PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO PHÙ NINH
TRƯỜNG THCS phó léc
--------
DỰ ÁN
DIỆT RUỒI VÀNG BẰNG DƯỢC LIỆU
Lĩnh vực: 14 - Kỹ thuật môi trường
NGƯỜI THỰC HIỆN:
1. ĐOÀN HUYỀN NGỌC (NHÓM TRƯỞNG)
2. HOÀNG NGỌC YẾN NHI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ NGA
Phú lộc, ngày 21 tháng 10 năm 2017
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
I. MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN CHUNG
1. Lí do chọn dự án……………………………………………………….. 1
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của dự án ……………………… 2
2.1. Ý nghĩa khoa học…………………………………………………... 2
2.2. Ý nghĩa thực tiễn…………………………………………………… 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ......………………………………………................ 3
3.1. Mục tiêu chung................................................................................... 3
3.2. Mục tiêu cụ thể................................................................................... 3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.……………………….………….............. 4
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 4
5.1. Nghiên cứu lý thuyết………………………………………… ……. 4
5.2. Nghiên cứu thực tiễn……………………………… ………………. 4
6. Nội dung nghiên cứu:…………………………………………………… 5
6.1. Nghiên cứu tài liệu:................................................ .......................... 5
6.2. Nghiên cứu tác hại của thuốc trừ sâu hóa học:................................... 5
6.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, đặc tính của loài ruồi vàng hại trên
sản phẩm cây trồng..................................................................................... 7
6.4. Nghiên cứu về các loại dược liệu dùng để diệt ruồi vàng…………..11
7. Quy trình pha chế và thử nghiệm…………………………………..…… 19
7.1. Pha chế và thử nghiệm…………………………………….………. 19
7.2. Tiến hành pha chế và thử nghiệm………………………………… 20
8. Những điểm mới của dự án………………………………………......… 26
II. PHẦN KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả .................................................................................................... 27
2. Thảo luận...................................................................................................29
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
V. PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
CÁC TỪ VIẾT TẮT
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NCKH: Nghiên cứu khoa học
NXB: Nhà xuất bản
SGK: Sách giáo khoa
THCS: Trung học cơ sở
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
I. PHẦN CHUNG
1. Lý do chọn dự án
Trong thời gian gần đây, tình hình ruồi vàng gây hại mạnh trên các loại cây
ăn quả như: Táo, ổi, cam và bưởi…Đặc biệt cam và bưởi đang bước vào giai đoạn
già và chín, do vậy, sự xuất hiện của ruồi vàng gây hại sẽ làm ảnh hưởng đến năng
suất, chất lượng của sản phẩm. Nếu gây hại ở mật độ cao có thể gây thiệt hại lớn
về kinh tế của bà con nông dân.
Một lần gia đình em xem Tivi thấy nói về việc tác hại của ruồi vàng gây hại
trên cây trồng, em đã tìm đọc thông tin trên mạng Internet và được biết:
“Theo số liệu điều tra của Trạm BVTV Lục Ngạn, hiện nay hầu hết trên diện
tích các loại cây ăn quả trái vụ của bà con nông dân xuất hiện tình trạng ruồi
vàng gây hại; Riêng trên cây có múi và táo, tỷ lệ gây hại từ 90 đến 92%. Có nơi
cao đến 95%.Theo phản ánh của các hộ dân thống kê cứ mỗi mét vuông có không
dưới 20 con ruồi vàng. Người dân chỉ dùng các phương pháp truyền thống như
phun thuốc, đánh bẫy để đuổi ruồi nhưng hầu như không có tác dụng. Con ruồi cái
dùng vòi đẻ trứng vào bên trong vỏ trái, nên việc dùng thuốc hoá học để phun xịt
thường không mang lại hiệu quả mong muốn. Đã thế loài ruồi này thường xuất
hiện và gây hại cho trái từ khi trái già chín trở đi, nên nếu phun xịt thuốc hoá học
sẽ rất khó đảm bảo được thời gian cách ly của thuốc.”
Mặt khác dùng các loại thuốc trừ sâu hóa học đều có tính độc cao. Trong quá
trình dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc
dính bám chặt trên lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể
bị ngộ độc tức thời đến chết, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ.
Gia đình em trồng 200 cây bưởi diễn, năm vừa rồi vì bị ruồi vàng tấn công
làm rụng hầu hết quả, số quả còn lại cũng bị giảm về chất lượng có nhiều quả bị
khô, xơ, không mọng nước và thơm ngon như trước. Gia đình em rất lo lắng và
buồn nhất là bố mẹ em. Một lần trên đường đi học về em và bạn Nhi thấy bờ rào
cây bên đường ra rất nhiều quả màu vàng rất đẹp mắt. Em định hái thì bạn Nhi
1
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
bảo đừng hái sợ quả đó có độc. Chúng em rất băn khoăn không biết quả đó là quả
gì và nó có thực sự độc không? Sau đó chúng em đã lên tìm thông tin trên mạng
Internet thì được biết đó là quả găng gật, và em cũng biết thêm các thông tin về
thành phần và tác dụng của quả găng gật có khả năng gây độc cho 1 số loại côn
trùng. Bạn Nhi bảo hay chúng mình thử dùng quả này để diệt ruồi vàng có được
không? Chúng em đem chuyện này kể cho cô giáo dạy môn sinh học nghe, cô
giáo đã gợi ý và khuyến khích em nghiên cứu thành một dự án khoa học kỹ thuật.
Sau một thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, em đã hoàn thiện dự án khoa học kỹ
thuật: “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 . Ý nghĩa khoa học:
+ Dự án “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu” của chúng em được thực hiện
thành công thì nó sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho xã hội, cho địa phương và cho
từng gia đình bởi vì: Thuốc được sản xuất từ cây cỏ có ở trong thiên nhiên do
người Việt Nam sáng tạo ra góp phần bảo vệ môi trường. Đồng thời, tiết kiệm tiền
để mua các loại thuốc diệt côn trùng có mặt trên thị trường.
+ Là cơ hội tốt giúp học sinh chúng em làm quen với phương pháp nghiên
cứu khoa học kỹ thuật, phát huy năng lực sáng tạo, phát triển năng lực người học.
Đặc biệt, được trải nghiệm thực tiễn để hoàn thành một dự án mang tính khoa học
kỹ thuật giúp chúng em có được sự tự tin, tự hào vì đã đóng góp được công sức
của mình vào phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” của nhà trường.
+ Giúp em có cơ hội được NCKH; sáng tạo kĩ thuật, công nghệ và vận dụng
kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn; được tham gia
các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực và
phẩm chất của học sinh.
+ Tranh thủ được sự giúp đỡ của các Nhà khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn
Hoan thuộc Viện nghiên cứu cây trồng Việt Nam – Đại học Nông nghiệp I Hà
Nội,Viện công nghệ sinh học – Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, đã
2
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật đối với dự án nghiên cứu KHKT
của chúng em.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Việc nghiên cứu thành công dự án “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu” sẽ
giúp cho em vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn để tạo ra sản phẩm
bảo vệ môi trường, đem lại lợi ích cho cộng đồng; đóng góp công sức nhỏ bé
của mình giúp cho gia đình, các hộ trồng trọt tiết kiệm chi phí mua trừ sâu, phòng
trừ được dịch ruồi vàng, tránh được sự tổn thất về kinh tế.
Kết quả thu được là chế phẩm dược liệu trừ ruồi vàng có khả năng phòng
chống ruồi vàng hại trên cây trồng đặc biệt là cây ăn quả rất tốt, giá thành rẻ, công
nghệ sản xuất đơn giản, khả năng ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng và môi
trường là rất thấp.
Vì vậy, việc sử dụng thuốc dược liệu diệt ruồi vàng chế từ thiên nhiên với
cách sử dụng đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả và an toàn cho sức khỏe, hy vọng
sẽ trở thành thông tin hữu ích giúp mọi người áp dụng để diệt loài ruồi vàng gây
hại cho cây trồng.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung:
Tìm hiểu ảnh hưởng thuốc trừ sâu hóa học tác động đến môi trường sống,
đất, nước. Tình hình ruồi vàng hại cây trồng từ đó tìm biện pháp khắc phục.
Nghiên cứu tạo ra được sản phẩm diệt ruồi vàng bằng dược liệu có tác dụng
trừ ruồi vàng hại cây trồng, cung cấp thực phẩm sạch cho người dùng, bảo vệ môi
trường sống. Sản phẩm dễ chế biến, giá thành thấp nhưng đem lại hiệu quả cao.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
Tìm hiểu về ruồi vàng phá hoại cây trồng của nhà nông.
Nghiên cứu công dụng của các loại dược liệu; kết hợp hỗn hợp hương nhu,
quả găng gật, giấm, rỉ mật ngâm với nhau tạo ra thuốc diệt ruồi vàng;
3
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Mục đích: Tạo ra sản phẩm “ Diệt ruồi vàng bằng dược liệu ” dự án cần đạt
được mục tiêu sau:
- Chế tạo loại chế phẩm sinh học diệt ruồi vàng làm từ thảo dược có nguồn
gốc từ thiên nhiên để thay thế các loại thuốc trừ sâu hóa học.
- Thuốc an toàn với người sử dụng, thân thiện với môi trường
- Giới thiệu rộng rãi đến mọi người cùng sử dụng, bởi vì sảm phẩm này rất
dễ làm, không tốn công sức, tiết kiệm tối đa chi phí làm thuốc và đã được nhiều gia
đình sử dụng thấy có hiệu quả rất tốt để diệt loài ruồi vàng gây hại trên sản phẩm
cây trồng để chúng không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp
tránh được thiệt hại kinh tế của người dân.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm trên vường cây ăn quả và vườn rau tại gia đình và
các hộ gia đình lân cận
Thời gian thực hiện từ tháng 03/2017 đến tháng 10/2017 trên loài ruồi vàng:
đầu tiên chúng em chỉ thử nghiệm đặt thuốc tại các gốc cây cây ăn quả, sau đó là
đặt các góc vườn rau.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lí thuyết:
Chúng em đã đọc và nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 6 về tác dụng của
các loại hoa và quả, sách giáo khoa Sinh học 7, sách giáo khoa công nghệ 7 về tác
hại của các loài côn trùng, chúng em tìm hiểu các tài liệu trên mạng về tập tính,
đặc điểm của các loài ruồi vàng để nghiên cứu thêm về các thành phần sử dụng khi
chế biến thuốc, đồng thời chúng em tìm hiểu các tài liệu về tác dụng của hương
nhu, tác dụng của quả găng gật,…có trong thành phần thuốc dược liệu chúng em
đang nghiên cứu.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu vật liệu làm thuốc dược liệu:
4
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Thành phần chính: Quả của cây găng gật.
Các thành phần dẫn dụ: Hương nhu, rỉ mật, giấm.
- Nghiên cứu để chế biến các loại sản phẩm theo tỉ lệ.
- Nghiên cứu cách sử dụng.
6. Nội dung nghiên cứu.
6. 1. Nghiên cứu tài liệu:
6.1.1. Dựa trên cơ sở lấy lý thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu
chúng em đã tiến hành thu thập tài liệu để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
như:
- SGK hóa học 8, 9.
- Công nghệ 7.
- Sinh học 6, 7
- Giáo trình hóa sinh – Đỗ Quý Hải – NXB ĐH Huế
- Tìm hiểu các thông tin cần thiết trong sách giáo khoa các môn sinh
học, công nghệ, hóa học và trong các giờ học chính khóa trên lớp, các bạn học
cùng trường, các bác nông dân trong địa bàn xã Phú Lộc.
6.1.2. Nghiên cứu tài liệu trên internet:
- Trang web:
- Trang web:
- Trang web:
- Trang web: http:// nongnghiep.vn/nuoitrong123.com
- Trang web: http:// nongnghiep.vn/TurkHub.net/ruoutrang
- Trang web:
- Trang web:
- Tìm hiểu các thông tin trên Internet, tham gia trao đổi các bạn có cùng ý
tưởng trên internet đồng thời tham gia thảo luận với các bạn trong cùng nghiên cứu
khoa học kỹ thuật trên internet để có thông tin hữu ích làm cơ sở để nghiên cứu.
6.2. Nghiên cứu về tác hại của thuốc trừ sâu hóa học:
6.2.1. Đối với con người:
5
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Cơ thể con người bị nhiễm độc thuốc sâu hóa học biểu hiện ở nhiều mức độ
khác nhau như: Suy giảm sức khỏe, gây rối loạn hoạt động ở hệ thần kinh, tim
mạch, tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, gây các tổn thương bệnh lý ở các cơ quan từ mức
độ nhẹ đến nặng thậm trí tàn phế hoặc tử vong.
6.2.2. Đối với môi trường xung quanh:
Thuốc trừ sâu hóa học diệt cả những côn trùng hữu ích, có thể làm biến đổi
thế cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không
khí. Các thuốc trừ sâu hóa học có tồn dư lâu không bị phân hủy trong đất và trong
nước có thể làm cho động vật, thực vật sống trong đó bị bị nhiễm thuốc trừ sâu hóa
học lâu dài, con người ăn (sử dụng) các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi bị nhiễm
thuốc trừ sâu hóa học hằng ngày một cách gián tiếp lâu ngày sẽ có hại cho sức
khỏe.
Thuốc bảo vệ thực vật là các loại hoá chất do con người sản xuất ra để trừ
sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng. Thuốc bảo vệ thực vật được phân thành
hai loại chính là thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Các loại thuốc này có ưu điểm là
diệt sâu bệnh, cỏ dại nhanh, sử dùng lại đơn giản, nên được nông dân ưa thích.
Nhưng thuốc bảo vệ thực vật cũng có rất nhiều tác hại, đó là:
Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩn núp dưới
lá, có loại đục vào thân cây, có loại lại chui vào đất,... nên phải dùng nhiều loại
thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng. Việc này gây khó khăn cho người sử dụng,
nhất là những người nông dân có trình độ văn hoá thấp. Nhiều người chỉ thích mua
thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao. Có người hay
phun quá liều chỉ dẫn để cho "chắc ăn", làm tăng lượng thuốc thừa tích đọng trong
đất và nước.
Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt được
nhiều loại côn trùng. Khi dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng bị
diệt luôn, đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đã
trúng độc. Nói cách khác, sau khi phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên địch của nhiều
loại sâu cũng giảm. Ðiều đó có lợi cho sự phát triển của sâu hại.
6
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong quá trình dùng thuốc, một
lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên lá,
quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời
đến chết, hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ. Do
trình độ hạn chế, một số nông dân không tuân thủ đầy đủ các quy định về sử dụng,
bảo quản thuốc trừ sâu, có người cất thuốc vào chạn, vào tủ nên đã gây nên những
trường hợp ngộ độc, thậm chí chết thảm thương do ăn nhầm phải thuốc.
Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh nên gây khó chịu, mệt
mỏi, thậm chí choáng ngất cho người trực tiếp phun thuốc sâu trên đồng ruộng,
nhất là trong trường hợp không có các biện pháp phòng tránh tốt.
Việc dùng thuốc trừ sâu liên tục sẽ sinh chứng nhờn thuốc. Vì thế mỗi loại
thuốc trừ sâu chỉ có tác dụng mạnh một số năm đầu sử dụng. Ðể hạn chế bệnh
nhờn thuốc, tăng khả năng diệt trừ sâu người ta thường tăng dần nồng độ thuốc,
tăng số lần dùng thuốc. Tuy nhiên biện pháp này không lâu dài do không thể tăng
mãi nồng độ được. Mặt khác, nó làm ô nhiễm môi trường mạnh hơn, do lượng tồn
dư trong môi trường nhiều lên.
Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định, khó phân huỷ, nên sẽ
tích luỹ trong môi trường. Sau nhiều lần sử dụng lượng tích luỹ này có thể cao đến
mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí và con người. Do thuốc tồn
đọng lâu không phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán tới các vùng khác,
theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi. Thuốc diệt cỏ được dùng ở mức ít hơn. Tuy
nhiên do có tính độc, chúng cũng gây nên những tác hại tới môi trường giống như
thuốc trừ sâu.
6.3. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và đặc tính của loài ruồi vàng hại
trên sản phẩm cây trồng:
6.3.1. Đặc điểm hình thái của ruồi vàng
Ruồi vàng có tên khoa học: Bactrocera cucurbitae
Họ: Tephritidae
Bộ: Diptera
7
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Con trưởng thành hình dạng giống ruồi nhà nhưng nhỏ hơn, hình thon dài,
bay khỏe. Cơ thể ruồi dài 5-7mm, sải cánh rộng 10-13mm. Đầu tựa hình bán cầu,
mặt trước màu nâu đỏ với nhiều vết đen nhỏ, phía sau đầu có nhiều lông nhỏ. Phần
ngực màu nâu đỏ hoặc nâu tối, mặt lưng có một vân vàng hình chữ U. Ở 3 đôi
chân, đốt đùi cũng có màu nâu đỏ, song đốt chày và bàn chân có màu vàng. Nói
chung ruồi cái lớn hơn ruồi đực và phân biệt dễ dàng bởi ống đẻ trứng kéo dài.
Ruồi vàng có vạch vàng ở ngàn lưng
- Trứng hình hạt gạo, dài khoảng 1mm, lúc mới đẻ có màu trắng sữa, khi sắp nở
chuyển sang vàng nhạt. Khi giòi nở vỏ trứng tách ra theo một đường dọc.
- Dòi mới nở dài khoảng 1,5mm, phát triển đầy đủ dài 6-8mm, màu vàng nhạt,
miệng có móc. Khi phát triển đầy đủ, Dòi búng mình rơi xuống đất để hóa nhộng
trong đất, thời gian nhộng khoảng 7-12 ngày hoặc dài hơn nếu gặp lạnh. Dòi làm
nhộng sâu trong đất khoảng 3-7cm. Khi dòi đẫy sức chui ra ngoài hóa nhộng
- Nhộng dài 5-7mm, có hình trứng dài, lúc đầu màu vàng nâu, khi sắp vũ hóa có
màu nâu đỏ.
- Thành trùng (ruồi trưởng thành) có cơ thể dài 6-9 mm, sải cánh rộng 1,3 mm, đầu
có dạng hình bán cầu, mặt trước mầu nâu đỏ với 6 chấm đỏ mầu đen. Thân màu
vàng nâu đỏ với những vân vàng, cánh trong, hình dạng giống nhưng nhỏ hơn ruồi
nhà, hoạt động vào ban ngày. Thành trùng hiện diện suốt năm, thời gian sống của
thành trùng 1 - 3 tháng. Thành trùng có thể bay rất xa.
8
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
6.3.2. Đặc điểm sinh học và sinh thái của ruồi vàng
Vòng đời: 22-28 ngày.
- Trứng: 2-3 ngày
- Dòi : 8-10 ngày
- Nhộng: 7-12 ngày
- Trưởng thành đẻ trứng 5-7 ngày và có thể sống hàng tháng. Ruồi trưởng thành
hoạt động ban ngày, thường là sáng sớm hoặc chiều mát, sức bay yếu.
A) Ấu trùng ruồi đục trái; (B) Ruồi đục trái trưởng thành
Dòi - Ấu trùng của ruồi vàng
Ruồi đục trái xoài
Ruồi cái đẻ trứng trong vỏ quả, một con cái có thể đẻ 150-200 trứng, một
quả có thể có nhiều trứng. Dòi nở ra đục vào trong quả gây hại. Trong quả bị hại
9
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
thường có nhiều con dòi, đẫy sức dòi chui ra ngoài rơi xuống đất hoá nhộng hoặc
hoá nhộng trong quả bị rụng.
Ruồi thường đẻ trứng và gây hại từ khi quả già đến chín và là một loại côn trùng
ưa thích vị chua ngọt .
6.3.3 Triệu chứng gây hại và tác hại của ruồi vàng trên sản phẩm cây trồng:
Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ quả rồi đẻ một chùm 5-10 trứng
(thường đẻ trứng lên quả phần tiếp giáp giữa vỏ và thịt quả). Vỏ trái nơi ruồi đục
vào có màu đen, mềm, ứ nhựa (mủ), tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công làm thối
trái và có thể bị rụng hoặc vẫn đeo trên cây. Ấu trùng (dòi) đục vào trong quả, chổ
vết đục bên ngoài, bên trong quả dòi đục thành đường hầm vòng vèo làm quả bị
thối mềm, trái bị hại thay đổi hình dạng, màu sắc. Từ vết đục có thể bị vi khuẩn,
nấm xâm nhập vào trái lên men, rụng.
Dòi nở ra đục ăn trong quả (ăn thịt trái). Một quả có thể bị nhiều đòi phá hại. Quả
bị dòi đục thường bị bội nhiễm các loại vi sinh vật nên thối rất nhanh. Ruồi đục
quả phá hại từ khi quả già đến chín.
Ruồi tấn công lên nhiều loại cây trồng, trái cây bị ruồi đục làm giảm giá trị thương
phẩm, chất lượng và không xuất khẩu được. Đối với vườn quất, quýt quả bị hại có
màu vàng sáng xung quanh vết châm. Quả bị hại thường thối và rụng. Đối với quả
thanh long, ruồi để trứng trên vỏ trái, dòi sau khi nở sẽ sống bên trong trái. Khi đó
sẽ thấy bên ngoài vỏ có vết châm kim và ứa nước vàng. Mùa mưa là giai đoạn ruồi
sinh sản mạnh và gây hại nặng cho nhà vườn. Có khả năng làm thất thoát >50%
năng suất.
Đối với cây ổi, dòi nở ra đục ăn trong trái, tuổi càng lớn càng đục sâu vào phía
trong làm trái bị thối và rụng. Bị hại nặng trái rụng hàng loạt. Trong 1 trái có thể có
nhiều con dòi phá hại. Khi trưởng thành dòi chui ra khỏi trái rơi xuống đất hóa
nhộng
10
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Dòi nở trong trái ổi và triệu chứng trên trái ổi
Ruồi vàng hại trên quả bưởi
Ruồi vàng hại trên quả mít
6.4. Nghiên cứu về các loại dược liệu dùng để diệt ruồi vàng:
6.4.1. Quả găng gật:
Găng gật hay còn gọi là găng trắng là loại cây có tên khoa học là Randia
tomentosa (Bium. ex. DC.) Hooki. (Gardenia tomentosa Wall), thuộc họ Cà phê
Rubiaceac. Loại cây này thường mọc hoang ở nhiều vùng hoặc được trồng quanh
nhà để làm hàng rào vì thân có rất nhiều gai. Ngoài Việt Nam, loại cây này còn
xuất hiện ở nhiều quốc gia châu Á khác như: Trung Quốc, Campuchia, Inđônêxia,
Ấn Độ, Thái Lan… Ở một số nước miền Đông châu Phi có khí hậu nhiệt đới cũng
có loại cây này. Ở Việt Nam cây thường mọc tự nhiên trong các rừng còi, rừng
thưa trên những mảnh đất cằn từ Khánh Hòa vào Đồng Nai. Loài cây này còn được
người dân trồng xung quanh nhà, quanh vườn để làm hàng rào do thân và cành cây
11
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
găng gật có nhiều gai. Đây là loại cây ưa ánh sáng, chịu được môi trường khắc
nghiệt trong vùng đất khô cằn hay những vùng khô hạn ven biển.
Hình 1- Hình ảnh quả găng gật
Cây nhỏ cao 4 đến 10m, cành cây buông thõng, có nhiều gai to trên thân và
cành. Lá cây hình bầu dục, có phần đỉnh nhọn, mặt trên lá có màu xanh lục, mắt
dưới có nhiều lông tơ mỏng. Cây ra hoa đơn độc, màu trắng, đài thường 6, tràng
thường 8, nhị 5 đến 10, hoa thường nở rộ vào tháng 3 – 5. Từ tháng 4 – 7 cây bắt
đầu ra quả, quả khi chín có màu vàng, hình trứng. Bên trong có rất nhiều hạt, nhỏ,
dẹt màu đen, dài khoảng 5mm. Theo tài liệu y học cổ truyền Tuệ Tĩnh trong quả
găng gật chứa nhiều saponin tritecpenic, loại aponin có thể làm chết 1 số loai côn
trùng và làm say giun đất. Lá cây găng gật có tác dụng giải nhiệt, chữa đái vàng,
đái dắt, sôi bụng. Quả được sử dụng để ngâm hoặc sắc lấy nước gội đầu giúp cho
tóc được đen.
Em đã thử nghiệm cho 01 con gà nhà em ăn quả găng gật với số lượng 250
gam, từ khi ăn đến nay đã hơn 02 tháng nhưng con gà đó vẫn khỏe mạnh bình
thường.
12
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Chú trống choai vẫn khỏe mạnhsau hai tháng ăn quả găng gật
6.4.2. Cây hương nhu:
Cây hương nhu có tên khoa học Ocimum sanctum L. họ hoa môi Lamiaceae,
ở nước ta thường được gọi là cây é hay cây é tía. Loại cây này thường mọc hoang
trong sân vườn, sau nhà, ở các khu đất trống và nhiều nơi khác, nên rất dễ tìm hái.
Ở Việt Nam có 2 loại cây hương nhu: Trắng và tía
Cây hương nhu tía
Cây hương nhu trắng
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
13
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
- Hương nhu tía: là toàn cây trừ rễ phơi hay sấy khô của cây hương nhuOcimum
tenuiflorumL.(OcimumsanctumL.)
Tên khác: é rừng hay é tía (miển Trung và miền Nam) hay che tak me
(Campuchia). Thuộc họ : Hoa môi (Lamiaceae)
Cây hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) là một loại cây nhỏ, sống hằng năm
hoặc nhiều năm; có thể cao l,5-2m. Thân và cành thường có màu tía, có lông quặp.
Lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1-5cm, mép có răng cưa, 2
mặt đều có lông. Hoa màu tím, mọc thành chùm, xếp thành từng vòng từ 6 đến 8
chiếc trên chùm, ít khi phân nhánh. Lá và hoa vò ra có mùi thơm đinh hương.
Cây hương nhu tía thường được trồng làm thuốc ở quanh nhà. Cây hương nhu
trắng mọc hoang nhiều ở khắp nơi trong nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh Quảng
Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên. Còn được
trồng ở Ân Độ, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Philipin.
- Hương nhu trắng: là toàn cây trừ rễ phơi hay sấy khô của cây hương nhu trắng
(OcimumgratissimumL.)
Tên khác: é lớn lá, hung dổi tía hay ling leak krnam(Campuchia)
Thuộc họ: Hoa môi(Lamiaceae)
Câv hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.) là một cây thường cao hơn loài
trên. Lá mọc đối. có cuống, phiến lá dài 5-10cm, hình trứng nhọn, phía cuống thon,
mép khía tai bèo hay có răng cưa thô: Trên gân chính của tá có lổng. Hoa nhỏ, xếp
thành chùm, đôi khi ở phía dưới có phân nhánh. Hạt không nở và không có chất
nhầy bao quanh khi cho vào nước.
Trước đây ở nước ta chỉ trồng một ít để dùng làm thuốc. Khi cây đang ra hoa
thì hái vể, hái toàn câỵ, phơi khô trong mát để dùng làm thuốc. Gần đây, ta phát
triển trồng dùng loài hương nhu trắng (trồng và khai thác những cây mọc hoang)
để cất tinh dầu dùng trong nước và xuất khẩu. Trồng bằng hạt, sau 6 tháng bắt đầu
thu hoạch, vì nếu cứ để nguyên, cây sống lâu, thành cây bụi cho nên trồng một lần
có thể thu hoạch nhiều năm.
14
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Trong cây hương nhu trắng và hương nhu tía đều có tinh dầu, nhưng tỷ lệ
tinh dầu trong cây hương nhu trắng cao hơn: 0,6-0,80%, hương nhu tía 0,2-0,3%
(tươi). Tinh dầu có 2 phần, phần nhẹ hơn nước và phần nặng hơn nước, vị cay,
phần nhẹ hơn nước (0,9746), độ sôi 2430-244°C.
Thành phẩn chủ yếu của tinh dầu hương nhu trắng hay tía là ơgenola (45-70%),
ngoài ra còn chừng 20% ête metylic của ơgenola và 3% cacvacrola, o.xymen,
p.xymen, camphen, limonen, α và β pinen. Tinh dầu hương nhu chứa nhiều hợp
chất ơgenola là chất dẫn dụ côn trùng.
6.4.3. Mật rỉ đường
- Mật rỉ đường (hay rỉ mật, mật rỉ, rỉ đường) còn được gọi ngắn gọn là mật,
trong tiếng Anh, rỉ mật được gọi là molasses, xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha
melaco là chất lỏng đặc sánh.
- Mật rỉ đường là một phụ phẩm của ngành sản xuất đường, là sản phẩm cuối
cùng của quá trình sản xuất đường mà từ đó đường không còn có thể kết tinh một
cách kinh tế nữa bởi các công nghệ thông thường. Thành phần chính của rỉ mật là
đường, chủ yếu là sucroza với một ít glucoza và fructoza.
Sản lượng: cứ khoảng 100 tấn mía cây ép ra thì sẽ cho ra 3 - 4 tấn mật rỉ
đường.
- Thành phần hóa học của Mật rỉ đường:
15
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Thành phần của mật rỉ đường phụ thuộc vào giống mía, giai đoạn thu hoạch,
thổ nhưỡng, thời tiết và quy trình sản xuất đường của nhà máy. Do vậy mật rỉ
đường thay đổi về thành phần dinh dưỡng, mùi vị, màu sắc và độ nhớt.
Thành phần tiêu chuẩn của mật rỉ đường thường được chia thành 3 phần:
đường, chất hữu cơ không đường và chất khoáng.
+ Đường: Các loại gluxit hòa tan (đường đôi và đường đơn) là thành phần
dinh dưỡng chính của rỉ mật, trong đó sucroza chiếm 44%, Fructoza chiếm 13%,
Glucoza chiếm 10%, Axit amin chiếm 3%, các chất khác chiếm 30%. Rỉ mật có tỷ
lệ đường khử tương đối cao. Trong chu trình kết tinh các loại đường khử tăng lên
tới mức mà sucroza không thể kết tinh được nữa bởi vì đường khử làm giảm khả
năng hòa tan của sucroza. Các chất khoáng có xu hướng giữ sucroza trong dung
dịch, cho nên cân bằng giữa đường khử và chất khoáng sẽ quyết định sản lượng
sucroza lý thuyết có từ cây mía. Phần sirô còn lại thường được coi là rỉ mật.
+ Chất hữu cơ không đường: Các chất hữu cơ không phải là đường của rỉ
mật quyết định nhiều tính chất vật lý của nó, đặc biệt là độ nhớt dính. Nó bao gồm
chủ yếu là các loại gluxit như tinh bột, các hợp chất chứa N và các axit hữu cơ. Nói
chung hàm lượng các chất hữu cơ không phải là đường của rỉ mật củ cải đường cao
hơn rỉ mật mía. Trong rỉ mật không chứa xơ và lipit. Tỷ lệ protein thô trong rỉ mật
mía tiêu chuẩn là rất thấp (3-5%). Trong rỉ mật mía còn có một lượng đáng kể các
axit hữu cơ, trong đó chủ yếu là axit acotinic. Rỉ mật cũng chứa một lượng axit béo
bay hơi, trung bình khoảng 1,3%.
+ Chất khoáng: Rỉ mật là một nguồn giàu khoáng. Hàm lượng Ca trong rỉ
mật mía cao tới 1%, trong khi đó hàm lượng P lại thấp. Rỉ mật mía giàu Na, K, Mg
và S. Rỉ mật cũng chứa một lượng đáng kể các nguyên tố vi lượng như Cu (7
ppm), Zn (10 ppm), Fe (200 ppm), Mn (200 ppm).
- Mật rỉ đường có thành phần trung bình gồm:
Nước: khoảng 20% nước
Protein: ~5%
Đường saccaro: khoảng 35%
Sáp: ~1%
Đường khử: khoảng 20%
Bột: ~ 4%
16
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Tro: khoảng 15%
- Công dụng của Mật rỉ đường:
Vi lượng Fe, Al, P, Ca, Mg, K và vitamin.
+ Mật rỉ có thể được lên men chưng cất rượu, sản xuất men các loại, sản
xuất axit axetic, dùng trong sản xuất một số loại bia có màu tối.
+ Sử dụng để tạo hương cho thuốc lá.
+ Dùng làm phụ gia trong chế biến thức ăn chăn nuôi, thức ăn ủ xanh, pha
dung dịch thủy canh.
+ Kinh nghiệm dân gian sử dụng mật rỉ đường để hỗ trợ xử lý nước trong ao
nuôi tôm công nghiệp.
+ Sử dụng để nuôi vi sinh trong xử lý nước.
+ Sử dụng rỉ mật làm thức ăn gia súc, gia cầm, thức ăn nhai lại và bánh dinh
dưỡng cho gia súc gia cầm: Rỉ mật trên thế giới được dùng chủ yếu (trên 50%) làm
thức ăn cho gia súc. Mật rỉ đường còn được dụng như một chất bổ sung trong sản
xuất thức ăn ủ xanh. Ngoài ra, mật rỉ đường cũng được dùng để lên men tạo ra các
sản phẩm như cồn ethanol, nấm men, axit amin và axit xitric cũng như được dùng
trong ngành sản xuất gạch ngói. Mật rỉ đường đã được dùng làm thức ăn cho gia
súc và gia cầm từ thế kỷ thứ 19. Vào thời đó, người ta dung mật rỉ đường như là
một nguồn năng lượng và còn là như một chất hút bụi. Hạn chế bụi có tầm quan
trọng lớn bởi vì gia súc rất dễ bị các bệnh về phổi do bụi gây ra, đồng thời bụi cũng
là một vấn đề đối với người chăn nuôi. Bụi cũng làm tăng thức ăn thừa. Tài liệu
cho thấy rằng 10% Mật rỉ đường thực tế có thể loại trừ được toàn bộ bụi và 30%
thì loại trừ được các tiểu phần mịn. Châu Âu và Mỹ là hai thị trường tiêu thụ mật rỉ
đường chủ yếu của thế giới để làm thức ăn gia súc. Mật rỉ đường đã được sử dụng
để nuôi gia súc (cả nhai lại và dạ dày đơn) ở nhiều nước nhiệt đới (Preston and
Leng, 1986). Trước đây mật rỉ đường thường được dùng cho gia súc ăn ở mức
tương đối thấp trong khẩu phần (thường dưới 20% khẩu phần). Tuy nhiên, gần đầy
các nghiên cứu ở Cuba cho thấy rằng Mật rỉ đường có thể dùng như một loại thức
ăn thay thế cho ngũ cốc như là một giải pháp cho việc thâm canh chăn nuôi ở vùng
nhiệt đới. Mật rỉ đường có thể được cho gia súc ăn theo một số cách khác nhau như
17
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
trộn mật rỉ đường với các thức ăn khác, mật rỉ đường pha loảng để cung cấp năng
lượng trực tiếp hay dùng như là một chất chứa N phi protein (NPN), vitamin,
khoáng và cả thuốc thú y.
- Những ưu điểm chính của việc dùng mật rỉ đường làm thức ăn gồm:
+ Tăng mật độ năng lượng
+ Tăng tính ngon miệng
+ Giảm bụi bặm
+ Tăng chuyển hoá nên giảm chi phí thức ăn
+ Cải thiệt chất lượng (vật lý) của sản phẩm
+ Bao bọc các thành phần thức ăn kém ngon miệng
+ Giá rẻ
6.4.4. Giấm:
Là một chất lỏng có vị chua, được hình
thành từ sự lên men của rượu etylic (công thức
hóa học là C2H5OH). Thành phần chính của
giấm là dung dịch axit axêtic (CH 3COOH) có
nồng độ khoảng 5%. Giấm được dùng nhiều
trong ẩm thực. Giấm được gia vào thức ăn,
nước chấm để tạo vị chua. Sử dụng giấm tạo
vị chua dẫn dụ côn trùng ưa vị chua ngọt trong
thuốc diệt côn trùng.
6.4.5. Nghiên cứu cơ chế tác dụng của thuốc diệt ruồi vàng bằng dược
liệu khi kết hợp quả găng gật, hương nhu, rỉ mật, giấm.
* Quả găng gật : Chứa hàm lượng saponin cao nên khi sử dụng cho ruồi vàng ăn
với hàm lượng cao sẽ làm cho ruồi vàng ngộ độc chết.
Chất Saponin trong quả găng gật: còn gọi là saponosid là một nhóm glycosid
lớn, gặp rộng rãi trong thực vật. Saponin cũng có trong một số động vật như Hải
sâm, Cá sao.
18
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
Saponin có một số tính chất đặc biệt:
- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá
và tẩy sạch.
- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng.
- Ðộc với các loài côn trùng vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô
hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân
mềm như giun, sán, ốc sên.
- Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao
gây nôn mửa, đi lỏng.
- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b-hydroxysteroid khác.
Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng (vì tạo bọt như xà
phòng), Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong Cam thảo
bắc, abrusosid trong Cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị
ngọt.
* Hương nhu: Thành phẩn chủ yếu của tinh dầu hương nhu là ơgenola (chiếm 4570%), có mùi pheromon giống ruồi cái nên được sử dụng làm chất dẫn dụ ruồi đực
đến để diệt.
* Rỉ mật và giấm: Loài ruồi vàng ưu mùi vị chua ngọt nên sự kết hợp của rỉ mật và
giấm giúp lên men tạo mùi thơm hấp dẫn ruồi vàng đến. Nên rỉ mật và giấm được
sử dụng làm chất dẫn dụ để diệt ruồi vàng.
7. Quy tình pha chế và thử nghiệm
Tiến hành thử nghiệm ngâm hỗn hợp (quả găng gật, hương nhu, rỉ mật,
giấm) sau 7 ngày được sản phẩm thuốc trừ ruồi vàng hại cây trồng.
7. 1. Phương pháp pha chế và thử nghiệm:
- Pha chế thuốc diệt ruồi vàng: Cho quả găng gật, hương nhu giã nhuyễn,
ngâm với nước sạch, cho đường và giấm vào sau 7 ngày đem cho vào khay đặt tại
các gốc cây ăn quả và các góc vườn đối với cây rau.(Có thể sử dụng phun trên
rau).
19
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
- Pha trộn hỗn hợp theo thành phần và tỉ lệ để được thuốc thảo dược dùng để
diệt ruồi vàng.
7.2. Tiến hành pha chế và thử nghiệm.
Sau quá trình nghiên cứu pha chế và thử nghiệm chúng em đã tìm ra công
thức pha chế thuốc diệt ruồi vàng được làm từ các loại dược liệu có tác dụng trừ
ruồi vàng cho cây trồng.
Thực nghiệm lần 1:
- Dùng 0,5kg quả găng gật, 0,5 kg hương nhu giã nhuyễn ngâm với 0,5kg rỉ
mật, 0,5 lít giấm và 5 lít nước sạch => ngâm trong 7 - 10 ngày.
- Quan sát khi ngâm: Dung dịch hơi ngả màu vàng. Sau 7 – 10 ngày sau đem
ra lọc bỏ bã để sử dụng.
- Cách sử dụng: Lấy 50ml nước cốt (quả găng gật, hương nhu, rỉ mật, giấm)
pha 1 lít nước cho vào khay đặt gốc cây ăn quả, 1 khay thuốc/ 1 gốc ,hoặc treo trên
cành cây 3 bả/ cây (tùy theo diện tích tán cây). Cũng có thể cho vào bình phun trên
cây trồng (50ml nước cốt pha với 0,5 lít vì phun sẽ bị tác động của môi trường và
phát tán xung quanh nên tỉ lệ cần đặc hơn).
- Kết quả thu được: Sau khoảng 2 ngày quan sát thấy ruồi vàng không chết,
thuốc chưa hiệu quả .
Thực nghiệm lần 2:
- Dùng 1,0 kg quả găng gật, 0,5 kg hương nhu giã nhuyễn ngâm với 0,5kg rỉ
mật, 0,5 lít giấm và 5 lít nước sạch => ngâm trong 7- 10 ngày.
- Quan sát khi ngâm: Dung dịch màu vàng nhạt. Sau 7-10 ngày sau đem ra lọc
bỏ bã để sử dụng.
- Cách sử dụng: Lấy 50ml nước cốt (quả găng gật, hương nhu, rỉ mật, giấm)
pha 1 lít nước cho vào khay đặt gốc cây ăn quả, 1 khay thuốc/ 1 gốc ,hoặc treo trên
cành cây 3 bả/ cây (tùy theo diện tích tán cây). Cũng có thể cho vào bình phun trên
cây trồng (50ml nước cốt pha với 0,5 lít vì phun sẽ bị tác động của môi trường và
phát tán xung quanh nên tỉ lệ cần đặc hơn).
20
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
- Kết quả thu được: Sau khoảng 2 ngày quan sát thấy ruồi vàng chết ít, thuốc
hiệu quả chưa cao.
Thực nghiệm lần 3:
- Dùng 2 kg quả găng gật, 0,5 kg hương nhu giã nhuyễn ngâm với 0,5kg rỉ
mật, 0,5 lít giấm và 5 lít nước sạch => ngâm trong 7-10 ngày.
- Quan sát khi ngâm: Dung dịch màu vàng nâu. Sau 7-10 ngày sau đem ra
đem ra lọc bỏ bã để sử dụng.
- Cách sử dụng: Lấy 50ml nước cốt (quả găng gật, hương nhu, rỉ mật, giấm)
pha 1 lít nước cho vào khay đặt gốc cây ăn quả, 1 khay thuốc/ 1 gốc ,hoặc treo trên
cành cây 3 bả/ cây (tùy theo diện tích tán cây). Cũng có thể cho vào bình phun trên
cây trồng (50ml nước cốt pha với 0,5 lít vì phun sẽ bị tác động của môi trường và
phát tán xung quanh nên tỉ lệ cần đặc hơn).
- Kết quả thu được: Sau khoảng 2 ngày ruồi sẽ chết, vườn bưởi không còn
ruồi vàng.
Bảng so sánh các lần thực nghiệm
Nguyên liệu
Quả
STT
găng
gật
(kg)
Hươn
g nhu
(kg)
Thuốc
Rỉ mật Giấm
trừ sâu
(kg)
(lít)
(ml)
Kết quả
Lần 1
0,5
0,5
0,5
0,5
50
Chưa hiệu quả
Lần 2
1,0
0,5
0,5
0,5
50
Hiệu quả chưa cao
Lần 3
2,0
0,5
0,5
0,5
50
Rất hiệu quả
. Kết luận:
Dựa vào bảng so sánh các lần thực nghiệm chúng em đã thành lập công thức
pha chế để tạo ra thuốc diệt ruồi vàng được làm từ các dược liệu.
Kết luận 1. Nguyên liệu:
21
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc
Dự án nghiên cứu khoa học “Diệt ruồi vàng bằng dược liệu”
STT
Tên thiết bị, nguyên liệu, dụng cụ
Số lượng
1
Quả găng gật
2,0 kg
2
Hương nhu
0,5 kg
3
Rỉ mật
0,5 kg
4
Giấm
0,5 lít
5
Nước lọc
Ghi chú
5 lít
Kết luận 2. Quy trình thực hiện:
Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu và dụng cụ cần thiết
- Quả găng gật: 2,0 kg
- Hương nhu: 0,5 kg
- Rỉ mật (hoặc đường mía): 0,5 kg
- Giấm: 0,5 lít
- Nước sạch: 5 lít
- Bình nhựa: 1 cái
- Cân đồng hồ: 1 cái
- Thớt, chày, cối, dao, đũa.
* Bước 2: Pha chế nguyên liệu
Pha các nguyên liệu theo tỉ lệ:
2,0 : 0,5 : 0,5 : 0,5 : 5
Có nghĩa là 2,0 kg quả găng gật trộn với
0,5 kg hương nhu, 0,5 kg rỉ mật và 0,5 lít
giấm pha vào 5 lít nước sạch.
22
Học sinh: Đoàn Thị Huyền Ngọc - Hoàng Ngọc Yến Nhi - Trường THCS Phú Lộc