BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THỊ HỒNG NGỌC
MSV: 1201420
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CAO
CHIẾT LÁ HỒNG TRÊN CHUỘT THỰC
NGHIỆM GÂY TẮC ĐỘNG MẠCH NÃO
GIỮA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THỊ HỒNG NGỌC
MSV: 1201420
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CAO
CHIẾT LÁ HỒNG TRÊN CHUỘT THỰC
NGHIỆM GÂY TẮC ĐỘNG MẠCH NÃO
GIỮA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. TS. Đào Thị Thanh Hiền
2. TS. Lê Thị Xoan
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược học cổ truyền
2. Viện Dược liệu
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS. Lê Thị
Xoan – khoa Dược lý Sinh hóa – Viện Dược Liệu, người thầy, người chị luôn nhiệt
tình chỉ bảo, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đào Thị Thanh Hiền, TS. Hà Vân Oanh đã tạo
điều kiện cho tôi tham gia thực hiện khóa luận và luôn hết lòng giúp đỡ, đóng góp
những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Phượng, CN. Trần Nguyên Hồng,
cùng các anh chị trong khoa Dược lý - Sinh hóa và khoa Hóa Thực Vật 1 – Viện Dược
Liệu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trường Đại học Dược
Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý giá và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
tại trường.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, là chỗ
dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt thời gian qua.
Do thời gian thực hiện có hạn, điều kiện nghiên cứu và trình độ bản thân còn
hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót trong khóa luận. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô để khóa luận này được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Hồng Ngọc
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ................................................................... iv
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .......................................................................................3
1.1.
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ....................................................................3
1.1.1.
Định nghĩa ...........................................................................................3
1.1.2.
Hậu quả và tình hình dịch tễ ...............................................................3
1.1.3.
Sinh lý bệnh .........................................................................................4
1.1.4.
Yếu tố nguy cơ .....................................................................................4
1.1.5.
Biện pháp điều trị hiện nay .................................................................5
Xử trí chung .................................................................................................... 5
1.2.
Mô hình gây đột quỵ trên chuột .................................................................8
1.2.1.
Mô hình MCAO ...................................................................................9
1.2.2.
Photothrombosis ................................................................................11
1.3.
Lá hồng .....................................................................................................11
1.3.1.
Đặc điểm thực vật và phân bố ...........................................................11
1.3.2.
Bộ phận dùng .....................................................................................11
1.3.3.
Thành phần hóa học ..........................................................................12
1.3.4.
Tác dụng dược lý ...............................................................................14
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................18
2.1.
Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................18
2.1.1.
Nguyên liệu ........................................................................................18
2.1.2.
Động vật thí nghiệm ..........................................................................18
2.1.3.
Hóa chất và trang thiết bị..................................................................18
2.2.
Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................20
2.2.1.
Định lượng flavonoid toàn phần trong cao chiết lá hồng bằng
phương pháp đo quang .....................................................................................20
2.2.2.
Đánh giá tác dụng dược lý ................................................................21
2.2.2.1.
Thiết kế nghiên cứu ...................................................................... 21
2.2.2.2.
Mô hình gây tắc động mạch não giữa ......................................... 22
2.2.2.3.
Nhuộm 2,3,5-triphenyltetrazolium chlorid (TTC) ....................... 24
2.2.2.4.
Triển khai mô hình gây tắc động mạch não giữa ........................ 25
2.2.2.5.
Áp dụng mô hình vào đánh giá tác dụng của cao chiết lá hồng .. 25
2.2.2.6.
Xử lý thống kê .............................................................................. 29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................31
3.1.
Định lượng flavonoid toàn phần trong cao chiết EtOH lá hồng ..............31
3.2.
Triển khai mô hình gây tắc động mạch não giữa .....................................33
3.3.
Tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết lá hồng trên thực nghiệm ........34
3.3.1.
Ảnh hưởng của cao chiết lá hồng trên mức độ thiếu hụt thần kinh vận
động.................... ..............................................................................................34
3.3.2.
Ảnh hưởng của cao chiết lá hồng lên thể tích nhồi máu não ............36
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ........................................................................................39
4.1.
Mô hình gây đột quỵ trên động vật thực nghiệm .....................................39
4.2.
Tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết lá hồng ....................................41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATP
Adenosine triphosphate
CAT
Catalase
CCA
Động mạch cảnh chung (Common carotid artery)
COX
Cyclooxygenase
CT
Chụp cắt lớp vi tính (Computed tomography)
DMSO
Dimethyl sulfoxide
ECA
Động mạch cảnh ngoài (External carotid artery)
EtOH
Ethanol
FDA
Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug
Administration)
FLDK-P70
Flavonoid chuẩn chiết xuất từ lá hồng với 77,4% flavonoid
Glasgow
Thang điểm hôn mê đánh giá tình trạng ý thức của người bệnh
GSH
Glutathione
GSH-Px
Glutathione peroxidase
HDL
Lipoprotein tỷ trọng cao
i.p
Tiêm phúc mạc
i.v
Tiêm tĩnh mạch
ICA
Động mạch cảnh trong (Internal carotid artery)
IL
Interleukin
INR
Chỉ số bình thường hóa quốc tế (International Normalized Ratio)
LDL
Lipoprotein tỷ trọng thấp
MCA
Động mạch não giữa (Middle cerebral artery)
MCAO
Mô hình gây tắc động mạch não giữa (Middle Cerebral Artery
Occlusion)
Mean
Giá trị trung bình
MeOH
Methanol
NXQ
Cao chiết chuẩn hóa từ lá hồng (Naoxinqing)
PAf
Proanthocyanidin chiết xuất từ lá hồng
i
PLF
Flavonoid từ dịch chiết lá hồng
PLF - PC
Phức hợp phospholipid của flavonoid tổng từ dịch chiết lá hồng
rt-PA, tPA
Chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp
SE
Sai số chuẩn
SOD
Superoxide dismutase
THA
Tăng huyết áp
TNF
Yếu tố hoại tử khối u (Tumor necrosis factor)
TTC
2,3,5-triphenyltetrazolium chloride
WHO
World Health Organization
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Bảng 1.1
Yếu tố nguy cơ của thiếu máu não cục bộ
5
Bảng 1.2
Các mô hình gây thiếu máu não
8
Bảng 2.1
Chế độ dùng thuốc của các lô chuột trong nghiên cứu
28
Bảng 3.1
Kết quả sự phụ thuộc giữa độ hấp thụ quang và nồng độ
31
Trang
của Quercetin đo ở bước sóng 510 nm
Bảng 3.2
Kết quả định lượng flavonoid trong cao chiết EtOH lá
32
hồng
Bảng 3.3
Kết quả khảo sát kích thước dây gây đột quỵ
33
monofilament
Bảng 3.4
Kết quả đánh giá hành vi vận động của các lô chuột thực
nghiệm
iii
35
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
STT
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Lá hồng
12
Hình 1.2
Công thức của flavonoid
13
Hình 2.1
Dây gây đột quỵ - monofilament
20
Hình 2.2
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
22
Hình 2.3
Quy trình gây tắc động mạch não giữa
24
Hình 2.4
Đường bregma
25
Hình 2.5
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu tác dụng dược lý của cao chiết lá
27
hồng
Hình 2.6
Thang điểm đánh giá thiếu hụt thần kinh vận động
29
Hình 3.1
Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa nồng độ và độ hấp thụ
31
quang của Quercetin ở 510 nm
Hình 3.2
Hình ảnh các lát cắt não khi nhuộm TTC khi thử triển khai
34
mô hình
Hình 3.3
Hình ảnh đặc trưng lát cắt não của các nhóm chuột nghiên
36
cứu khi nhuộm bằng TTC
Hình 3.4
Biểu đồ so sánh tỷ lệ phần trăm nhồi máu não của các lô
chuột thực nghiệm
iv
37
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ (hay còn gọi là tai biến mạch máu não) là nguyên nhân thứ hai gây tử
vong trên toàn thế giới [28]][47] sau bệnh tim mạch và luôn nằm trong nhóm các
bệnh gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu trong 15 năm qua [47]. Tại nước ta, tai biến
mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật trong nhóm bệnh
không lây nhiễm [2]. Đột quỵ là hiện tượng máu lên não bị gián đoạn đột ngột hoặc
chảy máu trong não, hậu quả là tế bào não bị chết do thiếu oxy, gây ra các tổn thương
nghiêm trọng cho cơ thể, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Cho
đến nay đột quỵ vẫn còn là một thách thức lớn của y học. Tử vong do bệnh cao và
gánh nặng về tàn phế sau đột quỵ luôn là nỗi lo của cá nhân, gia đình và xã hội.
Đột quỵ gồm 2 thể: đột quỵ thể nhồi máu (thiếu máu não cục bộ) và đột quỵ thể
xuất huyết, trong đó đột quỵ thể nhồi máu chiếm khoảng 87% [16] [22]. Cho đến nay,
việc điều trị đột quỵ còn nhiều hạn chế. Chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (rtPA - recombinant tissue plasminogen activator) là thuốc duy nhất được FDA phê
duyệt để điều trị thiếu máu não cục bộ. Tuy nhiên, tPA phải được dùng càng sớm
càng tốt, trong tối đa 4,5 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng đột quỵ đầu tiên
[8][22][27][41]. Do sự ngắn hạn của thời gian cửa sổ điều trị, nên số bệnh nhân được
điều trị và hưởng lợi từ thuốc nhỏ. Do đó, việc nghiên cứu phát triển các liệu pháp
điều trị đột quỵ não mới là rất cần thiết.
Bên cạnh việc nghiên cứu phát triển các thuốc điều trị thì việc phòng chống
thiếu máu não cục bộ càng cần phải được quan tâm. Việt Nam mặc dù có nguồn dược
liệu, bài thuốc dân gian phong phú nhưng việc gìn giữ, ứng dụng và phát triển di sản
này còn nhiều hạn chế khi các bằng chứng khoa học về tác dụng của chúng còn chưa
được sáng tỏ. Cây hồng (Diospyros kaki L.f.) là một cây ăn quả lâu năm, được trồng
rộng khắp khu vực Đông Nam Á. Hồng có chứa các hợp chất khác nhau như các acid
amin, carotenoid, flavonoid, tanin, catechin và vitamin A [23][37]. Trên thế giới có
rất nhiều nghiên cứu chứng minh các chất được phân lập từ lá hồng có nhiều tác dụng
sinh học như hạ huyết áp [32], kháng khuẩn, chống viêm, chống dị ứng [32], chống
1
oxy hóa [9][32][34], hạ lipid máu [9],… Đặc biệt, Bei W cùng cộng sự đã nghiên cứu
in vitro và in vivo về cao chiết chuẩn hóa từ lá hồng – Naoxinqing (NXQ), kết quả
cho thấy NXQ có tác dụng bảo vệ thần kinh trên chấn thương thiếu máu não cục bộ
gây bởi mô hình tắc động mạch não giữa (MCAO - Middle Cerebral Artery
Occlusion) và mô hình tắc 4 mạch (4 - VO – four - vessel occlusion, gây thiếu máu
cục bộ toàn não do tắc 2 động mạch đốt sống và 2 động mạch cảnh chung), bảo vệ tế
bào thần kinh vùng dưới đồi của chuột sau khi gây nhiễm độc glutamate, bảo vệ tế
bào thần kinh vỏ não khỏi bị tổn thương do thiếu oxy gây ra trong ống nghiệm
[14][15]. Những kết quả này gợi ý rằng cao chiết lá hồng có tác dụng làm giảm đáng
kể những tổn thương gây bởi MCAO và bảo vệ các tế bào thần kinh vùng hải mã trên
chuột.
Để cung cấp thêm các bằng chứng về tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết lá
hồng và đánh giá tác dụng của lá hồng tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài với
mục tiêu:
1. Định lượng flavonoid toàn phần trong cao chiết lá hồng.
2. Triển khai mô hình gây tắc động mạch não giữa trên chuột nhắt trắng.
3. Áp dụng mô hình đã triển khai để đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao
chiết lá hồng.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ
1.1.
1.1.1. Định nghĩa
Định nghĩa về đột quỵ của Tổ chức y tế Thế giới năm 1970: Các dấu hiệu rối loạn
chức năng của não (khu trú hoặc toàn thể) phát triển nhanh, kéo dài trên 24 giờ hoặc
dẫn đến tử vong, không xác định nguyên nhân nào khác ngoài căn nguyên mạch máu
[44].
Đột quỵ có thể là thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết (bao gồm xuất huyết dưới
nhện và xuất huyết nội sọ).
Trong đó, đột quỵ thiếu máu não cục bộ được định nghĩa: là rối loạn chức năng
thần kinh khu trú cấp tính do nhồi máu khu trú tại một hoặc nhiều vị trí tại não hoặc
võng mạc, xác định dựa vào [42]:
-
Thời gian triệu chứng kéo dài hơn 24 giờ
-
Hình ảnh thần kinh hoặc kỹ thuật khác trong khu vực có liên quan về mặt lâm
sàng của não
1.1.2. Hậu quả và tình hình dịch tễ
Đột quỵ là nguyên nhân thứ hai gây tử vong sau bệnh tim mạch, chiếm 11,13%
tổng số trường hợp tử vong trên toàn thế giới. Trong năm 2010, số ca đột quỵ trên
toàn thế giới là 33 triệu người, với 16,9 triệu người bị đột quỵ lần đầu [16].
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 795.000 người bị đột quỵ. Tính trung bình, cứ
mỗi 40 giây, một người Mỹ bị đột quỵ và mỗi 4 phút có một người chết vì đột quỵ.
Nhiều dự báo rằng đến năm 2030 sẽ có thêm 3,4 triệu người Mỹ trưởng thành từ 18
tuổi trở lên sẽ bị đột quỵ [16].
Trên thế giới, đột quỵ tiêu tốn khoảng 2-4% tổng chi phí chăm sóc y tế. Chi phí
cho đột quỵ hàng năm ở Mỹ ước tính khoảng 33 tỷ USD, bao gồm chi phí các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, thuốc điều trị và số ngày nghỉ việc [16]. Tuy chưa có số liệu
đầy đủ về chi phí cho đột quỵ tại Việt Nam, nhưng một người bị tai biến mạch máu
3
não dù sống sót, nếu mức độ tàn tật trung bình thì coi như mất một lao động, nếu sống
với di chứng nặng phải phụ thuộc vào người khác, gia đình sẽ mất thêm một người
chăm sóc. Gia đình sẽ lâm vào tình trạng kinh tế khó khăn. Thực sự người bệnh là
một gánh nặng của gia đình và xã hội.
1.1.3. Sinh lý bệnh
Đột quỵ thiếu máu cục bộ là kết quả của sự gián đoạn đột ngột lưu lượng máu
trong não. Thiếu máu não cục bộ có 70-80% là do tắc nghẽn mạch máu hoặc huyết
khối. Một cục máu đông có thể hình thành trong tim, dọc theo mạch máu lớn (ví dụ
như động mạch chủ, động mạch cảnh hoặc động mạch thân nền) hoặc trong động
mạch nhỏ xuyên sâu vào não. Hoặc có các nguyên nhân khác làm giảm lưu lượng
máu trong não bao gồm các cơn co thắt động mạch một hoặc nhiều lần với lượng máu
chảy kém qua các mạch máu, viêm tủy, tắc nghẽn tĩnh mạch và thiếu máu trầm trọng
hoặc tăng lưu lượng máu [18].
Các nguyên nhân trên gây giảm sự cung cấp các chất dinh dưỡng cho tế bào
thiếu máu, cuối cùng dẫn đến sự suy giảm các phosphat năng lượng cao (ví dụ như
ATP) và tích tụ kali trong máu, natri nội bào và nước, dẫn đến tế bào căng ra và cuối
cùng là ly giải. Sự gia tăng calci nội bào dẫn đến việc kích hoạt lipase, proteases,
endonucleases và giải phóng các acid béo tự do từ các phospholipid màng. Ngoài ra
còn có các acid amin như glutamate và aspartate, làm tổn thương thần kinh và tích tụ
các acid béo tự do, bao gồm acid arachidonic, tạo thành prostaglandin, leukotrienes,
và các gốc tự do. Trong thiếu máu cục bộ, các gốc tự do được sản xuất ồ ạt vượt quá
khả năng dọn dẹp của cơ thể, dẫn tới các gốc tự do này tấn công các màng tế bào và
góp phần làm tăng acid nội bào. Tất cả những sự kiện này xảy ra trong vòng 2 đến 3
giờ khi bắt đầu thiếu máu và góp phần vào sự chết của tế bào [18][22].
1.1.4. Yếu tố nguy cơ
4
Bảng 1.1: Yếu tố nguy cơ của thiếu máu não cục bộ [31]
Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi
-
Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
Tuổi (tăng gấp đôi mỗi 10 năm
-
Tăng huyết áp
sau 55 tuổi)
-
Bệnh tim mạch: rung nhĩ, bệnh van tim,
-
Giới tính (nam > nữ)
nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, suy
-
Cân nặng khi sinh < 2.500g
tim sung huyết và phì đại tâm thất trái
-
Tiền sử gia đình
-
Đái tháo đường
-
Yếu tố di truyền
-
Rối loạn lipid máu
-
Hút thuốc lá
-
Yếu tố khác: béo phì, lượng muối ăn <
2.300 mg/ngày, kém hoạt động thể lực,
tăng homocystein máu, rối loạn đông
máu, dùng thuốc tránh thai đường uống
(phụ nữ 25 – 44 tuổi), nhiễm trùng cấp
tính, đau nửa đầu, rối loạn giấc ngủ...
1.1.5. Biện pháp điều trị hiện nay
1.1.5.1.
Nguyên tắc điều trị chung
Nhận biết nhanh chóng các triệu chứng đột quỵ và bắt đầu điều trị ngay lập tức
là rất quan trọng để quản lý đột quỵ nói chung và thiếu máu não cục bộ nói riêng. Các
can thiệp để dự phòng và điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ là nhằm giảm các yếu tố
nguy cơ, loại bỏ hoặc thay đổi quá trình bệnh lý tiềm ẩn, giảm tổn thương não thứ
phát và phục hồi chức năng.
1.1.5.2.
Điều trị cấp tính
Xử trí chung
Bệnh nhân cần được: đảm bảo đường thở và thông khí; tư thế nằm nghiêng an
toàn; đặt canuyn miệng, hút đờm dãi nếu có; đặt nội khí quản khi có ứ đọng, điểm
5
Glasgow < 8; theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn: nhịp tim, huyết áp, nhịp thở,... để có
biện pháp xử trí kịp thời [3].
Điều trị tăng huyết áp
80% bệnh nhân đột quỵ có THA. Huyết áp thường giảm dần trong 24-48 giờ kể
từ khi bị đột quỵ. Tưới máu não phụ thuộc một phần vào áp lực trung bình động mạch.
Do đó, huyết áp tăng ở mức độ nào đó có thể cần thiết để duy trì áp lực tưới máu đầy
đủ cho các khu vực tổn thương. Bởi vậy, không nên hạ thấp huyết áp trừ khi cần thiết
để điều trị hội chứng mạch vành cấp tính, hoặc huyết áp tâm thu > 220 mmHg hoặc
huyết áp tâm trương > 120 mmHg. Hạ huyết áp nên tiến hành thận trọng, với 15%
trong 24 giờ đầu là một mục tiêu hợp lý [3][17].
Chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (r-tPA)
Những bệnh nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cho việc sử dụng liệu pháp tiêu
huyết khối được duy trì huyết áp < 180/110 mmHg, được sử dụng tPA theo hướng
dẫn. Việc sử dụng tPA phải bắt đầu trong vòng 4,5 giờ sau khi khởi phát đột quỵ
nhưng nên bắt đầu càng sớm càng tốt, với mức liều 0,9 mg/kg trong vòng 1 giờ, với
10% liều tiêm trong vòng 1 phút đầu, tránh dùng liệu pháp chống huyết khối trong
vòng 24h, theo dõi chặt chẽ về vấn đề THA, đáp ứng và xuất huyết. Điều trị rt-PA
làm tăng nguy cơ gặp các triệu chứng của xuất huyết não so với giả dược, nhưng
không có tác động đáng kể nào lên tỷ lệ tử vong trong 3-12 tháng [17][22][31][41].
Thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu
Bệnh nhân không sử dụng được tPA được khuyến cáo sử dụng aspirin 325 mg
trong 24-48 giờ. Liều có thể giảm đến 81 mg trong giai đoạn đột quỵ sau cấp tính.
Với bệnh nhân dị ứng aspirin, có thể dùng clopidogrel, ticlopidin để thay thế [17][22].
Heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp và thuốc chống đông đường uống
warfarin không được khuyến cáo cho đột quỵ thiếu máu cục bộ [17][22].
Chống đông với warfarin, dabigatran hoặc apixaban được chỉ định để ngăn ngừa
đột quỵ tái phát do rung nhĩ. Và mục tiêu INR cho điều trị bằng warfarin là 2-3 [17].
6
1.1.5.3.
Điều trị dự phòng cấp 2 cho bệnh nhân sau đột quỵ nhồi máu não
Điều trị dự phòng huyết khối bằng aspirin hoặc thuốc chống đông, ngoài ra bệnh
nhân cần kiểm soát huyết áp theo đích, kiểm soát đường huyết, kiểm soát lipid máu,
kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác. Bệnh nhân kiểm soát các yếu tố nguy cơ bằng
cách thay đổi chế độ ăn, lối sống và dùng thuốc [3].
1.1.5.4.
Thuốc bảo vệ thần kinh
Các loại thuốc hạn chế các tác động thiếu máu trầm trọng của tế bào hoặc tái
tưới máu có thể giúp hạn chế chấn thương thần kinh sau đột quỵ. Chiến lược điều trị
tiềm năng bao gồm việc hạn chế các ảnh hưởng của các acid amin kích ứng như
glutamate, các kênh canxi qua màng, sự hoạt động của protease nội bào, sự chết tế
bào theo chu trình, tổn thương do gốc tự do, khả năng đáp ứng viêm và sửa chữa
màng tế bào [7].
Một số thuốc có kết quả tiền lâm sàng và kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng
nhỏ cho thấy là khả quan. Các thuốc bảo vệ thần kinh có thể là một biện pháp được
dùng rộng rãi, trước khi đến viện và nhiều bệnh nhân được dùng hơn so với tPA, có
thể cộng hưởng tác dụng với tái tưới máu và giữ lại được vùng tranh tối tranh sáng.
Các thuốc tập trung vào sự hồi phục của não, tính mềm dẻo và thoái hóa thần kinh,
hơn là chỉ giới hạn kích thước ổ nhồi máu [6].
Edaravone
Edaravone là chất có khối lượng phân tử nhỏ, có khả năng dọn gốc tự do và dễ
dàng qua hàng rào máu não. Hoạt tính chống oxy hoá của edaravone là cơ chế hoạt
động chính của nó và là một trong những yếu tố quan trọng, vì các gốc tự do có thể
gây ra chấn thương sau một cơn đột quỵ. Sự stress oxy hóa xảy ra sau một cơn đột
quỵ thiếu máu cục bộ tạo ra các gốc oxy hoạt hóa như hydrogen peroxide (H2O2), gốc
tự do hydroxyl (HO •) và các gốc halogen superoxide (O2 • -), các gốc này gây tổn
thương tế bào nội mô mạch máu [33].
7
Nghiên cứu RESCUE đã cho thấy, việc sử dụng edaravone có hiệu quả để cải
thiện kết quả trên các bệnh nhân đột quỵ tắc mạch máu lớn cấp tính, đặc biệt với các
bệnh nhân điều trị bằng rt-PA [39]. Cũng có báo cáo rằng edaravone làm giảm xuất
huyết nội sọ [40].
Mô hình gây đột quỵ trên chuột
1.2.
Do sự bất cập về tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng sử dụng và thời gian cửa sổ điều
trị của tPA ngắn nên tỷ lệ bệnh nhân được hưởng lợi từ thuốc không cao. Nhận thấy
điều này, các nhà nghiên cứu đã xây dựng các mô hình gây đột quỵ trên động vật từ
nhiều năm nay để hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh cũng như để phục vụ cho nghiên
cứu phát triển thuốc mới.
Các mô hình mô phỏng tác động của thiếu máu não ở toàn bộ não (thiếu máu
toàn cầu) hoặc ở một vùng (thiếu máu khu trú) đã được phát triển [43].
Bảng 1.2. Các mô hình gây thiếu máu não [43]
Thiếu máu toàn cầu (Global ischemia)
-
Tắc nghẽn động mạch cảnh ở chuột
Thiếu máu khu trú (Focal ischemia)
-
Gerbil (Gerbil bilateral carotid artery
occlusion - BCAO)
-
-
(Photothrombosis)
-
Tắc 4 mạch (Rat 4-vessel occlusion 4VO)
Sử dụng ánh sáng để tạo cục máu đông
Gây tắc động mạch não giữa (middle
cerebral artery occlusion - MCAO)
-
Huyết khối bởi acid arachidonic
Tắc 3 mạch (Three-vessel occlusion
(Arachidonic acid–induced
model – 3VO)
thrombosis)
...
...
Đột quỵ thể nhồi máu ở người hầu hết là do tắc động mạch não giữa (MCA)
hoặc tắc một trong các nhánh của nó, mô hình có liên quan nhất là mô hình gây tắc
động mạch não giữa (MCAO) hoặc tắc nghẽn mạch máu trong vùng MCA. Do đó,
các nghiên cứu tìm hiểu cơ chế của thiếu máu não cục bộ hoặc thử nghiệm các loại
8
thuốc bảo vệ thần kinh mới thường triển khai trên các mô hình MCAO của động vật
bằng phương pháp nội mạch hoặc phẫu thuật.
1.2.1. Mô hình MCAO
Mô hình MCAO được sử dụng rất nhiều và có rất nhiều biến thể. Sau khi phẫu thuật
bộc lộ các mạch máu, MCA có thể bị tắc nghẽn theo nhiều cách: đốt điện làm đông
máu trong MCA và phá hủy mạch máu bằng máy móc, bằng cách sử dụng một thiết
bị gây tắc mạch; hoặc sử dụng một thuốc co mạch kéo dài như endothelin-1, một cách
đơn giản khác là sử dụng một dây nilon được bao silicone để chặn máu tại gốc của
MCA [19][43].
1.2.1.1.
MCAO bằng cách đốt điện hoặc sử dụng thiết bị gây tắc mạch
Tất cả các mô hình trong nhóm này đòi hỏi phải phẫu thuật mở hộp sọ để bộc lộ
MCA. Phù não trong giai đoạn sau 24-48h sẽ gây ra tử vong đáng kể nếu hộp sọ còn
nguyên vẹn. Do ngăn ngừa tăng áp lực sọ não sau khi thiếu máu não cục bộ nên các
mô hình này có tỷ lệ tử vong thấp [36].
Sau khi phẫu thuật sọ não, MCA bị tắc vĩnh viễn bằng cách sử dụng dòng điện đi qua
để gây đông máu hoặc MCA bị tắc bằng cách sử dụng các dụng cụ như kẹp mạch
máu nhỏ, các móc nối (nâng MCA lên cho đến khi ngắt được dòng chảy)... Các mô
hình cho biết chắc chắn vị trí nhồi máu, tuy nhiên đòi hỏi người phẫu thuật phải có
kỹ thuật cao, phải giữ được vô khuẩn sau mổ và không phù hợp để nghiên cứu tan
huyết [36].
1.2.1.2.
MCAO gây tắc nghẽn bằng hóa chất
Endothelin 1 (ET-1) là một peptid vận mạch mạnh, có thể liên kết với các thụ thể đặc
biệt trong các mạch máu não khác nhau và gây co mạch kéo dài. ET-1 được bôi vào
MCA hoặc vùng quanh MCA (khi phẫu thuật mở sọ) hoặc được tiêm vào trong cơ
thể. Mô hình có tỷ lệ thành công cao, bằng cách tiêm ET-1 thì có thể gây thiếu máu
ở động vật có ý thức. Tuy nhiên mô hình cũng có những hạn chế khi phẫu thuật hoặc
không thể xác định được vị trí nhồi máu khi tiêm vào cơ thể và không kiểm soát được
9
thời gian thiếu máu gây ra sự không lặp lại của mô hình. Hơn thế nữa ET-1 có thể
gây ra astrocytosis và thoái hóa sợi trục gây trở ngại cho việc sản xuất và sửa chữa
các tế bào thần kinh [24][36].
1.2.1.3.
MCAO sử dụng monofilament
Mô hình này hiện nay được sử dụng rộng rãi nhất, có thể gây cả mô hình thiếu máu
thoáng qua hoặc vĩnh viễn. Sợi dây gây đột quỵ monofilament được đưa vào từ động
mạch cảnh chung hoặc động mạch cảnh ngoài hoặc động mạch cảnh trong cho đến
khi nó chặn được gốc MCA. Mô hình có thể kiểm soát chính xác thời gian thiếu máu.
Tuy nhiên mô hình gặp khó khăn trong việc lặp lại mô hình và tỷ lệ tử vong cao.Tính
lặp lại được cải thiện bằng cách cải thiện sợi dây gây đột quỵ. Đường kính sợi
monofilament cần được xác định dựa vào trọng lượng chuột để đảm bảo đủ gây tắc
nghẽn MCA. Một đầu dò doppler có thể được sử dụng để hướng dẫn chính xác vị trí
của monofilament, để tránh luồn quá xa gây xuất huyết, vỡ mạch, để đánh giá mức
độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt lưu lượng máu [19][24][36].
Mô hình MCAO sử dụng monofilament phẫu thuật đơn giản, ít gây chấn thương hơn
so với mô hình phẫu thuật sọ não, thời gian gây tắc mạch có thể kiểm soát được, sau
thời gian gây tắc mạch mong muốn, sợi dây nilon được thu hồi, chuột có khả năng
sống sót trong nhiều ngày, nhiều tuần [19].
1.2.1.4.
MCA bị tắc nghẽn do cục máu đông tự phát
Mô hình này gần giống nhất với thiếu máu cục bộ ở người, thích hợp để nghiên cứu
các thuốc tiêu huyết khối. Máu được rút ra từ động vật để hình thành huyết khối tự
miễn có kích thước và thành phần xác định, sau đó được đưa vào não thông qua
canuyn chèn vào từ động mạch cảnh trong như mô hình MCAO sử dụng
monofilament. Mô hình gặp phải khó khăn trong việc lặp lại mô hình, tình trạng thiếu
máu và thời gian khó kiểm soát, sự hình thành các cục máu đông thứ cấp có thể gây
ra một vài biến cố, xuất huyết não rất dễ xảy ra và tỷ lệ tử vong của mô hình cao hơn
các mô hình khác [36].
1.2.1.5.
MCAO bằng cách tiêm cục máu đông
10
Sau khi phẫu thuật mở hộp sọ, một cục máu đông được tiêm vào vị trí xác định trong
mạch máu não tùy thuộc nhu cầu. Mô hình có tính lặp lại cao, tỷ lệ tử vong thấp hơn
mô hình huyết khối tự phát, thích hợp để nghiên cứu thuốc tiêu huyết khối [36].
1.2.2. Photothrombosis
Bằng cách tiêm một chất nhuộm quang học vào cơ thể chuột, rồi bộc lộ sọ não, chiếu
ánh sáng có bước sóng thích hợp vào vị trí muốn gây tắc mạch, mô hình có thể gây
tổn thương vùng vỏ não mà sọ não vẫn còn nguyên vẹn, tỷ lệ tử vong thấp, phù hợp
với nghiên cứu các thuốc tan huyết. Tuy nhiên, mô hình có thể gây ra một số bệnh
mạch máu và có thể hình thành huyết khối thứ cấp gây ra các tổn thương ở những vị
trí khác [24][36].
1.3.
Lá hồng
1.3.1. Đặc điểm thực vật và phân bố
Cây hồng Diospyros kaki L. f., họ Thị Ebenaceae là một cây gỗ lớn cao tới 15m.
Lá mọc so le, có cuống ngắn, dài không quá 1 cm. Phiến lá thuôn hình trứng hay trái
xoan, mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới nhạt có lông tơ. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, hoa
đơn tính cùng gốc, màu vàng nhạt. Hoa đực mọc cụm lại thành xim 3 hoa, có 2 lá
bấc, 14-24 nhị, thường là 16. Hoa cái mọc đơn độc, đài xẻ 5 thùy, bầu có 4 vòi nhụy
và 4 ô, thường có vách giả. Quả mọng hình cầu hoặc hình trứng, nhẵn, phẳng hoặc
có sống dọc, khi chín có màu vàng hoặc đỏ, mang đài tồn tại và không gập xuống.
Hạt dẹt, màu nâu vàng hoặc nâu đen [1][4].
Hồng là loại cây thích nghi với vùng trồng có khí hậu ôn hòa. Cây rụng lá vào
cuối mùa thu hay đầu mùa đông, sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè [1].
Nhật Bản và Trung Quốc sản xuất nhiều hồng nhất thế giới. Cây hồng đang
trồng ở nước ta hiện nay có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản. Hồng là cây ăn
quả lâu đời ở các tỉnh phía bắc từ Thanh Hóa trở ra, ở phía nam hồng được trồng ở
vùng Đà Lạt – Lâm Đồng nơi có độ cao từ 1000-1500m so với mặt nước biển [1].
1.3.2. Bộ phận dùng
11
Ở Việt Nam, hồng được trồng chủ yếu làm cây ăn quả. Một số bộ phận của cây
được sử dụng làm thuốc như tai hồng phơi hoặc sấy khô – thị đế, nước ép từ quả hồng
(thị tất), chất đường từ quả hồng (thị sương), ngoài ra còn dùng vỏ thân, vỏ rễ [1][4].
Y học cổ truyền Trung Quốc đã dùng lá hồng phơi khô làm thuốc [48].
Lá hồng cũng đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để làm trà, có thể dùng lá tươi
hoặc lá khô, nhưng lá khô thì tốt hơn [48].
Hình 1.1: Lá hồng: a. Lá non; b. Lá điển hình; c. Lá vàng; d. Lá khô [48]
1.3.3. Thành phần hóa học
Lá hồng có flavonoid, terpenoid, vitamin C, nhựa resin, polysaccharid, caroten,
các amino acid... [48]
Flavonoid là thành phần chính trong lá hồng, có hoạt tính [48]. Các flavonoid
chính trong lá hồng:
Flavonol [48]
12
+ Quercetin, Kaempferol
+ Isoquercetin
+ Myricitrin
Hình 1.2: Công thức của flavonoid [52]
Flavonol glucoside [48]
+ Rutin
+ Quereetin-3-O-β-L-arabinopyranoside
+ Quereetin-3-O-β-D-glucopyranoside
+ Quereetin-3-O-β-D-galactopyranoside
+ Kaempferol-3-O-α-L-rhamnopyranoside
+ Kaempfetol-3-O-β-D-galactopyranoside
+ Kaempferol-3-β-D-xylopyranoside
+ Kaempefrol-3-O–L-arabinopyranoside
+ Kaempferol-3-O-(200-O-galloyl)-β-D-glucopyranoside
+ Myrieetin-3-O-α-D-glucopyranoside
+ Quereetin-3-O-β-D-galaetoside (Hyperin)
13
Hợp chất triterpenoid (saponin) cũng quan trọng trong lá hồng và cho thấy một
số tác dụng dược lý. Các triterpenoid chính: oleanolic acid, α-amyrin, ursolic acid,
uvaol, 19α-hydroxyursolie acid, 19α-24-dihydroxyursolic, lupeol, betulinic acid,
betulic acid, pomolic acid [48].
1.3.4. Tác dụng dược lý
Từ lâu, trà lá hồng đã được sử dụng như một thức uống dinh dưỡng, giải nhiệt,
giúp giảm huyết áp, loại bỏ cholesterol tích tụ, ngăn ngừa tích lũy melanin [48]. Trong
nhiều năm gần đây, lá hồng rất được quan tâm nghiên cứu về tác dụng dược lý trên
in vitro và các mô hình tiền lâm sàng trên động vật.
1.3.4.1.
Tác dụng hạ huyết áp
Proanthocyanidin chiết xuất từ lá hồng (PAf) có tác dụng hạ huyết áp trên chuột
cao huyết áp nguyên phát. Huyết áp chuột giảm ngay sau khi uống 1 liều duy nhất,
hạ huyết áp phụ thuộc liều. Sau khi uống liều 300 mg PAf /kg, huyết áp chuột bị gây
THA giảm dần từ 181 ± 14 mmHg ở 0 giờ, đạt tối thiểu 150 ± 15 mmHg ở 4 giờ, và
dần dần tăng lên sau đó. Ở những con chuột bình thường, việc sử dụng PAf 300 mg/kg
không làm thay đổi huyết áp trong 8 giờ sau khi dùng [29].
Qin và cộng sự đã báo cáo rằng flavonoid từ dịch chiết lá hồng (PLF) làm giảm
rõ rệt huyết áp và nhịp tim ở chuột bình thường. Sau khi dùng PLF ở liều 20, 40 và
80 mg/kg thể trọng trong 4 tuần, huyết áp giảm đáng kể phụ thuộc liều. Nhóm tác giả
gợi ý rằng PLF có thể điều chỉnh sự mất cân bằng của các chất hoạt hóa tim mạch
bằng cách tăng cường giải phóng các chất giãn mạch và làm giảm giải phóng các chất
co mạch, dẫn đến giảm huyết áp [48].
1.3.4.2.
Tác dụng hạ lipid máu
Một nghiên cứu khác đã cho thấy tổng flavonoid từ dịch chiết lá hồng (PLF) và
các phức hợp phospholipid của flavonoid toàn phần từ dịch chiết (PLF – PC) có tác
dụng giảm lipid máu trên mô hình chuột xơ vữa động mạch thực nghiệm với mức liều
tương đương 50 mg PLF/kg. Nồng độ cholesterol toàn phần, triglycerid và LDL-C
14
trong huyết thanh ở lô dùng thuốc thấp hơn so với lô bệnh lý, và HDL-C tăng so với
lô bệnh lý [50].
1.3.4.3.
Tác dụng chống viêm, chống dị ứng
Một số thành phần trong cao chiết lá hồng đã được chứng minh có tác dụng
ngăn chặn sự sản sinh các cytokine gây viêm trong các đại thực bào viêm RAW 264.7,
ngoài ra cũng đã ức chế mức COX-2 và mức mRNA của các cytokine tiền viêm, bao
gồm TNF-α, IL-1β, IL-6, và IL-12 [30].
Người ta đã báo cáo rằng dịch chiết lá hồng ức chế giải phóng histamine từ dòng
tế bào gốc cơ bản KU812 ở người để đáp ứng chéo với FcεRI (thụ thể ái tính cao với
IgE). Hơn nữa, khi uống dịch chiết, chuột viêm da giảm sự phát triển của viêm da,
giảm gãi, nồng độ IgE trong huyết thanh cao [32].
1.3.4.4.
Tác dụng kháng khuẩn
Nồng độ ức chế tối thiểu và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu của lá hồng được xác
định là 0,313 và 0,625 g/ml để chống lại sự hư hỏng của thực phẩm và các mầm bệnh
do thực phẩm gây ra (Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Fluorescence
pseudomonas, Bacillus subtilis, Bacillus cereus, Proteus Vulgaris) và tỷ lệ kháng
khuẩn là trên 90%. Cao chiết cồn và ethyl acetat từ lá hồng đã có hiệu quả đáng kể
chống lại 6 vi khuẩn trên. Cao chiết nước có hiệu quả với nấm hơn vi khuẩn. Chiết
xuất n-butanol có hiệu quả khác nhau chống lại vi khuẩn, nhưng không có tác dụng
đối với nấm. Gần đây, Arakawa và cộng sự đã chứng minh hoạt tính kháng khuẩn
của hồng là do tanin có trong cây [48].
Mẫu lá hồng thu hái tại Hà Nội chiết phân đoạn chloroform có tác dụng đối với
7 chủng vi khuẩn: E.coli, Salmonella typhi, Shigella flexneri, B.subtilis, B.cereus,
B.pumilus, S.aureus, trong đó tác dụng tốt nhất đối với chủng Shigella flexneri và
B.pumilus. Phân đoạn ethyl acetat có tác dụng với chủng Salmonella typhi, Shigella
flexneri, B.subtilis, B.pumilus, Proteus mirabilis, trong đó tác dụng mạnh với chủng
Shigella flexneri và B.pumilus. Đối với những chủng cả hai phân đoạn đều có tác
dụng, phân đoạn ethyl acetat cho thấy có tác dụng mạnh hơn [5].
15
1.3.4.5.
Tác dụng cải thiện đái tháo đường typ 2
Cao chiết bằng ethanol, ethyl acetat, n-butanol và nước từ lá hồng đã làm giảm
đáng kể lượng đường trong máu ở chuột bị tiểu đường, với chỉ số insulin giảm và chỉ
số nhạy cảm insulin tăng lên đáng kể [48].
1.3.4.6.
Tác dụng chống huyết khối
Chất có trọng lượng phân tử 10000 Dalton, không phải carbohydrat đã được
phân lập từ lá hồng. Chất này đã được chứng minh rằng có tác dụng chống đông máu
khi làm xét nghiệm APTT (Activated Partial Thromboplastin Time), thời gian
thrombin (TT) và thời gian prothrombin (PT) bằng huyết thanh người. TT đã được
kéo dài gấp 2 lần và gấp 3 lần giá trị chuẩn ở 5,3 và 13,1 µg chất được phân lập từ lá
hồng/ml. APTT và PT cần 27,0 và 30,0 µg chất được phân lập từ lá hồng/ml để đạt
được gấp đôi giá trị chuẩn. [45]
1.3.4.7.
Tác dụng chống oxy hóa
Nhiều nghiên cứu cho kết quả rằng cao chiết lá hồng có tác dụng dọn dẹp gốc
tự do và chống oxy hóa.
Lá hồng có vai trò phục hồi đối với stress oxy hoá gây ra do tia gamma và tổn
thương mô ở chuột, giảm malondialdehyde trong tế bào và tăng cường giải phóng
lactate dehydrogenase nội bào trong môi trường nuôi cấy và tăng hàm lượng của các
enzyme chống oxy hóa nội bào: catalase (CAT), glutathione peroxidase (GSH-Px),
glutathione (GSH) [9].
Nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của các flavonoid từ lá cây hồng trên tế bào
MC3T3-E1 với chất oxy hóa chuẩn rutin cho thấy tác dụng chống oxi hóa mạnh, có
khả năng dọn các anion superoxide và các hydroxid tự do ở mức vượt trội so với
rutin, khả năng dọn các gốc 1,1-diphenyl-picrylhydrazyl kém hơn so với rutin [34].
Tác dụng bảo vệ của flavonoid trong NXQ - cao chiết lá hồng chống lại sự tổn
thương do H2O2 gây ra cho tế bào thần kinh NG108-15 đã được chứng minh. Nghiên
cứu cho thấy, khả năng sống sót của tế bào giảm mạnh sau khi gây tổn thương bằng
16