Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Điều tra sâu hại quế ở vườn ươm và rừng trồng quế tại xã nậm tha huyện văn bàn tỉnh lào cai và đề xuất biện pháp phòng trừ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.31 MB, 61 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỲ CÁ CHỪ
ĐIỀU TRA SÂU HẠI QUẾ (Cinnamomum cassia Bl) Ở VƯỜN ƯƠM VÀ
RỪNG TRỒNG TẠI XÃ NẬM THA HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên nghành

: ST&BTĐDSH

Lớp:

: K46 - ST&BTĐDSH

Khoa

: Lâm Nghiệp

Khóa Học

: 2014 - 2018

Thái Nguyên - Tháng 5/2018




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỲ CÁ CHỪ
ĐIỀU TRA SÂU HẠI QUẾ (Cinnamomum cassia Bl) Ở VƯỜN ƯƠM VÀ
RỪNG TRỒNG TẠI XÃ NẬM THA HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên nghành

: ST&BTĐDSH

Lớp:

: K46 - ST&BTĐDSH

Khoa

: Lâm Nghiệp

Khóa Học


: 2014 - 2018

Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Công Hoan
TS. Vũ Văn Định

Thái Nguyên - Tháng 5/2018


i

LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên và được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Công Hoan và TS.
Vũ Văn Định em đã thực hiện đề tài “ Điều tra sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng
trồng Quế tại xã Nậm Tha huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai và đề xuất biện pháp
phòng trừ ”.
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên. Cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô là giảng viên tại
trường đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm thực tế để em chuẩn bị tốt tâm
lý cho đợt thực tập này. Em đặc biệt gửi lời cảm ơn đến TS. Vũ Văn Định – Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và TS. Nguyễn Công Hoan là thầy hướng dẫn khoa
học đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Trung tâm nghiên cứu Bảo vệ
rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp
nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho em hoàn thành công việc trong thời gian thực
tập.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Hợp tác xã Phương Thái đã tạo điều kiện thuận
lợi và đóng góp nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho em hoàn thành công việc
trong thời gian thực tập điều tra, thu mẫu sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng trồng

của các hộ nông dân và hợp tác xã Phương Thái.
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp K46 – Sinh thái &bảo tồn đa dạng
sinh học đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện
tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Lỳ Cá Chừ


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1.1: Danh lục thành phần sâu hại Quế ở vườn ươm tại xã Nậm Tha huyện
Văn Bàn tỉnh Lào Cai ..............................................................................32
Bảng 4.1.2: Danh lục thành phần sâu hại Quế ở rừng trồng tại xã Nậm Tha huyện
Văn Bàn tỉnh Lào Cai. .............................................................................34
Bảng 4.1.3 : Tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị hại tại huyện Văn Bàn .................................37


3

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1. Sâu đục thân Quế ......................................................................................37
Hình 4.2. Rừng Quế bị sâu hại ..................................................................................37
Hình 4.3. Sâu Róm ăn lá ...........................................................................................37
Hình 4.4: Dế hại cây ở Vườn ươm ............................................................................38
Hình 4.5: Thu mẫu sâu Quế ở vườn ươm .................................................................38
Hình 4.6: Rệp hại Quế ở vườn ươm ..........................................................................38
Hình 4.7. Sâu đo ăn lá Quế (Culcula panterinaria Bremer et Grey) ........................39

Hình 4.8. Sâu ăn lá Quế (Notodontidae) ...................................................................40
Hình 4.9: Bọ xít nâu sẫm hại Quế ở rừng trồng ........................................................43


4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
Chữ viết tắt/ký hiệu

Giải nghĩa đầy đủ

STT

Số thứ tự

BVTV

Bảo vệ thực vật

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

BNNPTNT

Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

TT-BNNPTNT

Thông tư – bộ nông nghiệp phát triển nông thôn


KNL

Khuyến nông lâm

UBND

Ủy ban nhân dân

BVTVLAOCAI.VN

Bảo vệ thực vật thực vật tỉnh Lào Cai ở Việt Nam

1ha

1 hecta = 10.000 m2



Mét vuông

%

Phần trăm

+

Mức độ hại nhẹ

++


Mức độ hại trung bình

TS

Tiến Sĩ

ST&BTĐDSH

Sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

K46

Khóa 46

ÔTC

Ô tiêu chuẩn


5

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................2
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ................................................................................... iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU ............................................... iv
MỤC LỤC...................................................................................................................v
PHẦN


1.

MỞ

ĐẦU

....................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ........................................................................2
1.2.1. Mục tiêu chung..........................................................................................2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể ..........................................................................................2
1.3. Tính mới của vấn đề nghiên cứu ......................................................................3
1.4. Ý nghĩa của đề tài.............................................................................................3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học.........................................3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn .............................................................................3
PHẦN
2.
TỔNG
QUAN
.........................................................................4

TÀI

LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ............................................................4
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ..................................................................4
2.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ...................................................................7
Theo cây công trình Hà Nội(2016)[2], cây quế - dược liệu quý, nhà xuất bản lâm
nghiệp – Hà Nội. .....................................................................................................7

2.4. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu .........................................................17
2.4.1. Vị trí địa lý ..............................................................................................17
2.4.2. Khí hậu, thời tiết......................................................................................17
2.4.3. Địa hình, sông, suối.................................................................................18
2.4.4. Tài nguyên thiên nhiên............................................................................20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....24
3.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................24
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu .................................................................24
3.3. Nội dung nghiên cứu .....................................................................................24


6

3.3.1: Điều tra xác định thành phần loài sâu và xác định loài sâu bệnh hại chính
trên cây Quế ở vườn ươm và rừng trồng...........................................................24
3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài sâu hại chính cây Quế ở vườn
ươm và rừng trồng.............................................................................................24
3.3.3: Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại chính cây Quế ở vườn ươm và
rừng trồng. .........................................................................................................25
3.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................25
3.4.1. Điều tra, thu mẫu các loài sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng trồng ........25
3.4.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài sâu hại chính cây Quế.........29
3.4.3. Phương pháp nội nghiệp .........................................................................30
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................................31
4.1. Kết quả điều tra, thu mẫu các loài sâu hại ở vườn ươm và rừng trồng Quế ..31
4.1.1. Kết quả điều tra, thu mẫu các loài sâu hại Quế tại vườn ươm ................31
4.1.2. Kết quả điều tra, thu mẫu các loài sâu hại tại rừng trồng Quế................33
4.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài sâu hại chính cây Quế ................38
4.2.1. Sâu đo ăn lá quế (Culcula panterinaria Bremer et Grey) ........................38
4.2.2. Sâu ăn lá quế: (Phalera flavescens Bremer et Grey) ...............................39

4.2.3. Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis zheng) ..................................41
4.3. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng trồng
Quế tại huyện Văn Bàn. ........................................................................................43
4.3.1. Biện pháp lâm sinh..................................................................................43
4.3.2. Biện pháp vật lý ......................................................................................44
4.3.3. Biện pháp sinh học ..................................................................................44
4.3.4. Biện pháp hóa học ...................................................................................44
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................46
5.1. Kết luận ..........................................................................................................46
5.2. Kiến nghị ........................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................48
PHỤ LỤC


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây quế (Cinnamomum cassia) thuộc họ Long não (Lauraceae) là cây đa tác
dụng, cây có thể cao 18 - 20m, đường kính đạt 10 - 45cm. Quế là cây phân bố rộng,
có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Quế thích hợp với
vùng núi cao, độ cao địa Hình ở đai cao từ 300 – 700m so với mặt biển. Vùng có
khí hậu mát ẩm, nhiệt độ bình quân năm từ 22 – 240C, lượng mưa bình quân năm
trên 2000mm, độ ẩm không khí trên 80%. Quế có thể trồng trên nhiều loại đất có
thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất dày, ẩm độ đất cao thoát
nước tốt ( Hoàng Cầu, 1993 ) [5].
Giá trị kinh tế cây quế khá cao và ổn định. Giá vỏ quế khô khoảng 35.000 40.000 đồng/kg; lá quế 1.500 đồng/kg; gỗ quế khoảng trên 1 triệu đồng/m3(Tất Đạt,
2017) [14].
Có đầu ra xuất khẩu ổn định ngoài ra cây Quế chống xói mòn, bảo vệ đất tốt

nên diện tích rừng Quế ở một số tỉnh có trồng Quế tập trung tăng lên.
Theo Kế Toại (31/10/2017)[7], cho biết thông tin từ chi cục Kiểm Lâm
tỉnh Lào Cai diện tích trồng Quế của toàn tỉnh 24.385,1 ha trong đó có 4 huyện
có diện tích trồng Quế lớn nhất như: huyên Bảo Thắng 4.122,2 ha, huyện Văn
Bàn 4.606,2 ha, huyện Bảo Yên 8.901,3 ha, huyện Bắc Hà 5.614,0 ha. Hiện cây
Quế đã khẳng định là một trong những cây trồng mũi nhọn, góp phần xóa đói,
giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào thuộc các huyện Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo
Thắng. Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai đã có quy hoạch mở rộng vùng trồng
Quế lên 25.000ha từ nay đến năm 2025 trong đó huyện Bảo Thắng 5500 ha,
huyện Văn Bàn lên tới 4400 ha, huyện Bảo Yên lên tới 7800 ha, huyện Bắc Hà
7300 ha, tổng diện tích tăng gấp 2,5 lần diện tích Quế hiện tại. Đến thời điểm
hiện tại đã có một số huyện có diện tích trồng Quế nhiều hơn so với quy hoạch
(huyện Bảo Yên) đã trồng được 8.901,3 ha và có nhiều huyện ngoài


2

vùng quy hoạch trồng Quế diện tích cũng tăng lên nhanh chóng như: huyện
Mường Khương diện tích 438,8 ha huyện Bát Xát 551,8 ha.
Trước sự gia tăng nhanh về mặt diện tích nên nhiều vườn ươm và rừng trồng
Quế của tỉnh Lào Cai đang đứng trước nguy cơ bị sâu bệnh hại tấn công. Điều tra và
phòng trừ sâu hại ở giai đoạn vườn ươm và rừng trồng là không thể thiếu được, nếu
thực hiện được vấn đề đó thì tổn thất do sâu hại gây ra sẽ giảm xuống một cách
đáng kể. Trên thực tế tổn thất do sâu hại gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các
tác hại tự nhiên khác. Sản xuất cây con các loài như thông, keo, quế, sa mộc đã có
rất nhiều sâu hại xảy ra, Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các thành phần sâu hại, xây
dựng danh lục và một số đặc điểm sinh học sâu hại Quế, từ đó đề xuất các biện pháp
phòng trừ sâu hại cho cây con ở vườn ươm và rừng trồng Quế là rất cần thiết.
Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng
rừng tại Lào Cai thì việc chăm sóc, điều tra xác định thành phần sâu hại, nghiên cứu

quá trình phát sinh, phát triển của sâu hại và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại
cây Quế giai đoạn vườn ươm và rừng trồng là không thể thiếu, vừa có ý nghĩa khoa
học và có ý nghĩa thực tiễn lớn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện
vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về sâu hại
cây Quế nói chung nên em tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra sâu hại Quế ở
vườn ươm và Rừng trồng Quế tại xã Nậm Tha huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
và đề xuất biện pháp phòng trừ” là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn
sản xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Xác định được danh mục sâu hại Quế và đề xuất được biện pháp phòng trừ
góp
phần nâng cao năng suất và chất lượng cây Quế ở giai đoạn vườn ươm và rừng trồng.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được các loài sâu hại chính ở vườn ươm và rừng trồng quế
- Xác định được thành phần sâu hại, tỷ lệ sâu hại, mức độ bị hại, yếu tố sinh
thái, điều kiện lập địa của vườn ươm, rừng Quế tại Lào Cai


3

- Xác định được một số đặc điểm sinh học của sâu hại ở vườn ươm và rừng
trồng Quế
- Đề xuất được một số giải pháp phòng trừ sâu hại Quế phù hợp cho địa
phương nhằm bảo vệ và phát triển các cây Quế.
1.3. Tính mới của vấn đề nghiên cứu
Trên địa bản tỉnh Lào Cai chưa có công trình nào nghiên cứu bài bản có hệ
thống về sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng trồng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu Khoa học
- Giúp sinh viên có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế. Biết cách thu thập,
phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng
thôn bản và người dân.
- Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng
bước vào cuộc sống sau này.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Có danh mục sâu hại Quế giúp các tổ chức cá nhân trồng Quế nhận biết và
phát hiện sâu hại sớm.
- Bước đầu đề xuất được biện pháp phòng trừ nhằm giảm thiệt hại do sâu hại
Quế gây ra, nâng cao năng xuất và chất lượng cây Quế ở giai đoạn vườn ươm và
rừng trồng.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phòng trừ
và đề xuất các biện pháp phòng trừ và kết hợp hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng với
hiệu quả bảo vệ môi trường.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Cây Quế (Cinnamomum cassia blunne) là cây đa tác dụng, được trồng ở Yên
Bái, Lào Cai, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Quảng Nam… Vỏ quế có vị cay, hương
thơm, có nhiều công dụng trong thuốc đông y và có giá trị cao cho xuất khẩu. Thân,
rễ cây quế có thể lấy vỏ, lá quế và các bộ phận khác đều có thể trưng cất tinh dầu,
gỗ quế có thể dùng làm gỗ trụ mỏ và các đồ gia dụng khác. Vì thế cây quế được
đánh giá cao về khả năng mang lại lợi ích kinh tế cũng như đáp ứng được yêu cầu
phòng hộ, bảo vệ sinh thái môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của nó,
người dân trong vùng đẩy mạnh trồng quế để tăng thu nhập, giải quyết một phần lao

động dư thừa, tạo công ăn việc làm góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo.
Theo Hà Chu Chừ (2009)[3], kỹ thuật trồng cây quế.
Để đảm bảo khai thác quế theo hướng bền vững vừa đảm bảo lợi ích kinh tế
vừa giữ được môi trường sinh thái nhiều doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân và hộ gia
đình đã mạnh dạn đầu tư, nghiên cứu cũng như tìm thị trường lâu dài cho cây quế.
Hiện nay ở miền núi có nhiều hộ gia đình và nhiều Lâm trường tham gia trồng
quế, mang lại nguồn thu đáng kể cho nhiều hộ gia đình. Cây quế đã cung cấp nhiều
mặt hàng cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về cây Quế
Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền
Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan
và Việt Nam). Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-15 cm. Trong
các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu.
Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín
chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt
hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh,


5

rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả
năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc.
+ Đặc điểm sinh thái học:

Quế C. tamala phân bố ở hầu hết các vùng

Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ
cao 2000m. Quế C. tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của
Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia.

CRS.PRESS.2004).
Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m. Trung tâm trồng
Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m. Một biến chủng của loài này có lá
non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci).
Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi
Quế Korintji (cinnamom and cassia. CRS.PRESS.2004).
+ Kỹ thuật gây trồng: Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công
cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m.
Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi. Khi cây 8 – 10 tuổi
được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến
tháng 3 năm sau. Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với
cây già và yếu. Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán.
Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm. Trồng teijat là một bộ phận trong hệ
thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (cinnamom and cassia. CRS.PRESS.2004).
Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng. Ngoài chăm sóc về lâm
sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây. Phân bón được
khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây,
nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akahil Baruah và Subhan C.
Nath, 2004).
- Giá trị sử dụng
Dầu quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước.
Các thành phần hóa học chính của dầu quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl
acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol.


6

Các đặc tính chữa bệnh của dầu quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống
vi khuẩn và chống nôn. Dầu quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh, cúm, sốt,
viêm khớp và thấp khớp…( />Quế vỏ được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm (ướp thịt,

cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát). Tinh dầu từ vỏ và lá được sử
dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm. Tại các nước châu Âu,
tinh dầu từ vỏ quế quan được dùng để uống với chè vì nó có đặc tính kích thích và
diệt khuẩn.
Ngoài tinh dầu trong vỏ quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein,
pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng. Tinh dầu lá quế thành phần chính là
eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có
hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β-caryophyllen, (E)-cinnamic
aldehyd, benzyl benzoat…. Do có hàm lượng eugenol cao, nên tinh dầu lá quế quan
được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin.
Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại
Ấn Độ và Sri Lanka.
Nghiên cứu về sâu hại Quế
Theo Johns và cộng sự (1961)[19], đã nghiên cứu và phát hiện 3 loài sâu gây
hại chính cho quế ở miền Bắc nước Mỹ như: Sâu cuốn lá (Homona coficaria Niet),
Sâu róm quế (Dasvchira mendose Nunb), Sâu ăn lá (Attacus atlas L).
Theo Boror và cộng sự (1976)[17], đã công bố một số loài sâu gây hại quế như
loài Bọ rầy (Pauropsylla depressa) chích hút chồi non gây ra các u bướu trên ngọn
chồi. Rệp sáp (Linsoma stellifera Westw) chích hút gây úa vàng lá. Sâu non sâu vẽ
bùa (Phyllocnistic chrysophthaline) đào những đường hầm trong lá quế ảnh hưởng
đến quá trình quang hợp của lá.
Sâu hại Quế có rất nhiều công trình công bố trên thế giới, ở Ấn Độ, Mỹ…đã
phát hiện sâu hại Quế như: (Bọ rầy Pauropsylla depressa Crawfood chích hút trên
chồi non gây các u bướu trên ngọn chồi; Rệp sáp Linsoma stellifera Westw chích
hút gây ú vàng lá; Sâu vẽ bùa Phyllocnistis chrysophthaline, sâu non đào những
đường hầm trong lá Quế ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của bộ lá; Sâu cuốn lá


7


Homona coficaria Niet, Sâu róm Quế Dasvchira mendose Nunb, Sâu ăn lá Attacus
atlas l.
Biện pháp phòng trừ sâu hại quế
Theo Singh và cộng sự (1978)[20], phòng trừ loài sâu hại lá, chồi Orthaga
vitialis và sâu ăn lá Euproctis fraterna thì cần thiết phải kiểm tra cắt tỉa các cụm
chồi Quế bị sâu hại là biện pháp phòng trừ chủ yếu và phun thuốc trừ sâu Carbaryl
(0.1%), hoặc Quinalphos (0.05%) hoặc Endosulphan (0.05%), từ đó có thể kiểm
soát sâu hại trên cây Quế, việc phun thuốc được lặp lại trong khoảng 10-12 ngày
hiệu quả đạt cao hơn.
Theo Devashayam và cộng sự (1993)[18], chỉ ra rằng sâu đục lá
Conopomorpha civica đã gây hại cho 20,2% số cây Quế tuổi nhỏ ở Kerala, Ấn Độ
và phòng trừ loài sâu này bằng cách phun thuốc trừ sâu Quinalphos 0,05% ngay khi
chúng vừa xuất hiện mới có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự xâm nhập.
2.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo cây công trình Hà Nội(2016)[2], cây quế - dược liệu quý, nhà xuất bản
lâm nghiệp – Hà Nội.
Đặc điểm hình thái: Quế là cây gỗ, thường xanh, cao 10-20m, đường kính
thân 25-40(-70)cm; vỏ dày, nhẵn ở cây non, sần sùi ở cây già và có màu nâu xám.
Các chồi non có lông màu nâu. Lá mọc so le hoặc gần như đối; phiến lá đơn,
nguyên, hình trái xoan thuôn, dài; kích thước 8-25x4¬8,5cm; gốc thuôn; đầu nhọn;
mặt trên màu xanh lục sẫm, nhẵn, bóng; mặt dưới màu xám tro, hơi có lông mịn lúc
còn non; gân chính 3, hình cung, nổi rõ ở mặt dưới; gân phụ nhiều, song song;
cuống lá to, dài 1,5-2cm, mặt trên có rãnh lòng máng.
Cụm hoa dạng chuỳ, mọc ở kẽ lá gần đầu cành, dài 7¬15(-18)cm. Hoa nhỏ; có
lông mịn, màu trắng hoặc vàng nhạt. Bao hoa gồm 6 thùy gần bằng nhau, màu
trắng, mặt ngoài có lông mịn.
Quả hạch hình trái xoan hay hình trứng, dài 1-1,5cm, được bao bọc bởi đài tồn
tại; khi chín màu đen hoặc tía đậm. Hạt hình trứng, dài 1cm, màu nâu đậm và có
những sọc nhạt.



8

Hình 2.3. Cây, vỏ, và hoa, quả, hạt Quế
Phân bố: Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào
Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Bà Rịa-Vũng Tàu.
Trong đó có 4 vùng trồng Quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá Nghệ An và Quảng Nam - Quảng Ngãi.
Đặc điểm sinh học: Cây sinh trưởng trong rừng nhiệt đới, ẩm thường xanh, ở
độ cao dưới 800m.
Quế là cây gỗ ưa sáng, nhưng ở giai đoạn còn non (1-5 năm tuổi) cây cần được
che bóng. Khi trưởng thành cây cần được chiếu sáng đầy đủ. Ánh sáng càng nhiều,
cây sinh trưởng càng nhanh và chất lượng tinh dầu càng cao. Quế ưa khí hậu nóng
ẩm. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của Quế là 20-250C. Tuy
nhiên Quế vẫn có thể chịu được điều kiện nhiệt độ thấp (lạnh tới 10C hoặc 00C)
hoặc nhiệt độ cao tối đa tới 37-380C. Lượng mưa hàng năm ở các địa phương trồng
Quế thường vào khoảng 1.600-2.500mm.
Quế có thể mọc được trên nhiều loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau (sa
thạch, phiến thạch…), đất ẩm nhiều mùn, tơi xốp; đất đỏ, vàng, đất cát pha; đất đồi
núi, chua (pH 4-6), nghèo dinh dưỡng, nhưng thoát nước tốt.
Quế có hệ rễ phát triển mạnh, rễ trụ ăn sâu vào đất và cây có tốc độ tăng
trưởng tương đối nhanh. Tại vùng đồi núi A Lưới (Quảng Trị), cây trồng từ hạt đến
giai đoạn 3,5 năm tuổi đã đạt chiều cao trung bình 2,2m (tối đa 2,7m). Cây 9 năm


9

tuổi có chiều cao trung bình 6,9-7,0m với đường kính thân trung bình 20-21cm. Quế
có khả năng tái sinh chồi từ gốc khá mạnh. Trong sản xuất, sau khi chặt cây thu vỏ,
từ gốc sẽ sinh nhiều chồi non. Có thể để lại một chồi và tiếp tục chăm sóc để sau này

lại cho thu hoạch vỏ. Mùa hoa tháng 4-8, mùa quả tháng 10-12 hoặc tháng 1-2 năm
sau.
Thành phần hoá học: Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế khá cao (1,0-4,0%),
còn trong lá và cành non thường thấp (0,3-0,8%). Tinh dầu từ vỏ có màu vàng nâu
nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nước; với thành phần chính là (E)cinnamaldehyd (70-95%); ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác. Tinh dầu từ lá
Quế thường có màu nâu đậm và thành phần chủ yếu cũng là(E)¬cinnamaldehyd
(60-90%). Hàm lượng (E)-cinnamaldehyd quyết định chất lượng của tinh dầu quế.
Tinh dầu Quế thương phẩm trên thị trường thế giới đòi hỏi hàm lượng (E)cinnamaldehyd trong khoảng 75-95% (ISO: >80% (E)-cinnamaldehyd). Ngoài tinh
dầu, trong vỏ Quế còn chứa tanin, chất nhựa, đường, calci oxalat, coumarin và chất
nhầy.
Công dụng: Bột và tinh dầu Quế được dùng rất rộng rãi để chế biến thực
phẩm trong công nghiệp cũng như trong từng gia đình. Tây y coi vỏ Quế và tinh dầu
Quế là loại thuốc có tác dụng kích thích tăng khả năng tuần hoàn hô hấp, tăng nhu
động ruột, tiêu hoá, bài tiết, gây co bóp tử cung, kích thích, miễn dịch, giãn mạch,
kháng histamin và kháng khuẩn mạnh. Trong y học ở nước ta và Trung Quốc, Quế
được dùng làm thuốc cấp cứu bệnh do hàn, hôn mê, mạch chậm nhỏ, đau bụng,
chữa chứng tiêu hoá kém, tả lỵ, tiểu tiện khó khăn, đau lưng, mỏi gối, chân tay co
quắp, ho hen, bế kinh, ung thư, rắn cắn…
Những lợi ích từ cây Quế đối với cơ thể
- Quế có thể làm nên điều thần kỳ đối với sức khỏe của chúng ta, vì thế chúng
tôi nghĩ rằng bạn cần phải biết một vài điều cần thiết về lợi ích mà nó mang lại, hãy
cùng xem.
Quế có thể làm "ảo thuật" bên trong và bên ngoài cơ thể của chúng ta, vì thế
các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên bổ sung nó vào thực phẩm hàng ngày
như là món atpic (thịt đông kho trứng), nhưng với một tỷ lệ rất nhỏ. Với một khối
lượng thực phẩm rất lớn như thịt, bánh ngọt và các món tráng miệng, Quế có thể


10


hoạt động như là một chất bảo quản trong thời gian dài, ngoài ra mùi hương của nó
cũng rất tuyệt vời.
Quế có hoạt động chống oxy hóa cực kỳ cao, tinh dầu của nó có chất chống
khuẩn và chống nấm mạnh mẽ. Quế cũng là nguồn cung cấp chất xơ, mangan, sắt
và canxi tuyệt vời. Và vì vậy, Quế được sử dụng như một biện pháp khắc phục hiệu
quả cho các mục đích sau:
• Giảm lượng đường trong máu và điều trị bệnh tiểu đường loại 2.
• Giảm cholesterol.
• Trợ giúp tiêu hóa.
• Điều trị tiêu chảy.
• Chữa cảm lạnh thông thường.
• Giảm đau viêm khớp.
• Điều trị đau răng.
• Loại bỏ hơi thở hôi.
Quế giúp kiểm soát lượng đường trong máu, rất tốt trong việc điều trị bệnh
tiểu đường type 2, theo một nghiên cứu đã được đưa ra cách đây vài năm, người ta
phân những người bị bệnh tiêu đường thành các nhóm để sử dụng quế, có thể là 1,3
hoặc 6 gram Quế mỗi ngày dưới dạng viên nang. Kết quả cho thấy tất cả 3 nhóm sử
dụng viên nang này đã giảm khoảng 18 – 29% lượng đường trong máu sau 40 ngày
sử dụng.
Quế giúp duy trì mức độ nhạy cảm insulin vì nó không chỉ kiểm soát lượng
đường trong máu mà còn giúp cơ thể sản sinh ít insulin hơn. Điều này rất là tốt vì
mức độ insulin cao có nghĩa tăng thêm trọng lượng cơ thể.
Nó là một chất chống oxy hóa cực mạnh như chúng ta đã biết ở trên và nó có
thể giúp bạn giữ nét trẻ trung lâu hơn. Ngoài ra Quế cũng có thể giúp bạn giữ dáng
gọn gàng hơn, vì nó làm hòa tan chất béo trong các tế bào.
Khi mua bột Quế hay lăc bột Quế trong lọ, bạn phải cẩn thận, nó sẽ tạo ra rất
nhiều đường và có thể phá vỡ kế hoạch giảm cân của bạn, vì thế hãy sử dụng một
cách khéo léo.



11

Khi quyết định sử dụng nó hàng ngày, hãy thử tìm kiếm loại Quế hữu cơ
không có đường hoặc thậm chí có thể sử dụng túi trà Quế hàng ngày.
Quế có thể giúp giảm cân bằng cách thêm Quế vào trong sữa chua, pho mát,
bột yến mạch, khoai lang, rau hoặc bất cứ thứ gì, nhưng với số lượng nhỏ để tránh
số tiền nhỏ để tránh các chỉ định về lượng đường trong máu.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Theo Hà Chu Chừ (2009)[3], kỹ thuật trồng cây quế có thể nhân giống Quế
bằng hạt hoặc bằng các biện pháp giâm cành, chiết cành. Song hiện nay, người ta
vẫn nhân giống bằng hạt là chính.
Nhân giống bằng hạt: Hạt giống cần lấy từ những cây mẹ 15-25 năm tuổi, sinh
trưởng khoẻ, tán lá đều, quả mập và sai, vỏ dày, chất lượng tốt. Cần chọn những quả
đã chín khoảng 1/3, lúc này vỏđã chuyển từ màu xanh sang màu tím than và mềm.
Quả thu hái về cần ủ 2-3 ngày cho chín đều, sau đó cho vào nước chà xát, loại bỏ vỏ
và thịt quả, đãi lấy những hạt chắc. Hạt Quế chứa dầu béo và mất sức nẩy mầm rất
nhanh. Do đó cần gieo ngay sau khi thu hái. Nếu chưa gieo ngay, phải bảo quản
trong cát ẩm và thời gian bảo quản không quá 2 tuần. Hạt tươi được gieo ngay sau
khi thu hoạch, tỷ lệ nẩy mầm đạt 80-90%. Hạt đã qua thời gian bảo quản, tỷ lệ nẩy
mầm sẽ giảm xuống rất nhanh. Trước khi gieo cần ngâm hạt trong nước muối loãng
hoặc thuốc tím (1%) và giữở nhiệt độ 40-600C trong một vài giờ. Đây là biện pháp
xử lý hạt rất tốt; vừa có tác dụng diệt mầm gây bệnh, vừa kích thích hạt nẩy mầm
nhanh và tỷ lệ hạt nẩy mầm cũng tăng.
Cần ủ cho hạt nứt nanh rồi đem gieo theo rạch trên luống trong vườn ươm
hoặc trong các bầu đất đã được chuẩn bị sẵn. Hạt gieo cần vùi sâu trong đất khoảng
1,5-2cm với khoảng cách 20x20cm và làm giàn che với độ che phủ khoảng 50%.
Bầu đất để gieo hạt có thể là sọt đan bằng tre, nứa hoặc bằng túi polyethylen có kích
thước khoảng 12-13x6-7cm. Thành phần giá thể trong bầu đất bao gồm 85-89% đất,
10-15% phân chuồng đã ủ mục và 1% supe lân. Bầu đất cũng được xếp thành luống

dưới giàn che như khi gieo trên đất. Hạt nẩy mầm sau khi gieo khoảng 2 tuần. Khi
cây con được 4-5 tháng tuổi cần bón thúc bằng phân vô cơ. Tuỳ từng trường hợp,


12

mà sử dụng lượng phân bón thích hợp. Có thể bón theo tỷ lệ 2:2:1 (30g amoni sulfat
+ 40g supe lân + 10g kali clorua) hoặc 3:3:1 (45g amoni sulfat + 60g supe lân + 10g
kali clorua); hoà vào nước tưới cho 1m2. Cần làm sạch cỏ và giữẩm thường
xuyên. Khi cây con đạt độ cao 25-30cm cần dỡ bỏ dần giàn che. Đến giai đoạn
1-2 năm tuổi có thể chuyên cây con ra trồng. Với cây gieo trên luống có thể bứng
cả đất hoặc nhổ cây lên, cắt bớt rễ cọc, nhúng vào dung dịch phân bón loãng một
đêm rồi đem trồng.
Nhân giống sinh dưỡng: Các thử nghiệm giâm cành, chiết cành cũng cho kết
quả rất khả quan. Hom giống cần lấy từ những cành bánh tẻở các cá thể non (3-6
năm tuổi), mỗi hom để lại một đôi lá, trước khi giâm xử lý các chất kích thích sinh
trưởng thì tỷ lệ ra rễ và nẩy chồi cao. Cần cắm cành giâm vào cát sạch ẩm, có mái
che ánh sáng và được phun sương. Khi cành giâm đã ra rễ, cho vào bầu đất và
chuyển dần ra ánh sáng để kích thích sự nẩy chồi. Với cành chiết, cần chọn cành có
đường kính khoảng 1,5-2cm, mọc thẳng. Thường chiết vào tháng 8-9 đến tháng 2-3
năm sau có thể cắt đi trồng.
Cũng có thể chọn các chồi mọc từ rễ (ở những gốc đã khai thác), tách lấy cả
đoạn rễ mang đi trồng. Nhân giống bằng biện pháp sinh dưỡng hệ số nhân giống
thấp, nhưng lại duy trì được những đặc tính tốt của cây mẹ. Đây là biện pháp tích
cực để bảo tồn và phát triển nguồn gen quý.
Trồng và chăm sóc
Nên trồng Quế trên các sườn dốc không quá 35%, có lớp đất mặt dày, tơi xốp,
nhiều mùn, độ pH: 4-5, được chiếu sáng nhiều và khuất gió với độ cao 300-700m (ở
phía Bắc) hoặc 1.000¬1.500m (ở vùng núi Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi).
Thời vụ trồng tốt nhất là vào mùa xuân (ở phía Bắc) hoặc đầu mùa mưa (ở

phía Nam). Đồng bào Dao (Yên Bái) trồng Quế chủ yếu vào mùa xuân (ngay sau
Tết Nguyên Đán). Đồng bào Cà Tu, Kor (Quảng Nam, Quảng Ngãi) trồng Quế vào
các tháng 9, 10 vừa để tránh nắng nóng của mùa hè, vừa đón đầu mùa mưa.
Khi trồng, cần đào hố kích thước 30x30x30cm và bón lót phân hữu cơ đã ủ
với supe lân. Tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai mà bố trí mật độ trồng thích hợp. Có


13

thể trồng thuần loại theo khoảng cách 2x2m hoặc 1x1m, sau đó tỉa thưa dần. Ở một
số nơi, đồng bào trồng xen Quế với mía, sắn, chè để tận dụng đất và tăng thu nhập
trong thời gian đầu.
Trong những năm đầu, cần làm cỏ và tạo cây che bóng cho quế, sau đó loại bỏ
dần. Hàng năm cần chặt bỏ các cành thấp, phát quang dây leo, cây bụi và bón bổ
sung thêm phân NPK (khoảng từ 40-100kg/ha; tuỳ thuộc vào tuổi cây và điều kiện
đất đai). Cũng có thể sử dụng một số loài cây họ Đậu (như Cốt khí – Tephrosia
candida) để làm cây che bóng, phủ đất và cải tạo đất trong vài ba năm đầu.
Một số loại sâu hại như Chilasa clytia, Acrocercops spp., Sorolopha
archimedias và Gryllotalpa spp. cũng gây hại trên các cây Quế non.
Đất trồng Quế thích hợp là đất tốt, đủ ẩm quanh năm, giàu mùn đạm và chứa
chất dinh dưỡng khác. Đất có thành phần cơ giới sét pha trung bình đến sét, có chất
lượng tốt tầng dầy ít đá ẩm và kết vón, thấm và thoát nước tốt.
Không trồng Quế trên các loại đất cát pha, đất phát triển trên đá vôi và đất
thoát nước kém, mực nước ngầm nông và tầng đất mỏng. Thảm thực vật bì thích
hợp cho đất trồng Quế là đất có cây bụi cao ưa ẩm và đất có cây bụi cao trung bình
chịu hạn (đất này có thể trồng Quế nhưng cho năng suất không cao).
Chú ý: Không nên trồng Quế trên đất có thực bì cây bụi như sim, mua, trảng
cỏ, vì nơi đây là biểu hiện cho đất đá bị thoái hoá mạnh.
Cách trồng: Do đặc tính sinh học của cây Quế lúc non ưu bóng râm (độ tàn
che 0,5 – 0,7), do vậy, trồng rừng Quế nên theo phương thức xen cây nông nghiệp

trong 3 năm đầu như trồng sắn sẽ tạo ra độ tán che tối thiểu cho Quế và cây đạt tỷ là
sống khá cao.
Chuẩn bị đất
Phát thực bì vào tháng 12, dọn vào tháng 2-3 dương lịch. Trồng Quế vào vụ
Xuân bằng cây con gieo vào bầu. Đào hố trước khi trồng một tháng với kích thước
40 x 40 x 40cm. Mật độ trồng Quế 5.000- 10.000 cây/ha (1m x1m). Lấp hố trước
khi trồng 15 ngày - 1tháng.


14

Cây Quế con trước khi trồng cần được tưới đủ nước. Chọn cây không có đọt
non, thân thẳng, không bị vỡ bầu khi vận chuyển để trồng. Cách trồng cũng giống
như trồng các loại cây gieo trong bầu khác. Nên trồng Quế với mật độ dày để hạn
chế Quế phát triển cành nhánh, thân thẳng và chất lượng vỏ Quế cao hơn.
Sau khi trồng một tháng kết hợp với chăm sóc lần đầu, chuẩn bị để trồng xen
sắn (vào tháng 3-4). Sang năm thứ hai, tiếp tục xen sắn với quế, trồng sắn vào tháng
thứ 3-4, mật độ trồng 5000-7000 cây/ha. Trong mùa mưa làm cỏ,vun gốc cho sắn 2
lần kết hợp với chăm sóc quế. Những cây Quế 2 tuổi luôn nằm dưới tán lá của cây
sắn trong thời kỳ nắng gắt. Để sắn lưu 2 năm mới thu hoạch, sẽ tạo tán che cho rừng
Quế 3 tuổi . Đến năm thứ 4 không cần phải trồng xen với cây nông nghiệp. Giai
đoạn này rừng Quế đã khép tán và phát triển thành rừng Quế thuần loại.
Chú ý:
Trong quá trình chăm sóc quế, cần lưu ý để lại các cây gỗ tái sinh có giá trị
kinh tế, các loài tre nứa, vầu tái sinh kể cả các loại cây dược liệu thân thảo chịu
bóng nhằm tạo thành rừng Quế hỗn hợp nhiều loại, có kết cấu nhiều tầng cây, tăng
thêm khả năng phòng hộ bảo vệ đất của rừng Quế và thu nhiều loại sản phẩm hơn
cho người dân.
Tỉa thưa
Rừng Quế 7-8 tuổi đạt D>9cm và chiều cao H>7m, tiến hành tỉa thưa lần đầu.

Nếu mật độ trồng 500 cây/ha (1 m x 2m) chặt tỉa thưa 2500 cây/ha (cự ly 2m x 2m).
Sản phẩm thu được là Quế loại 2 và Quế cành để cất tinh dầu và gỗ nhỏ.
Rừng Quế đến tuổi 15 - 16 thì tỉa thưa 2 lần. Cây Quế lúc này có D>16 cm
H=l lm. Mật độ còn lại 1250 cây/ha, khoảng cách 4m.
Trong quá trình tỉa thưa rừng quế, không chặt các cây bị chèn ép và tụt tán như
kỹ thuật tỉa thưa rừng trồng thông thường, mà tiến hành chặt các cây Quế to, sinh
trưởng khoẻ, tán lá rậm, để giải phóng không gian dinh dưỡng cần thiết cho các cây
Quế bị chèn ánh sáng. Sau 2-3 năm tỉa thưa, các cây Quế này (cây Quế bị chèn ép)
sẽ tốt. Đây là đặc tính riêng biệt của cây quế.


15

Chặt chính: Nếu sản xuất vỏ Quế “cán dao” (loại II) với gỗ nhỏ thì có thể khai
thác trắng rừng Quế ở tuổi 14-15. Sau đó kinh doanh rừng chồi ở luân kỳ II.
Nếu sản xuất Quế loại I và gỗ lớn có thể khai thác trắng rừng Quế ở tuổi 2530. Trong quá trình tỉa thưa và khai thác rừng Quế cần chú ý bảo vệ môi trường.
Nên tận dụng các chồi, cành và lá Quế để cất tinh dầu. Trong những năm đầu trồng
Quế cần chú ý không cho gia súc phá hoại. Phải phòng chống cháy rừng.
Khí hậu
Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều, vì vậy
các vùng có Quế mọc tự nhiên ở nước ta là vùng có: – Lượng mưa cao từ 2000 –
4000 mm/năm; lượng mưa thích hợp nhất 2000 – 3000mm/năm. Lượng mưa hàng
năm ở các địa phương trồng Quế ở nước ta thường vào khoảng 1.600 – 2.500mm. –
Quế ưa khí hậu nóng ẩm. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của Quế
là 20 – 25C. – Tuy nhiên Quế vẫn có thể chịu được điều kiện nhiệt độ thấp (lạnh tới
10 C hoặc 00 C) hoặc nhiệt độ cao tối đa tới 37 – 38C – Nhiệt độ bình quân hàng
năm từ 20 – 29C – Độ ẩm không khí trên 85%.
Nghiên cứu về sâu hại Quế
Theo Trần Văn Mão (1999)[15], thì có một số loài sâu hại Quế là: Tằm ăn lá
(Attacus alfa Linn); Sâu róm (Dasychira mendosa Hueb); Sâu đục thân (Zeuzera

cofeae Niel); Sâu đo (Biston magiata Shiraki) phát hiện tại Yên Bái, Thanh Hóa và
Quảng Nam; Bọ dừa nâu (Adoretus ps); Sâu róm (Creatonotus gangis Linn); Sâu ăn
lá (Crienla trifenestra); Sâu cuốn lá (Ancylis sp); Sâu đục chồi (Cophopropra sp).
Theo Phạm Quang Thu (2016)[11], điều tra thành phần loài sinh vật hại Quế
tại 2 tỉnh Yên Bái và Quảng Nam. Kết quả thu được 63 loài của động vật gây hại
gồm lớp côn trùng có 60 loài thuộc 6 bộ (bộ cánh cứng có 12 loài, thuộc 7 họ; bộ
cánh nửa có 6 loài, thuộc 5 họ; bộ cánh đều 12 loài, thuộc 6 họ; bộ cánh bằng có 2
loài, thuộc 1 họ; bộ cánh vẩy có 25 loài, thuộc 15 họ; bộ cánh thẳng có 7 loài, thuộc
4 họ), lớp chân bụng có 3 loài.
Trong những năm gần đây rừng trồng Quế ở Lào Cai đã từng bị dịch sâu đo ăn
lá Quế vào năm 2014-2015 tại Xã Phú Nhuận huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai. Sâu


16

đo ăn trụi lá Quế trông như cây chết. Sâu hại làm giảm sinh trưởng của rừng Quế
và làm cây suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho những loài sâu hại thứ cấp xâm
nhập, phá hoại. Sâu đo có tên khoa học (Hyposidra talaca Walker) thuộc họ sâu
đo (Geometridae), bộ cánh vẩy (Lepidoptera). - Hình thái: Sâu trưởng thành, thân
dài 18 - 20mm, sải cánh rộng 72 - 75mm, cánh trước có đốm vân màu xanh nhạt,
giữa cánh có đốm lửa trong suốt, cánh sau màu nâu xám, đầu hình sợi chỉ, bụng
nhọn gần về cuối.
Nghiên cứu biện pháp phòng trừ:
Võ Duy Loan (2014)[16], đã có khuyến cáo có thể sử dụng 4 loại thuốc
Regent 800 WG, Padan 95SP, Nurelle*D 25/2,5EC, Karate 2,5 EC đều có hiệu lực
cao đối với sâu đục đọt.
Phạm Thanh Long (2012)[12], đã sử dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh
tổng hợp (IPM) hại Quế Cinnamomum cassia tại khu vực trồng Quế trọng điểm
huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, đã thử nghiệm các biện pháp phòng trừ cụ thể như:
đối với (1) Sâu đục sùi vỏ Quế sử dụng thuốc Tasodant 600EC, Rigell 800WG,

Oncol 25 WP, có hiệu lực phòng trừ cao, đạt trên 90%. (2) Sâu ăn lá sử dụng thuốc
Tasodant 600EC, Rigell 800WG, Oncol 25 WP, có hiệu lực phòng trừ cao, đạt trên
90%. (3) Sâu đục chồi ngọn sử dụng thuốc Tasodant 600EC, Rigell 800WG, Oncol
25 WP, có hiệu lực phòng trừ cao, từ 76,9 - 80,6%. (4) Sâu đục thân cành sử dụng
thuốc Oncol 25 WP, có hiệu lực phòng trừ đạt 40,7%.
Hà Công Tuấn và cộng sự (2006)[4], có đề cập các biện pháp phòng trừ sâu
hại phổ biến cho cây Quế như sau: Phòng trừ sâu đục thân cành Arbela bailbarama
bằng cách tập trung phát dọn thực bì, chặt những cây bị sâu hại, cuốc xung quanh
gốc cây vào mùa xuân để giết nhộng. Dùng tay mây móc sâu non. Phun thuốc
Rogor 1% vào lỗ đục rồi bịt bộn lại. Phun thuốc sữa Dipterex nồng độ 0,2%. Đối
với sâu đo ăn lá Quế Culcula panterin dùng bẫy đèn hoặc bẫy sâu non vào sáng
sớm. Cuối thu đảo đất bắt nhộng. có thể dùng một số loại thuốc diệt như Ofatox 40
EC; Fax tax 25EC liều lượng 600 lít dung dịch/ha. Bọ xít nâu sẫm Pseudodoniella
chinensis bắt giết bọ xít khi mới nở còn sống tập trung, ngắt cành trứng bọ xít.


17

2.4. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.4.1. Vị trí địa lý
Theo Huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai - Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai
(2018)[6], phần giới thiệu về huyện Văn Bàn.
Huyện Văn Bàn nằm phía Đông Nam của tỉnh Lào Cai với diện tích tự nhiên
143.927 ha, chiếm 17,86% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong tọa độ địa lý từ
21057’ đến 22017’ vĩ độ Bắc và 103057' đến 104030' kinh độ Đông.
- Phía Đông giáp huyện Bảo Yên.
- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu.
- Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Yên Bái.
- Phía Bắc giáp huyện Bảo Thắng và huyện Sa Pa.
Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính (22 xã và 1 thị trấn)

2.4.2. Khí hậu, thời tiết
Văn Bàn nằm trong vành đai Á nhiệt đới Bắc bán cầu nên khí hậu mang tính
chất nhiệt đới gió mùa và chia là 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa chịu ảnh hưởng nhiều của
gió Tây Nam (gió Lào) thường nắng, nóng, mưa nhiều, kéo dài từ tháng 4 đến tháng
10; mùa khô lạnh, ít mưa, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau.
* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 22,90C, mùa mưa nhiệt độ trung bình 20
- 250C, cao nhất vào tháng 7 (28 - 320C), mùa khô nhiệt độ trung bình 10 - 120C,
thấp nhất vào tháng 1 (8 - 120C). Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 390C, nhiệt độ thấp tuyệt
đối 30C. Tổng tích ôn trung bình năm khoảng 7.500 - 80000C.
* Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm biến động trong khoảng 1.400 1.470 giờ. Số ngày nắng, giờ nắng phân bố không đều giữa các tháng trong năm,
mùa hè số giờ nắng nhiều, cao nhất là tháng 5 có số giờ nắng trung bình 180 - 200
giờ, tháng 2 số giờ nắng ít nhất trung bình 30 - 40 giờ.
* Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm là 86% và có sự chênh lệch khá
lớn giữa các mùa trong năm. Độ ẩm không khí thấp nhất vào tháng 12 khoảng 65%
- 75% và cao nhất vào tháng 7 khoảng 80% - 90%.
* Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 1.500 mm, phân
bố không đều giữa các tháng trong năm và chịu ảnh hưởng rõ nét của yếu tố địa


×