo các quy định về đầu tư
thương mại. Pháp nhân nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư sẽ được nhà
nước Việt nam áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư về quyền sở hữu tài
sản hợp pháp (Vốn và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng
dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài không bị quốc hữu hóa), về cơ chế giải quyết tranh chấp phát
sinh từ hoạt động đầu tư (Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng
liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng như các tranh chấp giữa các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, nếu không hòa giải được thì
được đưa ra giải quyết tại tổ chức trọng tài hoặc tòa án Việt Nam theo pháp
luật Việt Nam), về việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác của
nhà đầu tư ra nước ngoài, về chính sách ưu đãi trong lĩnh vực đầu tư, địa
điểm đầu tư cũng như lĩnh vực đầu tư. Pháp nhân thực hiện hoạt động đầu
tư tại Việt Nam phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến thủ tục cấp phép

đầu tư, nghĩa vụ tài chính- thuế má, lệ phí, các chế độ về bảo vệ môi
trường, an sinh xã hội, an toàn xây dựng, lao động, quản lý thống kê nguồn
vốn, nguồn lao động,… đồng thời cũng phải tôn trọng Hiếp pháp, pháp
luật, độc lập, chủ quyền của Việt Nam.


2.3. Địa vị pháp lý của các pháp nhân nước ngoài không thuộc
diện đầu tư tại Việt Nam
Nhiều pháp nhân nước ngoài cử đại diện đến Việt Nam tìm hiểu thị
trường, giao dịch, kí kết các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ với các
doanh nghiệp và pháp nhân khác của Việt Nam. Phạm vi thẩm quyền của
đại diện cho pháp nhân nước ngoài do pháp luật của nước mà pháp nhân
nước ngoài mang quốc tịch quyết định. Trường hợp pháp nhân nước ngoài
muốn đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam thì có giấy phép
của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Trong thời gian hoạt động ở Việt
Nam, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của pháp nhân nước ngoài phải
tôn trọng hiếp pháp, pháp luật Việt Nam. Theo Điều 16, Luật Thương mại
2005 thì pháp nhân nước ngoài chỉ có thể hoạt động ở Việt Nam dưới hai
hình thức: Chi nhánh và Văn phòng đại diện. Cách thức thành lập và hoạt
động của chi nhánh và văn phòng đại diện cho pháp nhân nước ngoài (chủ
yếu là thương nhân) được quy định chi tiết tại Nghị định số 72/2006/NĐCP ngày 25/07/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về
Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
và Thông tư số 11/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại ngày 28/09/2006
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 72/2006/NĐ-CP. Đối với những lĩnh vực
cụ thể sẽ tuân theo các quy định của pháp luật chuyên ngành, chẳng hạn,
Điều 40 Luật Quảng cáo Việt Nam năm 2012 quy định:
“1. Doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài được phép thành lập văn
phòng đại diện tại Việt Nam;
2. Văn phòng đại diện được hoạt động khi có giấy phép của Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp nước

ngoài đề nghị thành lập Văn phòng đại diện;
3. Văn phòng đại diện chỉ được xúc tiến quảng cáo, không được trực
tiếp kinh doanh dịch vụ quảng cáo”.


3. Nhận xét chung
Có thể thấy rằng, các quy định của pháp luật Việt Nam đã tạo ra cơ
chế thoáng cho các pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế.
Các pháp nhân nước ngoài chủ yếu hoạt động tại Việt Nam chủ yếu trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại và hợp tác đầu tư. Theo đó, địa vị pháp lý
của các pháp nhân nước ngoài này chủ yếu được xác định theo pháp luật về
doanh nghiệp, pháp luật về thương mại cũng như pháp luật về đầu tư. Việt
Nam không có sự phân biệt giữa pháp nhân nước ngoài với pháp nhân
trong nước cũng như pháp nhân nước ngoài khác. Song bên cạnh đó, có
một số lĩnh vực (Ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, các dịch vụ liên quan
đến tài chính, hàng hải, quảng cáo, kinh doanh bất động sản,... ) sẽ là những
lĩnh vực hạn chế đầu tư nước ngoài theo cam kết gia nhập WTO của Việt
Nam(5).

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
5

/>

1. Giáo trình Tư pháp Quốc tế;
Trường Đại học Luật Hà Nội;
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009;
2. Giáo trình Tư pháp Quốc tế
Nguyễn Bá Diến;
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003;

3. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2;
Chủ biên: PGS. TS Đinh Văn Thanh. ThS. Nguyễn Minh Tuấn
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006;
4. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1;
Chủ biên: Lê Đình Nghị;
Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2009;
5. Bộ luật Dân sự năm 2005;
6. Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết
thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài;
7. Luật Đầu tư năm 2005;



×