Tải bản đầy đủ (.docx) (36 trang)

Cuộc chiến tranh vùng vịnh 1 năm 1990

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.96 KB, 36 trang )

Hồ Phước An

DSU130606

Mục Lục

Trang

Mở Đầu ..............................................................................................................2
Chương 1: Nguyên nhân của cuộc chiến tranh......................................................6
1.1 Các quan hệ Iraq – Hoa Kỳ Trước Cuộc Chiến .................................6
1.2 Các Nguyên Nhân Cuộc Chiên.........................................................10
1.3 Tóm Tắt Sự Kiện..............................................................................12
Chương 2: Diễn biến của cuộc chiến tranh...........................................................15
2.1. Xâm Lược Cô Kuwait......................................................................15
2.2. Động Thái Quốc Tế.........................................................................17
2.3. Chiến Dịch Không Quân..................................................................21
2.4. Chiến Dịch Trên Bộ.........................................................................25
2.5. Chiến Tranh Kết Thúc......................................................................27
Chương 3: Hậu quả Cuộc Chiến ..........................................................................30
Kết Luận .............................................................................................................32
Hình Ảnh Cuộc Chiến..........................................................................................34
Tài Liệu Tham Khảo.............................................................................................35

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 1


Hồ Phước An

DSU130606


Mở Đầu
Lý do chọn đề tài:
Đề tài nghiên cứu về lịch sử một cuộc chiến tranh, về tình hình một nước hay một
khu vực nào đó phát triển trong một giai đoạn lịch sử cụ thể đó trở thành quen thuộc. Nó
là một đối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử.
Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 (cũng gọi là Chiến tranh vịnh Ba Tư hay Chiến dịch
Bão táp Sa mạc) là một cuộc xung đột giữa Iraq và liên minh gần 30 quốc gia1 do Hoa
Kỳ lãnh đạo và được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để giải phóng Kuwait.
Sự kiện dẫn tới chiến tranh là việc Iraq xâm chiếm Kuwait ngày 2 tháng 8 năm 1990,
sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã "khoan nghiêng"
giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức
bị Liên Hiệp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế. Những hành động quân sự bắt đầu từ tháng
1 năm 1991, dẫn tới 1 thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng đồng minh, buộc quân đội
Iraq phải rút khỏi Kuwait với tổn thất nhân mạng ở mức tối thiểu cho lực lượng đồng
minh. Những trận đánh chính là những trận đánh trên không và trên bộ bên trong Iraq,
Kuwait và những vùng giáp biên giới Ả Rập Saudi. Cuộc chiến không mở rộng ra ngoài
vùng biên giới Iraq/Kuwait/Ả Rập Saudi, dù Iraq đã bắn tên lửa vào các thành phố
của Israel.

Mục đích nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu cuộc chiến tranh là một vấn đề có ý nghĩa lý luận cao, giúp chúng ta hiểu
thêm một số vấn đề về quan hệ quốc tế hiện đại, hiểu thêm những chính sách của Mỹ
trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ thực tế đó, tôi đã quyết định chọn đề tài “Cuộc chiến
tranh Vùng Vịnh ” để làm đề tài nghiên cứu nghiên cứu khoa hoc của mình. Đề tài này
vừa có giá trị khoa học vừa thể hiện tính thời sự nóng hổi đối với mỗi sinh viên chuyên
ngành lịch sử.

1 Có nhiều con số khác nhau về số quốc gia tham gia trong Liên minh tùy theo nguồn. Sự khác nhau có thể là do
không có tiêu chuẩn vệ độ tham gia. Ví dụ về các con số các nhau: an Arab anti-Gulf War essay - 31; CNN - 34; an
Arab media site - 36; the Heritage Foundation (a US conservative thinktank citing a 1991 Department of Defense

report) - 38; US Institute of Medicine report on Gulf War Veterans' Health - 39. Số thành viên Liên minh có thể thấp
đến 19 vào lúc đầu chiến dịch oanh tạc.

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 2


Hồ Phước An

DSU130606

Lịch sử vấn đề:
Quan hệ Iraq - Kuwait đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, nhưng với tư cách là
hai quốc gia độc lập mới thực sự chỉ bắt đầu sau khi Iraq tiến hành cuộc cách mạng
chống đế quốc, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế năm 1958 và khi Kuwait tuyên bố độc
lập năm 1961. Tuy nhiên, những hậu quả nặng nề trên nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề lãnh
thổ không rõ ràng do các thế lực phong kiến, đế quốc gây ra đã dẫn đến những mâu
thuẫn, bất đồng kéo dài giữa hai nước. Điều đó giải thích nguyên nhân sâu xa việc Iraq
đem quân xâm lược Kuwait một quốc gia cùng trong cộng đồng các nước Arập - để rồi
chấp nhận một cuộc đối đầu không cân sức với Mỹ và liên quân. Vào những năm cuối thế
kỷ 19, đầu thế kỷ 20, sau khi phát hiện ra nguồn dầu lửa to lớn, Trung Đông trở thành
“miếng mồi” của các cường quốc phương Tây. Ở chiều ngược lại, để tồn tại, các nước
Trung Đông - Vùng Vịnh cũng tìm cách dựa vào các thế lực phương Tây. Đây chính là
điều kiện lý tưởng để các nước phương Tây xâm nhập và tranh giành ảnh hưởng tại khu
vực rộng lớn nhiều tài nguyên này.
Năm 1958, nước Cộng hòa Iraq ra đời. 3 năm sau, Kuwait cũng tuyên bố độc lập
và tham gia Liên đoàn Arập và Liên hợp quốc, nhưng phía Iraq đã không công nhận
đường biên giới thiếu rõ ràng với Kuwait. Quan hệ hai nước còn bất đồng về chủ quyền
đối với hai hòn đảo Warbah và Bubiyan phía tây vịnh Persian. Năm 1973, Iraq chiếm một
đồn biên phòng của Kuwait, nhưng sau đó buộc phải rút quân do sự phản đối mạnh mẽ
của các nước Arập. Năm 1975, hai bên ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết những bất

đồng trên hai vấn đề lớn là biên giới và chủ quyền hải đảo, nhưng không đi đến kết quả.
Trong những năm 80, quan hệ hai nước có chiều hướng bớt căng thẳng vì Iraq mải lo
chiến tranh với Iran. Trong cuộc chiến đẫm máu này, với tư cách là “anh em Arập”,
Kuwait đứng về phía Iraq, tài trợ cho Iraq 17 tỷ USD để tiến hành chiến tranh chống lại
một nước phi Arập. Trớ trêu thay khi chiến tranh Iraq - Iran kết thúc thì cũng là lúc bất
đồng giữa Iraq và Kuwait nổi lên. Trong cuộc họp thượng đỉnh của Liên đoàn Arập tại
Bagdad (5/1990), Tổng thống Iraq Sadam Hussein tố cáo các nước Arập, đặc biệt là
Kuwait sản xuất dầu quá mức hạn định, khiến giá dầu thô hạ, gây thiệt hại cho Iraq.
Hussein đòi các nước Arập phải xóa nợ viện trợ cho nước này.
Sau đó, phía Iraq còn tố cáo Kuwait khai thác dầu mỏ ở Rumaila, vùng đất vẫn đang
tranh chấp giữa hai nước. Để giải quyết những bất đồng giữa hai bên, một số nước Arập
như Ai Cập, Saudi Arabia… đã tiến hành các hoạt động hòa giải. Nhưng chính trong giai
đoạn này, Iraq bắt đầu triển khai lực lượng quân sự ở vùng biên giới. Đến ngày
30/7/1990, Iraq đã tập trung khoảng 10 vạn quân, 300 xe tăng, 300 khẩu pháo hạng
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 3


Hồ Phước An

DSU130606

nặng, tiến hành lập các tuyến tiếp tế phục vụ cho việc triển khai lực lượng, phương tiện
chiến tranh. Mục đích của việc này là gây áp lực với Kuwait trên bàn đàm phán, nhưng
cũng là hành động sẵn sàng đánh chiếm Kuwait khi thương lượng thất bại. Và thực tế
cuộc đàm phán giữa hai nước ngày 30/7/1990 tại Jeddah (Saudi Arabia) hoàn toàn bế tắc
do lập trường khác biệt giữa hai bên
Nói chung, bằng những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã bước đầu
trình bày về một cuộc chiến tranh này tương đối rõ nét. Song do tính chất phức tạp của
cuộc chiến, của tình hình chính trị thế giới hiện nay, làm sao để có thể phân tích, đánh giá
một cách thoả đáng, sâu sắc và toàn diện. Nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp

những kẻ thủ phạm chiến tranh, những vấn đề hoà hình và an ninh chung của thế giới đã
bị bỏ rơi, bị tấn công một cách không khoan nhượng, kết cục của cuộc chiến tranh, thái
độ của các lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế, tình hình Irắc sau cuộc chiến ra
sao, chiến lược toàn cầu phản cách mạng mới của đế quốc Mỹ như thế nào? Là những
vấn đề còn nằm rải rác trong các bài báo, mẫu tin, mà trên những khía cạnh khác nhau
chưa được nghiên cứu cụ thể, toàn diện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một bài nghiên cứu khoa hoc lịch sử, đối tượng nghiên cứu của
đề tài này bao gồm: nguyên nhân của cuộc chiến tranh, những diễn biến chính và hậu
quả. Bước đầu chúng tôi rút ra một số nhận xét về cuộc chiến để từ đó rút ra đặc điểm
riêng khác của cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất (1991). Cho đến thời điểm hiện
nay tình hình Irắc còn đang rất phức tạp và nóng bỏng. Đồng thời, do nguồn tài liệu cung
cấp phụ thuộc vào thời gian thực hiện đề tài trong một thời gian ngắn, nên giới hạn của
đề tài này là trong khoảng từ 2/ 8/1990 đến ngày 28/2/1991 là ngày mà Tổng thống
Saddam Hussein ra lệnh ngừng chiến đấu.

Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo khác
nhau, chủ yếu là các bài báo, tạp chí có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, chúng tôi
bước đầu hệ thống hoá bằng các vấn đề theo yêu cầu mà đề tài đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử, phương pháp logic
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 4


Hồ Phước An

DSU130606


- Quan điểm, đường lối của Đảng ta về các vấn đề quan hệ quốc tế, đối ngoại.
Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung chính bài
nghiên cứu gồm có ba chương cơ bản sau đây:
Chương 1: Nguyên nhân của cuộc chiến tranh
1.1 Các quan hệ Iraq – Hoa Kỳ Trước Cuộc Chiến
1.2 Các Nguyên Nhân Cuộc Chiên
1.3 Tóm Tắt Sự Kiện
Chương 2: Diễn biến của cuộc chiến tranh
2.1. Xâm Lược Cô Kuwait
2.2. Động Thái Quốc Tế
2.3. Chiến Dịch Không Quân
2.4. Chiến Dịch Trên Bộ
2.5. Chiến Tranh Kết Thúc
Chương 3: Hậu quả Cuộc Chiến
Kết Luận
Hình Ảnh Cuộc Chiến
Tài Liệu Tham Khảo

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 5


Hồ Phước An

DSU130606

Chương 1: Nguyên Nhân Cuộc Chiến Tranh
Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 (cũng gọi là Chiến tranh vịnh Ba Tư hay Chiến
dịch Bão táp Sa mạc) là một cuộc xung đột giữa Iraq và liên minh gần 30 quốc

gia2 do Hoa Kỳ lãnh đạo và được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để giải phóng Kuwait.
Sự kiện dẫn tới chiến tranh là việc Iraq xâm chiếm Kuwait ngày 2 tháng
8 năm 1990, sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã "khoan
nghiêng" giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay
lập tức bị Liên Hiệp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế. Những hành động quân sự bắt đầu
từ tháng 1 năm 1991, dẫn tới 1 thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng đồng minh, buộc
quân đội Iraq phải rút khỏi Kuwait với tổn thất nhân mạng ở mức tối thiểu cho lực lượng
đồng minh. Những trận đánh chính là những trận đánh trên không và trên bộ bên trong
Iraq, Kuwait và những vùng giáp biên giới Ả Rập Saudi. Cuộc chiến không mở rộng ra
ngoài vùng biên giới Iraq/Kuwait/Ả Rập Saudi, dù Iraq đã bắn tên lửa vào các thành phố
của Israel.
"Chiến tranh vùng Vịnh" và "Chiến tranh vịnh Ba Tư" là những thuật ngữ thường
được dùng nhất để chỉ cuộc xung đột này ở các nước phương Tây. Những cái tên đó đã
được đa số các nhà sử học và nhà báo sử dụng tại Hoa Kỳ. Từ "Chiến dịch Iraq tự do"
ngày 22 tháng 3 năm 2003 và tiếp theo là việc Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq, cuộc xung đột
năm 1991 hiện nay thường được gọi là "Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất". Tại Hoa Kỳ
cuộc xung đột thường được gọi là Chiến dịch "Lá chắn sa mạc" (Desert Shield) và "Bão
táp sa mạc" (Desert Storm) và ở Anh là Chiến dịch Granby. Tại Kuwait và đa số các
nước Ả Rập cuộc xung đột thường được gọi là Harb Tahrir al-Kuwait hay "Chiến tranh
giải phóng Kuwait". Tại Iraq, cuộc chiến thường được gọi là Um M'aārak - "Cuộc chiến
của mọi cuộc chiến".
1.1

Các quan hệ Iraq-Hoa Kỳ trước cuộc chiến

Đối với Hoa Kỳ, Iran-Iraq có các mối quan hệ ổn định và Iraq từng là nước đứng đầu
một liên minh với Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ lo ngại tình trạng thù địch của Iraq với
Israel và sự không tán thành những hành động hướng tới một nền hoà bình với các nước
Ả Rập khác. Họ cũng buộc tội Iraq hỗ trợ cho nhiều nhóm chiến binh Ả Rập và Palestine
2 Có nhiều con số khác nhau về số quốc gia tham gia trong Liên minh tùy theo nguồn. Sự khác nhau có thể là do

không có tiêu chuẩn vệ độ tham gia. Ví dụ về các con số các nhau: an Arab anti-Gulf War essay - 31; CNN - 34; an
Arab media site - 36; the Heritage Foundation (a US conservative thinktank citing a 1991 Department of Defense
report) - 38; US Institute of Medicine report on Gulf War Veterans' Health - 39. Số thành viên Liên minh có thể thấp
đến 19 vào lúc đầu chiến dịch oanh tạc

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 6


Hồ Phước An

DSU130606

như Abu Nidal, dẫn tới việc họ đưa nước này vào danh sách các quốc gia ủng hộ khủng
bố ngày 29 tháng 12 năm 1979. Hoa Kỳ vẫn chính thức giữ thái độ trung lập khi Chiến
tranh Iran-Iraq xảy ra, và trước đó họ từng bị bẽ mặt bởi cuộc khủng hoảng con tin
Iran dài 444 ngày và hy vọng rằng Iran sẽ không thể thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên,
vào tháng 3 năm1982, Iran bắt đầu một cuộc phản công thắng lợi ("Chiến dịch thắng lợi
không thể phủ nhận"). Trong một nỗ lực nhằm mở ra khả năng về những quan hệ có thể
có với Iraq, Hoa Kỳ đã đưa nước này ra khỏi danh sách ủng hộ khủng bố. Bề ngoài việc
này nhờ ở sự cải thiện các chính sách của Iraq, mặc dù cựu Trợ lý bộ trưởng Quốc phòng
Hoa Kỳ Noel Koch sau này đã cho rằng "Không ai có nghi ngờ về việc [người Iraq] tiếp
tục dính dáng tới chủ nghĩa khủng bố... Lý do thực sự là để giúp họ giành thắng lợi trong
cuộc chiến với Iran."
Với thắng lợi mới đạt được của Iran trong cuộc chiến và việc họ từ chối một đề xuất
hoà bình vào tháng 7, việc mua bán vũ khí từ các nước khác (nhiều nhất là Liên
Xô, Pháp, Ai Cập, và bắt đầu từ năm đó là Trung Quốc) đã đạt tới đỉnh điểm năm 1982,
nhưng một trở ngại vẫn còn chưa được giải quyết để có được bất kỳ một mối quan hệ
tiềm năng nào giữa Mỹ-Iraq - Abu Nidal tiếp tục hoạt động với sự hỗ trợ chính thức của
Baghdad. Khi nhóm này bị trục xuất sang Syria vào tháng 11 năm 1983, chính quyền
Reagan đã cử Donald Rumsfeld làm phái viên đặc biệt sang Iraq nhằm thiết lập các mối

quan hệ.
Vì sợ rằng nước Iran cách mạng sẽ đánh bại Iraq và xuất khẩu Cách mạng Hồi giáo
của mình sang các nước Trung Đông khác, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho Iraq. Từ 1983
đến 1990, Chính phủ Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc bán khoảng 200 triệu dollar vũ khí cho
Iraq, theo Viện hoà bình quốc tế Stockholm (SIPRI). Giá trị trên đạt chưa tới 1% tổng giá
trị vũ khí được bán cho Iraq ở giai đoạn này, dù Hoa Kỳ cũng bán máy bay trực thăng,
chỉ được thiết kế cho mục đích dân sự, và chúng nhanh chóng được quân đội Iraq đem ra
sử dụng trong chiến tranh với Iran.
Một cuộc điều tra của Uỷ ban tài chính Thượng nghị viện năm 1994 xác định
rằng Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã phê chuẩn, cho mục đích nghiên cứu, việc bán các tác
nhân sinh họcđa tác dụng cho Iraq hồi giữa thập niên 1980, gồm cả khuẩn bệnh
than (anthrax), sau này bị Lầu năm góc coi là một nhân tố quan trọng trong chương
trình vũ khí sinh học của Iraq, cũng như Clostridium botulinum, Histoplasma
capsulatum, Brucella melitensis và Clostridium perfringens. Báo cáo của Uỷ ban cho
rằng mỗi tác nhân trên đều đã bị "nhiều nước coi là có mục đích sử dụng trong chiến
tranh". Các tài liệu được giải mật của chính phủ Mỹ cho thấy chính phủ đã xác nhận rằng
Iraq đã sử dụng các vũ khí hoá học "hầu như hàng ngày" trong cuộc xung đột Iran-Iraq
ngay từ năm 1983. Chủ tịch Uỷ ban thượng nghị viện, Don Riegle, đã nói: "Nhánh hành
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 7


Hồ Phước An

DSU130606

pháp của chính phủ chúng ta đã phê chuẩn 771 giấy phép xuất khẩu khác nhau cho việc
bán các kỹ thuật đa ứng dụng cho Iraq. Tôi cho rằng đó là một kỷ lục kinh khủng". Có rất
ít bằng chứng cho thấy Iraq từng sử dụng các loại vũ khí sinh học trong chiến tranh và
không một tác nhân sinh học nào trong bản báo cáo trên có liên quan tới các vũ khí hoá
học.

Chủ yếu chính phủ Hoa Kỳ cung cấp viện trợ kinh tế cho Iraq. Cuộc chiến của Iraq
với Iran và sự suy sụp trong sản xuất và buôn bán dầu mỏ của họ - hậu quả của cuộc
chiến đó, đã khiến Iraq rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. Viện trợ kinh tế của chính
phủ Mỹ cho phép Hussein tiếp tục sử dụng các nguồn tài nguyên khác của đất nước cho
chiến tranh. Từ giữa năm 1983 và 1990, Iraq đã nhận được 5 tỷ dollar tín dụng từ chương
trình của Commodity Credit Corporation một tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, bắt
đầu ở mức 400 triệu dollar một năm năm 1983 và tăng tới hơn 1 tỷ một năm
năm 1988 và 1989, cuối cùng kết thúc với khoản tiền 500 triệu năm 1990. Bên cạnh các
khoản tín dụng nông nghiệp, Hoa Kỳ cũng cung cấp cho Hussein các khoản vay khác.
Năm 1985 Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ cấp hơn 684 triệu dollar tín dụng cho Iraq
để xây dựng đường ốngdẫn dầu qua Jordan và việc xây dựng được thực hiện bởi Bechtel
Corporation có trụ sở tại California.
Tuy nhiên, sau chiến tranh đã có nhiều hành động bên trong Hạ nghị viện Hoa
Kỳ nhằm cô lập Iraq về ngoại giao và về kinh tế do những lo ngại về những sự vi
phạm nhân quyền, sự tăng cường quân sự và sự thù địch của Iraq đối với Israel. Đặc biệt,
năm 1988 Thượng nghị viện thống nhất thông qua "Điều luật ngăn chặn diệt chủng năm
1988", áp đặt trừng phạt lên Iraq.
Những hành động đó bị nhiều thành viên Hạ viện phản đối dù một số quan chức Hoa
Kỳ như chủ tịch uỷ ban thành lập chính sách của Bộ ngoại giao và Trợ lý bộ trưởng về
các vấn đề Đông Á Paul Wolfowitz không nhất trí với việc ngừng cung cấp viện trợ cho
chính quyền Iraq.
Quan hệ giữa Iraq và Hoa Kỳ tiếp tục không bị cản trở gì cho tới khi Iraq tấn công
xâm chiến Kuwait. Ngày 2 tháng 10 năm 1989, Tổng thống George H. W. Bush ký một
chỉ thị mật số 26 về an ninh quốc gia, bắt đầu bằng, "Việc tiếp cận tới nguồn dầu mỏ ở
Vịnh Péc xích và an ninh của các quốc gia đồng minh chủ chốt trong vùng là vấn đề sống
còn đối với an ninh Hoa Kỳ." Đối với Iraq, chỉ thị này cho rằng "Những quan hệ bình
thường giữa Hoa Kỳ và Iraq sẽ phục vụ cho những lợi ích lâu dài và thúc đẩy sự ổn định
ở cả Vịnh Péc xích và Trung Đông."

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 8



Hồ Phước An

DSU130606

Cuối tháng 7 năm 1990, khi những cuộc thương lượng giữa Iraq và Kuwait sa lầy,
Quân đội Iraq tập trung tới vùng biên giới với Kuwait và triệu tập Đại sứ Hoa Kỳ April
Glaspie tới một cuộc gặp bất ngờ với Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Hai văn bản về
cuộc gặp đó đã được thảo ra, cả hai rất trái ngược nhau. Theo những văn bản đó, Saddam
phác ra những bất bình của mình đối với Kuwait, trong khi hứa hẹn rằng ông sẽ không
xâm chiếm Kuwait trước khi tiếp diễn những cuộc đàm phán thẳng thắn khác. Ở văn bản
do The New York Times đưa ra ngày 23 tháng 9 năm 1990, Glaspie bày tỏ lo ngại về việc
tăng cường quân sự, nhưng nói:
Chúng tôi không có ý kiến về những cuộc xung đột Ả Rập-Ả Rập, như việc tranh
chấp biên giới giữa Iraq và Kuwait. Tôi đã làm việc tại Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Kuwait
vào cuối những năm '60. Lúc ấy chúng tôi được chỉ thị rằng chúng tôi không được bày tỏ
ý kiến về vấn đề đó và rằng vấn đề đó không liên quan tới nước Mỹ. James Baker đã chỉ
thị cho người phát ngôn chính thức của chúng tôi phải nhấn mạnh điều đó. Chúng tôi hy
vọng rằng Iraq có thể giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng mọi biện pháp thích hợp thông
qua [Chadli] Klibi [khi ấy là Tổng thư ký Liên đoàn Ả Rập hay qua Tổng thống
Mubarak. Tất cả những điều chúng tôi hy vọng là những vấn đề này sẽ được giải quyết
nhanh chóng.
Một số người đã cho rằng những lời bình luận trên theo ngôn ngữ ngoại giao thực tế
là sự "bật đèn xanh" của Mỹ cho cuộc xâm chiếm. Dù bộ ngoại giao không xác nhận (hay
phủ nhận) tích xác thực của những văn bản đó, những nguồn tin tại Hoa Kỳ cho rằng
Glaspie đã giải quyết mọi vấn đề "theo chỉ đạo" (phù hợp với tính trung lập chính thức
của Hoa Kỳ về vấn đề Iraq-Kuwait) và không bật đèn xanh cho Tổng thống Iraq Saddam
Hussein về việc bất chấp thái độ của Liên đoàn Ả Rập, khi ấy đã tổ chức các cuộc thương
lượng. Nhiều người tin rằng những trù tính của Saddam đã bị ảnh hưởng bởi việc nhận

thức được rằng Hoa Kỳ không quan tâm tới vấn đề, vì thế bản ghi chép của Glaspie chỉ
đơn giản là một thứ làm ví dụ và rằng có thể ông ta (Saddam) cũng cảm thấy thế một
phần vì Hoa Kỳ ủng hộ sự thống nhất nước Đức, một hành động khác mà ông cho rằng
chẳng mang ý nghĩa gì hơn sự huỷ bỏ một biên giới nhân tạo ở bên trong. Những người
khác, như Kenneth Pollack, tin rằng Sadddam không hề có ảo tưởng đó, hay rằng ông
đơn giản đã đánh giá thấp khả năng sử dụng quân sự của Hoa Kỳ.
Tháng 11 năm 1989, giám đốc CIA William Webster gặp gỡ lãnh đạo cơ quan an
ninh Kuwait, Thiếu tướng Fahd Ahmed Al-Fahd. Sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Iraq
tuyên bố đã tìm thấy một bản ghi nhớ liên quan tới cuộc trao đổi giữa họ. Tờ The
Washington Post đã thông báo rằng Bộ trưởng Ngoại giao Kuwait đã ngất xỉu khi trông
thấy tài liệu này trong một cuộc họp thượng đỉnh Ả Rập vào tháng 8. Sau này, Iraq cho
rằng bản ghi nhớ này là bằng chứng về một âm mưu của CIA và Kuwait nhằm làm mất
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990 Trang 9


Hồ Phước An

DSU130606

ổn định kinh tế và chính trị Iraq. CIA và Kuwait đã miêu tả cuộc gặp gỡ này là một cuộc
gặp thông thường và bản ghi nhớ chỉ là một sự giả mạo. Một phần của văn bản đó như
sau:
Chúng tôi đồng ý với phía Mỹ rằng điều quan trọng là cần phải làm cho tình trạng
kinh tế ở Iraq xấu đi nữa nhằm tạo áp lực lên chính phủ nước này để vạch ra biên giới
chung của chúng tôi. CIA đã trao cho chúng tôi quan điểm của họ về các biện pháp gây
áp lực, cho rằng cần phải có một sự hợp tác rộng rãi giữa chúng ta về điều kiện theo đó
các hành động như vậy sẽ được phối hợp ở một mức cao hơn
1.2

Các Nguyên Nhân Cuộc Chiến


Trước Thế chiến thứ nhất, theo Hiệp định Anh-Ottoman năm 1913, Kuwait bị coi là
một "caza tự trị" bên trong Iraq của Đế chế Ottoman. Sau cuộc chiến, Kuwait thuộc
quyền cai trị của Anh và nước này coi Kuwait và Iraq là hai quốc gia riêng biệt, được gọi
là Các Tiểu Vương quốc Ả Rập. Tuy nhiên, những quan chức Iraq không chấp nhận tính
hợp pháp của nền độc lập của Kuwait hay chính quyền Emir tại Kuwait. Iraq không bao
giờ chấp nhận chủ quyền của Kuwait và vào thập kỷ 1960 Anh đã phải triển khai quân
đội để bảo vệ Kuwait khỏi ý định sáp nhập của Iraq.
Trong Chiến tranh Iran-Iraq ở thập niên 1980, Kuwait là đồng minh của Iraq, phần
lớn là để được Iraq bảo vệ khỏi những người Shi'ite ở Iran. Sau cuộc chiến, Iraq nợ các
nước Ả Rập nhiều khoản tiền lớn, trong đó có 14 tỷ dollar nợ Kuwait. Iraq hy vọng sẽ trả
được những khoản nợ đó khi làm tăng giá dầu mỏ thông qua việc cắt giảm sản lượng khai
thác của OPEC, nhưng thay vào đó, Kuwait lại tăng lượng khai thác của mình khiến giá
dầu giảm sút, trong một nỗ lực nhằm kích thích có được một giải pháp giải quyết tốt hơn
cho việc tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước. Ngoài ra, Iraq bắt đầu buộc tội Kuwait
đã khoan nghiêng vào các giếng dầu của họ ở vùng biên giới và cho rằng vì Iraq là nước
đệm chống lại Iran bảo vệ cho toàn bộ các nước Ả Rập nên Kuwait và Ả Rập Saudi phải
đàm phán hay huỷ bỏ những khoản nợ cho chiến tranh của Iraq. Hai lý do ban đầu Tổng
thống Iraq Saddam Hussein đưa ra để biện hộ cho cuộc chiến là để xác nhận việc Kuwait
từng là một phần của lãnh thổ Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân tách ra một cách không
công bằng, và Iraq sáp nhập Kuwait để bù "phí tổn kinh tế" khi họ phải bảo vệ Kuwait
trước Iran cũng như việc Kuwait đã khoan nghiêng vào các giếng dầu của họ.
Cuộc chiến với Iran đã khiến hầu hết tất cả các cơ sở cảng biển của Iraq ở Vịnh Ba
Tư bị huỷ hoại, khiến cho con đường giao thương chính của nước này với bên ngoài bị
cản trở. Nhiều người Iraq, cho rằng cuộc chiến với Iran sẽ lại tái diễn trong tương lai,
cảm thấy rằng an ninh của Iraq chỉ được đảm bảo khi họ kiểm soát thêm được vùng vịnh
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 10


Hồ Phước An


DSU130606

Péc xích, gồm cả những cảng biển quan trọng. Chính vì thế Kuwait chính là một mục
tiêu.
Về ý thức hệ, cuộc xâm chiếm Kuwait được biện hộ bởi những lời kêu gọi của chủ
nghĩa quốc gia Ả Rập. Kuwait từng được coi là một phần lãnh thổ tự nhiên của Iraq và đã
bị chủ nghĩa thực dân Anh tách ra. Việc sáp nhập Kuwait được miêu tả như là một bước
trên con đường tiến tới một Liên hiệp Ả Rập rộng lớn hơn. Các lý do khác cũng được đưa
ra. Hussein coi đó là một cách để khôi phục Đế chế Babylon theo cách khoa trương của
những người Ả Rập theo chủ nghĩa quốc gia. Cuộc xâm chiếm cũng có quan hệ chặt chẽ
với các sự kiện ở vùng Trung Đông. Phong trào Intifada lần thứ nhất của
người Palestine đang ở cao trào, và hầu hết các nước Ả Rập, gồm cả Kuwait, Ả Rập
Saudi và Ai Cập, đang phải phụ thuộc vào các nước đồng minh phương Tây. Vì thế
Saddam xuất hiện với vai trò là một chính khách Ả Rập đứng lên chống lại Israel và Hoa
Kỳ.
Quan hệ Iraq - Kuwait đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, nhưng với tư cách
là hai quốc gia độc lập mới thực sự chỉ bắt đầu sau khi Iraq tiến hành cuộc cách mạng
chống đế quốc, lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế năm 1958 và khi Kuwait tuyên bố độc
lập năm 1961. Tuy nhiên, những hậu quả nặng nề trên nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề lãnh
thổ không rõ ràng do các thế lực phong kiến, đế quốc gây ra đã dẫn đến những mâu
thuẫn, bất đồng kéo dài giữa hai nước. Điều đó giải thích nguyên nhân sâu xa việc Iraq
đem quân xâm lược Kuwait - một quốc gia cùng trong cộng đồng các nước Arập - để rồi
chấp nhận một cuộc đối đầu không cân sức với Mỹ và liên quân.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, sau khi phát hiện ra nguồn dầu lửa
to lớn, Trung Đông trở thành “miếng mồi” của các cường quốc phương Tây. Ở chiều
ngược lại, để tồn tại, các nước Trung Đông - Vùng Vịnh cũng tìm cách dựa vào các thế
lực phương Tây. Đây chính là điều kiện lý tưởng để các nước phương Tây xâm nhập và
tranh giành ảnh hưởng tại khu vực rộng lớn nhiều tài nguyên này. Năm 1958, nước Cộng
hòa Iraq ra đời. 3 năm sau, Kuwait cũng tuyên bố độc lập và tham gia Liên đoàn Arập và

Liên hợp quốc, nhưng phía Iraq đã không công nhận đường biên giới thiếu rõ ràng với
Kuwait. Quan hệ hai nước còn bất đồng về chủ quyền đối với hai hòn đảo Warbah và
Bubiyan phía tây vịnh Persian. Năm 1973, Iraq chiếm một đồn biên phòng của Kuwait,
nhưng sau đó buộc phải rút quân do sự phản đối mạnh mẽ của các nước Arập. Năm 1975,
hai bên ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết những bất đồng trên hai vấn đề lớn là biên
giới và chủ quyền hải đảo, nhưng không đi đến kết quả.
Trong những năm 80, quan hệ hai nước có chiều hướng bớt căng thẳng vì Iraq mải
lo chiến tranh với Iran. Trong cuộc chiến đẫm máu này, với tư cách là “anh em Arập”,
Kuwait đứng về phía Iraq, tài trợ cho Iraq 17 tỷ USD để tiến hành chiến tranh chống lại
một nước phi Arập. Trớ trêu thay khi chiến tranh Iraq - Iran kết thúc thì cũng là lúc bất
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 11


Hồ Phước An

DSU130606

đồng giữa Iraq và Kuwait nổi lên. Trong cuộc họp thượng đỉnh của Liên đoàn Arập tại
Bagdad (5/1990), Tổng thống Iraq Sadam Hussein tố cáo các nước Arập, đặc biệt là
Kuwait sản xuất dầu quá mức hạn định, khiến giá dầu thô hạ, gây thiệt hại cho Iraq.
Hussein đòi các nước Arập phải xóa nợ viện trợ cho nước này.
Sau đó, phía Iraq còn tố cáo Kuwait khai thác dầu mỏ ở Rumaila, vùng đất vẫn
đang tranh chấp giữa hai nước. Để giải quyết những bất đồng giữa hai bên, một số nước
Arập như Ai Cập, Saudi Arabia… đã tiến hành các hoạt động hòa giải. Nhưng chính
trong giai đoạn này, Iraq bắt đầu triển khai lực lượng quân sự ở vùng biên giới. Đến ngày
30/7/1990, Iraq đã tập trung khoảng 10 vạn quân, 300 xe tăng, 300 khẩu pháo hạng nặng,
tiến hành lập các tuyến tiếp tế phục vụ cho việc triển khai lực lượng, phương tiện chiến
tranh. Mục đích của việc này là gây áp lực với Kuwait trên bàn đàm phán, nhưng cũng là
hành động sẵn sàng đánh chiếm Kuwait khi thương lượng thất bại. Và thực tế cuộc đàm
phán giữa hai nước ngày 30/7/1900 tại Jeddah (Saudi Arabia) hoàn toàn bế tắc do lập

trường khác biệt giữa hai bên
1.3

Tóm Tắt Cuộc Chiến

Ngày 2 tháng 8 năm 1990: Quân đội Iraq tiến vào Kuwait. Hội đồng Bảo an LHQ
lên án cuộc xâm lược của Iraq và đòi rút ngay lập tức và không điều kiện các lực lượng
của Iraq ra khỏi Kuwait
Ngày 6 tháng 8 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ kêu gọi các nước thành viên LHQ
ngừng buôn bán với Iraq để buộc Iraq phải rút quân khỏi Kuwait.
Ngày 8 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố sát nhập Kuwait vào Iraq. Tổng thống Mỹ
Bush nói các lực lượng chiến đấu đang được triển khai như một bộ phận của các lực
lượng đa quốc gia để bảo vệ Ả Rập Saudi.
Ngày 12 tháng 8 năm 1990: Tổng thống Iraq Saddam Hussein công bố đề nghị hoà
bình gắn việc rút quân đội Iraq với việc rút các lực lượng Israel ra khỏi bờ tây sông
Jordan và Dải Gaza và vấn đề Palestine.
Ngày 18 tháng 8 năm 1990: Iraq tuyên bố bắt giữ tất cả người nước ngoài. Hội đồng
bảo an LHQ kêu gọi trả tự do không điều kiện cho những người nước ngoài.
Ngày 9 tháng 9 năm 1990: Tổng thống Mỹ Bush và tổng thống Liên
Xô Gorbachyov kêu gọi rút hoàn toàn và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi
Kuwait.

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 12


Hồ Phước An

DSU130606

Ngày 8 tháng 11 năm 1990: Mỹ quyết định gửi thêm 200.000 quân sang Ả Rập

Saudi.
Ngày 29 tháng 11 năm 1990: Hội đồng bảo an LHQ cho phép sử dụng tất cả những
biện pháp can thiệp nếu Iraq không chịu rút quân ra khỏi Kuwait vào ngày 15 tháng 1
năm 1991.
Ngày 6 tháng 12 năm 1990: Iraq tuyên bố trả lại tự do cho các con tin người nước
ngoài.
Ngày 9 tháng 1 năm 1991: Ngoại trưởng Mỹ J Baker và ngoại trưởng Iraq Tareq
Aziz gặp nhau tại Genève, Thụy Sĩ nhưng không phá vỡ được bế tắc.
Ngày 13 tháng 1 năm 1991: Tổng thư ký LHQ Javier Pérez de Cuéllar gặp Hussein
ở Bagdad nhưng không đạt được tiến bộ cho một giải pháp hoà bình.
Ngày 15 tháng 1 năm 1991: Nghị quyết của hội đồng bảo an LHQ đề ra thời hạn cuối
cùng cho việc Iraq rút khỏi Kuwait.
Ngày 17 tháng 1 năm 1991: Các lực lượng đa quốc gia bắt đầu mở các cuộc tiến
công chống quân đội Iraq chiếm đóng Kuwait.
Ngày 18 tháng 1 năm 1991: Iraq bắt đầu các cuộc tiến công bằng tên lửa Scud vào
Israel và Ả Rập Saudi.
Ngày 25 tháng 1 năm 1991: Hoa Kỳ nói Iraq đang xả dầu thô vào vùng Vịnh.
Ngày 30 tháng 1 năm 1991: Lực lượng Iraq và đa quốc gia tiến hành cuộc chiến đấu
trên bộ ở thành phố Kháp-gi biên giới Ả Rập Saudi
Ngày 13 tháng 2 năm 1991: Nhiều dân thường chết trong cuộc oanh kích của không
quân Hoa Kỳ vào một hầm trú ẩn ở BaSra.
Ngày 15 tháng 2 năm 1991: Iraq thông báo sẵn sàng rút khỏi Kuwait nhưng lại gắn
với việc đòi Ixraen cũng phải rút khỏi những vùng lãnh thổ đã chiếm đóng của các nước
Ả Rập.
Ngày 21 tháng 2 năm 1991: Tổng thống Saddam Hussein kêu gọi các lực lượng vũ
trang và quân đội Iraq chiến đấu tới cùng chống các lực lượng liên minh.
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 13


Hồ Phước An


DSU130606

Ngày 22 tháng 2 năm 1991: Liên Xô và Iraq thoả thuận về đề nghị hoà bình do Liên
Xô đưa ra nhưng Hoa Kỳ bác bỏ đề nghị đó và đòi Iraq phải rút quân vào trưa 23 tháng 2
năm 1991.
Ngày 24 tháng 2 năm 1991: Liên minh do Hoa Kỳ đứng đầu mở cuộc tiến công trên
bộ.
Ngày 25 tháng 2 năm 1991: Iraq bắn tên lửa vào các doanh trại Quân đội Hoa Kỳ
làm chết 28 lính và bị thương nhiều binh sĩ khác.
Ngày 26 tháng 2 năm 1991: Iraq tuyên bố quân đội sẽ rút khỏi Kuwait vào cuối ngày
26 tháng 2 năm 1991.
Ngày 27 tháng 2 năm 1991: Hoa Kỳ tuyên bố Kuwait được giải phóng sau gần 7
tháng bị Iraq chiếm đóng và tuyên bố ngừng các cuộc tiến công của đồng minh, bắt đầu
có hiệu lực từ 5 giờ GMT ngày 28 tháng 2 năm 1991. Iraq chấp nhận toàn bộ 12 nghị
quyết của Hội đồng Bảo an LHQ.
Ngày 28 tháng 2 năm 1991: Chiến tranh chấm dứt sau khi tổng thống Saddam
Hussein ra lệnh ngừng chiến đấu.

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 14


Hồ Phước An

DSU130606

Chương 2: Diễn Biến Của Cuộc Chiến Tranh
2.1 Xâm Lược Cô KUWAIT
Có thể nói, việc Iraq đưa quân vào Kuwait là hành động vi phạm chủ quyền của
một quốc gia độc lập, vi phạm luật pháp quốc tế. Không có lý do chính đáng nào giải

thích cho hành động này của Iraq. Vậy mục tiêu, ý đồ của Iraq là gì?
Trước hết, theo như Tổng thống Sadam Hussein tuyên bố ngày 25/8/1990:
“Kuwait là một vật cản khiến Iraq không có lối ra biển”. Trên thực tế, hai đảo Warbah và
Bubiyan thuộc Kuwait nằm án ngữ hầu hết 29 km bờ biển của Iraq, chặn con đường giao
thông từ cảng Umm Qasr của Iraq ra Vịnh Persian. Như vậy, Iraq chiếm Kuwait chính là
thực hiện mục tiêu “mở đường thông ra biển” hoặc ít nhất cũng thành lập được một chính
phủ ở Kuwait thân Iraq, sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi của nước này vô điều kiện.
Việc tồn tại một chính phủ thân với mình như vậy phù hợp với yêu cầu của Iraq
trên mọi phương diện. Một là, Iraq không bị lên án là xâm lược vì đã đưa quân vào
Kuwait để xóa bỏ một thể chế quân chủ lỗi thời. Hai là, bằng việc thương lượng với
chính phủ Kuwait dưới sự bảo trợ của mình, Iraq có thể mở rộng cảng Umm Qasr, một
đầu mối quan trọng giúp phát triển kinh tế nước này. Ba là, vấn đề biên giới giữa hai
nước sẽ được giải quyết dễ dàng và có lợi cho Iraq.
Một mục tiêu không kém phần quan trọng của Iraq là nếu sáp nhập Kuwait với lý
do “thu lại phần lãnh thổ bị mất” thì nghiễm nhiên Iraq có thêm một nguồn dầu lửa khổng
lồ, chiếm 20% trữ lượng dầu lửa thế giới. Mặt khác, Kuwait là một nước giàu có hơn hẳn
Iraq với hàng trăm tỷ USD gửi ở các ngân hàng nước ngoài, lợi tức hàng năm khoảng 8,8
tỷ USD sẽ giúp Iraq bù vào sự thiếu hụt ngân sách do nền kinh tế bị suy sụp sau cuộc
chiến với Iran trước đó. Chính những toan tính trên đã dẫn Tổng thống Iraq lúc đó có
quyết định sai lầm, nguy hiểm. Để biện minh cho hành động tấn công Kuwait, ông
Hussein nói: “Sự can thiệp của Iraq vào Kuwait cho phép chấm dứt sự phân chia giàu
nghèo giữa thiểu số giàu có và đa số nghèo khó”.
Cuối cùng, mục tiêu bao trùm nhất mà Iraq theo đuổi từ lâu là trở thành một cường
quốc trong khu vực có khả năng chi phối Vùng Vịnh và các nước Arập, hay nói cách
khác, Iraq là người lãnh đạo, là “thanh mã tấu” của thế giới Arập. Trên thực tế, Iraq đã là
một cường quốc quân sự tại Vùng Vịnh và cả Trung Đông. Với 1 triệu quân, 6.000 xe
tăng và xe bọc thép các loại, gần 700 máy bay chiến đấu hiện đại, sản xuất được vũ khí
hóa học, sinh học và triển khai một số cơ sở nghiên cứu vũ khí hạt nhân… không một
nước Arập nào, kể cả Ai Cập, đạt được tiềm lực quân sự lớn như vậy vào thời điểm đó.
Với ý đồ và tham vọng của mình, quyết tâm chiếm Kuwait của Iraq được củng cố

thêm bằng hành động dường như “bật đèn xanh” của Mỹ. Thông qua đường ngoại giao,
Mỹ khẳng định (25/7/1990): “Không có ý kiến gì về những cuộc xung đột giữa các nước
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 15


Hồ Phước An

DSU130606

Arập”. Đặc biệt, trước Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ John
Kelly lúc đó nói: “Chúng ta ủng hộ nền độc lập và an ninh của các nước bạn trong khu
vực. Chúng ta đã duy trì lực lượng hải quân tại đây nhưng chúng ta không có hiệp ước
phòng thủ với các nước Vùng Vịnh. Điều này là rõ ràng”. Phải chăng đó là những tín hiệu
về sự “không can thiệp” của Mỹ?
Tờ Newsweek tháng 3/1991 đã đăng bài phát biểu của một nghị sĩ Mỹ trong đó
tiết lộ cuộc mặc cả giữa Tổng thống Saddam Hussein với Tổng thống Ai Cập Mubarak
ngay từ tháng 5/1990 rằng: “Chúng ta sẽ đưa quân vào Saudi Arabia và Kuwait để lập lại
sự bình đẳng về lợi ích kinh tế trong vùng”. Trước đó, ông Hussein cũng nói với vua
Fahd của Saudi Arabia rằng “không có gì phải áy náy về việc cho rằng Vùng Vịnh không
nên có các quốc gia nhỏ, phải sáp nhập họ vào các quốc gia lớn”.
Rõ ràng, việc Iraq có ý định đưa quân vào Kuwait đã được “2 người bạn” (Ai Cập
và Saudi Arabia) của Mỹ biết trước và vì thế Mỹ không thể không biết. Song xuất phát từ
ý đồ “lập lại trật tự, củng cố quyền lợi ở Trung Đông”, Mỹ không những không có hành
động ngăn chặn mà còn đẩy nhanh quá trình Iraq xâm lược Kuwait.
Ngay cả khi Iraq, trước sự phản đối của dư luận, tuyên bố rút một phần lực lượng
khỏi Kuwait, nhưng Mỹ vẫn không từ bỏ việc sử dụng sức mạnh quân sự, vẫn đưa quân
đến Vùng Vịnh. Tại sao vậy? Phải chăng đây là một cơ hội có một không hai để Mỹ “thủ
tiêu” Iraq - mối đe dọa đối với lợi ích của Mỹ ở Trung Đông? Quả thực, thế giới không
có lợi ích gì trong việc “khôi phục ngai vàng” của quốc vương Kuwait mà chỉ quan tâm
đến việc “giá dầu có theo giá thị trường” hay không.

Có thể khẳng định rằng việc đưa quân vào Kuwait của Iraq không nằm ngoài dự kiến
của Mỹ và vì vậy Mỹ tìm mọi cách đẩy Iraq vào một tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, từ
đó tạo cớ đánh Iraq. Không phải ngẫu nhiên mà người đứng đầu tòa thánh Vatican lúc đó,
Giáo hoàng Paul II lại khẳng định: “Mưu toan đẩy tới một cuộc chiến tranh đã có từ rất
lâu, trước khi Iraq xâm lược Kuwait”
Ngày 2/8/1990, sau 1 ngày cuộc thương lượng không thành, quân đội Iraq tiến
hành đánh chiếm Kuwait. Đúng 1 giờ sáng, 3 sư đoàn của bộ chỉ huy các lực lượng Vệ
binh cộng hòa (RGFC) đã vượt biên giới tấn công vào Kuwait, một sư đoàn bộ binh cơ
giới và một sư đoàn thiết giáp thực hiện cuộc tấn công theo hướng nam dọc theo trục
Sapwan-Abdally, tiến tới đèo Al-Jalra. Một sư đoàn thiết giáp khác tấn công yểm trợ từ
phía tây. Cùng lúc, vào 1 giờ 30 phút, một lực lượng tác chiến đặc biệt thực hiện cuộc tấn
công đầu tiên vào thủ đô Kuwait City - một cuộc tấn công bằng trực thăng vào các cơ sở
chủ chốt của chính phủ Kuwait.
Trong khi đó, các đội biệt kích đổ bộ bằng đường biển tấn công vào cung điện của
quốc vương và các cơ sở quan trọng khác của Kuwait. Quốc vương nước này đã kịp trốn
sang Saudi Arabia, nhưng người em trai của ông bị sát hại trong khi quân Iraq tấn công
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 16


Hồ Phước An

DSU130606

vào cung điện Dasman. Đến tối 2/8, xe tăng của Iraq đã tiến về phía nam dọc theo bờ
biển để đánh chiếm những hải cảng.
Các lực lượng vũ trang của Kuwait đã không thể chống chọi lại một lực lượng tập
trung và bị đánh quỵ một cách vô vọng. Một vài đơn vị phải rút sang biên giới với Saudi
Arabia do tuyến phòng thủ bị vỡ, máy bay Kuwait thì chỉ thực hiện được những vụ không
kích có giới hạn vì hai sân bay quân sự chính của nước này đã bị quân Iraq chiếm.
Đến giữa trưa 3/8, quân Iraq đã chiếm được các vị trí gần biên giới với Saudi

Arabia. Ngày 4/8, xe tăng của Iraq thiết lập các vị trí phòng thủ. Hàng trăm xe hậu cần di
chuyển người, đạn dược và đồ tiếp tế xuống phía nam, các sư đoàn bộ binh được triển
khai ở vùng biên giới vào cuối tháng 7 đã di chuyển chiếm đóng Kuwait City và đảm bảo
được tuyến liên lạc ban đầu đi và đến vùng phía nam của Iraq.
Ngày 6/8, quân Iraq tiếp tục củng cố và bổ sung lực lượng. Vào thời điểm này, ít
nhất 11 sư đoàn Iraq đã ở hoặc đang tiến vào Kuwait với quân số lên tới 200.000 người,
được trên 2.000 xe tăng yểm trợ. Hai ngày sau, Saddam Hussein thông báo sáp nhập đất
nước nhỏ bé Kuwait thành “tỉnh thứ 19” của Iraq.

2.2 Động Thái Quốc Tế
Cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh được khởi đầu với việc Iraq tấn công Kuwait là một
hành động gây bất ngờ đối với các thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA
LHQ). Phản ứng hầu như đồng loạt của các nước được thể hiện thông qua thái độ bỏ
phiếu thuận đối với Nghị quyết (NQ) 660 lên án việc đánh chiếm Kuwait.
Thái độ của Anh và Pháp (2 trong số 5 nước ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo
An) về cơ bản là giống nhau và có khuynh hướng tận dụng tối đa việc gây sức ép để buộc
Iraq nhượng bộ, hơn là sử dụng vũ lực. Hai nước này e ngại cuộc đối đầu quân sự, nếu
xảy ra với quy mô lớn, có thể gây ra thảm họa và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích lâu dài
của họ ở Vùng Vịnh. Vì vậy, trong suốt cả thời kỳ trước khi chiến sự giữa Iraq và liên
quân bùng nổ, Anh và nhất là Pháp cũng có những nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình
cho cuộc xung đột. Ngay khi cuộc chiến tranh Iraq xảy ra, các nước cũng tuyên bố là để
giải phóng Kuwait chứ không phải để tấn công Iraq.
Với 2 nước ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An khác, trong thời gian này, Liên
Xô đang có những khó khăn nội bộ, công khai tuyên bố không cử binh sỹ tham gia liên
quân, trừ trường hợp lực lượng này đặt dưới sự chỉ huy của Liên Hiệp Quốc. Mặc dù tán
thành việc sử dụng vũ lực buộc Iraq tuân thủ Nghị Quyết của Hội Đồng Bảo An nếu các
biện pháp hòa bình không mang lại kết quả, nhưng Liên Xô vẫn có nhiều nỗ lực ngoại
giao nhằm trì hoãn việc bùng nổ chiến tranh và cảnh cáo hành động vũ trang của liên
quân chống Iraq “có nguy cơ vượt quá quyền hạn mà Nghị Quyết của Liên Hiện Quốc đề
ra”.

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 17


Hồ Phước An

DSU130606

Cũng vậy, Trung Quốc vừa thoát khỏi sự kiện Thiên An Môn, lợi ích chiến lược
lúc này là cải thiện quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Nhật, Liên Xô và khu vực Tây Âu
nên mặc dù có quan hệ với Iraq, Trung Quốc vẫn chấp nhận thỏa hiệp với các nước thành
viên thường trực khác của Hội Đồng Bảo An. Trung Quốc một mặt tìm cách ngăn ngừa
sử dụng vũ lực tấn công Iraq, mặt khác do lợi ích của mình nên đã chọn giải pháp có lợi
nhất là bỏ phiếu thuận các Nghị Quyết lên án Iraq và bỏ phiếu trắng Nghị Quyết 678 cho
phép sử dụng vũ lực chống Iraq.
Thái độ của các nước thành viên không thường trực Hội Đồng Bảo An cũng theo hướng
phản đối Iraq.
Nhóm phương Tây phát triển như Canada, Áo, Phần Lan đồng nhất với Mỹ vì có
lợi ích tương tự ở Vùng Vịnh. Đối với các nước đang phát triển, việc thôn tính Kuwait
của Iraq là hành động đi ngược lại với xu thế chung, nhất là đối với các nước nhỏ, đặt họ
trước những nguy cơ bị thôn tính bằng vũ lực, cản trở tiến trình giải quyết các cuộc tranh
chấp khu vực bằng biện pháp hòa bình. Trong khi đó, nhân danh Liên Hiệp Quốc , Mỹ
một mặt tuyên bố sẵn sàng cho mọi giải pháp đồng thời tích cực cô lập Iraq, tập hợp liên
minh chống Iraq và động viên một lực lượng quân sự khổng lồ đến Vùng Vịnh. Có nhiều
nguyên nhân kinh tế, chính trị đã thúc đẩy Mỹ đứng ra đảm nhận vai trò “cầm cờ” trong
cuộc chiến chống Iraq.
Cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới. Ngay khi
khủng hoảng xảy ra, giá dầu mỏ ở hầu hết các nơi trên thị trường thế giới đều tăng vọt,
dẫn đến một cuộc khủng hoảng năng lượng mới, khiến nền kinh tế nhiều nước lao đao vì
sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu. Đáng chú ý là khủng hoảng Vùng Vịnh diễn ra trong
bối cảnh kinh tế Mỹ đang đứng bên bờ vực suy thoái. Đây là một trong những nguyên

nhân trực tiếp khiến Mỹ phản ứng nhanh chóng và đưa một lực lượng lớn quân đội vào
Vùng Vịnh.
Mặt khác, từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ ra sức gạt bỏ vai trò của Anh,
Pháp ở khu vực Trung Đông, dùng Israel và Iran làm chỗ dựa cho việc thực hiện ý đồ
khống chế khu vực. Nhưng cách mạng Iraq (1958) và Iran (1979) đã làm hỏng tính toán
đó của Mỹ. Ngoài ra, Iraq, với một lực lượng quân đội hùng mạnh ở Trung Đông, có khả
năng làm “đối trọng” với đồng minh của Mỹ trong khu vực là Israel. Đặc biệt, giới lãnh
đạo Iraq từ lâu đã theo đuổi chính sách đối ngoại không phù hợp với lợi ích của Mỹ, vì
vậy Iraq đã trở thành “vật cản” đối với chiến lược của Washington tại khu vực.
Mục tiêu tiếp theo của Mỹ, thông qua việc tiến hành chiến tranh, là khống chế khu
vực dầu mỏ giàu có của Vùng Vịnh, vốn chiếm hơn 30% sản lượng dầu mỏ của thế giới,
từ đó khống chế Nhật Bản và Tây Âu - những nước phụ thuộc lớn vào nguồn dầu mỏ
Vùng Vịnh, buộc những đối thủ kinh tế này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ.
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 18


Hồ Phước An

DSU130606

Cuối cùng, thông qua việc khuất phục Iraq, Mỹ có thể khẳng định vai trò siêu
cường duy nhất trên thế giới đồng thời có cơ hội thử nghiệm những loại vũ khí hiện đại.
Đó là những lý do giải thích tại sao Mỹ đã cứng rắn, phản ứng nhanh chóng, quyết liệt và
không khoan nhượng đối với hành động của Iraq, bất chấp những nỗ lực hòa bình của các
nước khác và bất chấp cả việc vượt quá phạm vi cho phép của Nghị Quyết của Hội Đồng
Bảo An.
Trong thời gian Iraq mang quân xâm chiếm Kuwait đến trước khi liên quân do Mỹ
đứng đầu phát động cuộc tấn công chống Iraq (2/8/1990 - 15/1/1991), Hội Đồng Bảo An
đã thông qua liên tiếp 12 Nghị Quyết liên quan đến cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh. Nhìn
chung, những Nghị Quyết này đều khẳng định đây là một hành động phá hoại hòa bình,

an ninh quốc tế và yêu cầu Iraq rút quân ngay lập tức ra khỏi Kuwait vô điều kiện, đồng
thời yêu cầu hai nước đàm phán ngay để giải quyết bất đồng. Xét về bối cảnh quốc tế và
khu vực, Iraq mất chỗ dựa Liên Xô trước đây, không có đồng minh, bị cô lập cao độ về
ngoại giao và bị phong tỏa về kinh tế, nên hết sức bất lợi.
Tổng thống George H. W. Bush nhanh chóng thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ tung ra
một chiến dịch "bảo vệ toàn diện" nhằm ngăn chặn Iraq tấn công Ả Rập Saudi – "Chiến
dịch Lá chắn sa mạc" – và quân đội Hoa Kỳ được chuyển tới Ả Rập Saudi ngày 7 tháng
8. Ngày 8 tháng 8, Iraq tuyên bố một số phần lãnh thổ Kuwait sẽ bị sáp nhập vào
quận Basra và phần còn lại trở thành tỉnh thứ 19 của Iraq.
Hải quân Hoa Kỳ huy động hai nhóm tàu chiến, USS Dwight D.
Eisenhower và USS Independence tới khu vực, và họ đã ở tình trạng sẵn sàng vào ngày 8
tháng 8. Cũng trong ngày hôm đó, 48 chiếc F-15 thuộc Không lực Hoa Kỳ từ 1st Fighter
Wing tại Căn cứ không quân Langley, Virginia, đã hạ cánh xuống Ả Rập Saudi và ngay
lập tức bắt đầu tiến hành tuần tra trên những vùng không phận biên giới Ả Rập Saudi và
Iraq nhằm ngăn chặn đà tiến của quân đội Iraq. Hoa Kỳ cũng gửi những thiết giáp
hạm USS Missouri và USSWisconsin vào trong vùng, sau này chúng sẽ là những tàu
chiến cuối cùng tham gia tích cực vào cuộc chiến. Việc huy động quân sự tiếp tục diễn ra,
cuối cùng đã lên tới 500.000 quân. Những nhà phân tích quân sự nhất trí rằng tới tháng
10, quân đội Mỹ trong vùng chưa đủ sức để ngăn chặn cuộc tấn công (nếu có) của Iraq
vào Ả Rập Saudi.
Cùng lúc ấy hàng loạt những nghị quyết của Hội đồng bảo an và Liên đoàn Ả Rập
được đưa ra về cuộc xung đột. Một trong những nghị quyết quan trọng nhất là Nghị quyết
678 của Liên Hiệp Quốc, thông qua ngày 29 tháng 11, trao cho Iraq hạn chót để rút quân
là ngày15 tháng 1 năm 1991, và cho phép sử dụng "mọi biện pháp cần thiết để duy trì và
thực hiện Nghị quyết 660", một công thức ngoại giao có nghĩa là cho phép sử dụng vũ
lực.
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 19


Hồ Phước An


DSU130606

Hoa Kỳ, đặc biệt là Ngoại trưởng James Baker, tập hợp các lực lượng đồng minh
chống lại Iraq, gồm lực lượng từ 34nước:
Afghanistan, Argentina, Australia, Bahrain, Bangladesh, Canada, TiệpKhắc, Đan
Mạch, Ai Cập, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary,Honduras, Ý, Kuwait, Maroc, Hà Lan, New
Zealand, Niger, Na Uy, Oman, Pakistan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Qatar, Ả Rập Saudi,
Sénégal, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập
Thống nhất, Anh và chính Hoa Kỳ.
Quân đội Mỹ chiếm 74% trong số 660.000 lính trước chiến tranh. Nhiều lực lượng
đồng minh bất đắc dĩ phải tham gia; một số cảm thấy rằng cuộc chiến là công việc nội bộ
của Ả Rập, hay lo ngại sự tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Kuwait. Cuối cùng, nhiều
nước đã bị thuyết phục khi chứng khiến sự hiếu chiến của Iraq đối với các nước Ả Rập
khác, và khi được hứa hẹn viện trợ kinh tế cũng như giảm nợ.
Hoa Kỳ đưa ra nhiều lí do biện minh cho việc dính líu vào cuộc xung đột. Lý lẽ
đầu tiên là tầm quan trọng của mối quan hệ liên minh lâu dài với Ả Rập Saudi. Tuy nhiên,
một số người Mỹ không bằng lòng với cách giải thích đó và khẩu hiệu "Không đổi máu
lấy dầu" đã trở thành tiếng kêu thường thấy nhất trong các cuộc biểu tình phản đối từ bên
trong nước Mỹ, dù chúng không bao giờ đạt tới tầm cao như phong trào phản chiến
trong Chiến tranh Việt Nam. Lý do tiếp sau cho cuộc chiến là lịch sử vi phạm nhân quyền
của Iraq dưới chế độ Tổng thống Saddam Hussein, nguy cơ Iraq có thể phát triển vũ khí
hạt nhân hay vũ khí huỷ diệt hàng loạt và rằng "sự gây hấn lộ liễu sẽ không có chỗ đứng".
Dù những vụ vi phạm nhân quyền của chính quyền Iraq trước và sau khi xâm
chiếm Kuwait được ghi chép rất nhiều, chính phủ Kuwait đã bị ảnh hưởng từ quan điểm
của Hoa Kỳ trong một số vấn đề. Ngay sau khi Iraq chiếm Kuwait, tổ chức Các công dân
cho một nước Kuwait tự do đã được thành lập ở Mỹ. Nó thuê công ty quan hệ công
chúng Hill and Knowlton với giá 11 triệu dollar do chính phủ Kuwait cung cấp. Công ty
này bắt đầu tạo ra một chiến dịch miêu tả các binh sĩ Iraq là đã lôi những đứa trẻ ra khỏi
lồng ấp trong các bệnh viện Kuwait và để chúng chết dưới sàn. Tuy nhiên, một năm sau

luận điệu này đã bị khám phá ra là giả dối. Người đã làm chứng cho việc đó hoá ra là một
thành viên của Gia đình hoàng gia Kuwait sống tại Paris khi xảy ra chiến tranh, và vì thế
không thể có mặt ở Iraq vào thời điểm xảy ra cái gọi là tội ác.
Nhiều sáng kiến hoà bình đã được đưa ra nhưng không được chấp nhận. Hoa Kỳ
nhấn mạnh rằng những giải pháp duy nhất có thể chấp nhận được để có hoà bình toàn
diện với Iraq, là việc rút quân không điều kiện ra khỏi Kuwait. Iraq nhấn mạnh rằng việc
rút quân khỏi Kuwait phải được "gắn liền với" sự rút quân đồng thời của quân đội Syria
ra khỏi Libanvà quân đội Israel ra khỏi Bờ Tây, Dải Gaza, Cao nguyên Golan, và Nam
Liban. Maroc và Jordan đã bị thuyết phục bởi đề xuất này, nhưng Syria, Israel và liên
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 20


Hồ Phước An

DSU130606

minh chống Iraq phản đối rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa những việc trên với
vấn đề Kuwait. Syria đã tham gia vào liên quân chống lại Saddam nhưng Israel vẫn chính
thức giữ thái độ trung lập dù đã có những cuộc tấn công tên lửa vào thường dân Israel.
Chính quyền Bush đã thuyết phục Israel đứng ngoài cuộc chiến với những hứa hẹn
về việc tăng cường viện trợ, trong khi Tổ chức giải phóng Palestine dưới quyền lãnh đạo
của Yasser Arafat hoàn toàn ủng hộ Saddam Hussein, sau này dẫn tới một sự tuyệt giao
trong quan hệ giữa Palestine-Kuwait, dẫn tới sự trục xuất nhiều người Palestine ra khỏi
Kuwait. Ngày 12 tháng 1 năm 1991 Hạ viện Hoa Kỳ cho phép sử dụng sức mạnh quân sự
để trục xuất quân Iraq ra khỏi Kuwait. Ngay sau đó, các nước đồng minh khác cũng làm
điều tương tự.

2.3 Chiến Dịch Không Quân.
Mờ sáng ngày 17/1/1991, tên lửa hành trình của Mỹ từ các tàu chiến phóng vào
các mục tiêu quân sự của Iraq và máy bay tàng hình ném bom điều khiển trúng vào tòa

nhà Thông tin ở Thủ đô Bagdad là những hành động quân sự mở đầu cho chiến dịch với
mật danh “Bão táp sa mạc”. Tiếp đó, 400 máy bay chiến đấu của Mỹ, Anh, Saudi Arabia
và Kuwait đã đánh trúng các đầu mối thông tin, căn cứ không quân, trận địa tên lửa, các
nhà máy nguyên tử và hóa học, các tòa nhà của chính phủ và các trận địa tên lửa tại khu
vực phía tây Iraq.
Sau 1 giờ, phía Iraq mới chống trả bằng tên lửa và pháo phòng không, đồng thời
dùng tên lửa Scud bắn sang Israel và Saudi Arabia. 2 giờ sau những cuộc tấn công đầu
tiên, Tổng thống Mỹ Bush đọc diễn văn trên đài truyền hình tuyên chiến chống Iraq.
Trong chiến dịch không tập này, Mỹ và liên quân đã sử dụng trên 20 loại máy bay
với 44 đời khác nhau với tổng cộng hơn 3.800 lượt cất cánh cùng 7/114 tàu sân bay của
Mỹ cũng như các loại vệ tinh và tên lửa hành trình Tomahawk. Các loại máy bay chiến
đấu, ném bom, vũ khí, các phương tiện bảo đảm thông tin chỉ huy, điều khiển đều thuộc
thế hệ mới nhất, có uy lực mạnh và độ chính xác cao. Trong khi đó, hầu hết các máy bay
hay vũ khí của Iraq đều thuộc thế hệ thứ 2, chỉ có một số ít thuộc thế hệ thứ 3 nhưng lại
không đủ các thiết bị then chốt.
Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của liên minh là phá hủy sở chỉ huy đầu não, các cơ sở
không quân và phòng không của Iraq. Nhiệm vụ này nhanh chóng hoàn thành và trong
suốt thời gian xảy ra cuộc chiến, không quân liên minh hầu như không gặp phải trở ngại
nào khi hoạt động.
Dù khả năng phòng không của Iraq được Mỹ đánh giá cao, nhưng liên minh chỉ
thiệt hại 1 máy bay trong ngày mở màn chiến dịch. Máy bay tàng hình của Mỹ được sử
dụng nhiều trong giai đoạn đầu tiên này nhằm tránh các hệ thống tên lửa đất đối không
SAM dày đặc của Iraq; khi đã phá hủy xong những hệ thống đó, các máy bay chiến đấu
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 21


Hồ Phước An

DSU130606


khác có thể được đem ra sử dụng với độ an toàn cao hơn. Đa số các phi vụ tấn công xuất
phát từ Saudi Arabia và các nhóm tàu sân bay của liên minh ở Vịnh Persian.
Các mục tiêu tiếp theo của liên quân là các sở chỉ huy và thông tin. Những nhà lập
kế hoạch bên phía liên quân hy vọng sự kháng cự của Iraq sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu hệ
thống chỉ huy và liên lạc của họ bị phá hủy. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch không
quân Iraq ít khi xuất kích và cũng không gây thiệt hại gì đáng kể, 38 máy bay MiG của
Iraq đã bị không quân liên quân bắn hạ. Ngay sau đó, không quân Iraq phải chạy trốn
sang Iran với hơn 100 chiếc. Ngày 23/1, Iraq bắt đầu đổ gần 1 triệu tấn dầu thô xuống
biển, gây ra vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử.
Giai đoạn thứ ba và lớn nhất trong chiến dịch không kích của lực lượng liên quân
là nhằm vào các mục tiêu quân sự trên khắp Iraq và Kuwait: các bệ phóng tên lửa Scud,
các địa điểm vũ khí hủy diệt hàng loạt, những cơ sở nghiên cứu vũ khí và các lực lượng
hải quân. Khoảng 1/3 không lực liên quân được dành riêng để tấn công các bệ phóng tên
lửa Scud do chúng nằm trên các xe tải nên rất khó tìm kiếm để tiêu diệt. Ngoài ra, họ
cũng nhắm vào các mục tiêu có thể được sử dụng cho cả mục đích dân sự và quân sự: các
nhà máy điện, lò phản ứng hạt nhân, thiết bị thông tin liên lạc, cảng biển, nhà máy lọc và
phân phối xăng dầu, đường sắt và cầu. Iraq đáp trả bằng cách bắn tên lửa vào các căn cứ
của liên quân tại Saudi Arabia và Israel cùng với hy vọng buộc Israel tham gia cuộc chiến
và các nước Arập khác rút lui khỏi liên quân.
Nhưng chiến thuật này tỏ ra không hiệu quả. Israel vẫn trung lập và tất cả các
nước Arập khác tiếp tục tham chiến, trừ Jordan. Các tên lửa Scud nói chung là gây ra rất
ít thiệt hại, dù nó cũng đã một lần chứng minh được sức mạnh vào ngày 25/2 khi một tên
lửa Scud phá hủy doanh trại của Mỹ tại Dhahran khiến 28 binh sỹ thiệt mạng. Những tên
lửa Scud nhắm vào Israel không có hiệu quả bởi vì khi tăng tầm bắn, độ chính xác và khả
năng sát thương của tên lửa này bị giảm đi rất nhiều.
Trận phản công được cho là lớn nhất của Iraq diễn ra vào ngày 29/1. Iraq sử dụng khoảng
1.500 quân với 80 xe tăng, xe bọc thép, tấn công lực lượng liên quân ở Khafji tại Saudi
Arabia (cách biên giới Kuwait - Saudi 30 km). Tuy nhiên, Trận Khafji đã kết thúc khi
quân Iraq phải lùi bước trước các lực lượng Saudi Arabia được lính thủy đánh bộ và
không quân Mỹ yểm trợ 2 ngày sau đó.

Ngay sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Khafji đã trở thành một thành phố có vị trí chiến
lược. Sự chậm chạp của Iraq khi đưa các sư đoàn thiết giáp vào Khafji và sau đó dùng nơi
này làm bàn đạp để tiến vào phần phía đông được bảo vệ kém cỏi của Saudi Arabia là
một sai lầm lớn về chiến lược. Nếu làm được như vậy, Iraq không chỉ kiểm soát được
phần lớn những nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông mà sau đó còn đe dọa được lực lượng
quân Mỹ triển khai dọc theo các đường chiến tuyến.

Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 22


Hồ Phước An

DSU130606

Với ưu thế áp đảo về vũ khí, với cách đánh nhanh, mạnh, liên tục, kéo dài làm cho
toàn bộ hệ thống thông tin, radar, các lực lượng phòng không, không quân của Iraq hầu
như bị tê liệt ngay từ ngày đầu, không có thời gian củng cố và tổ chức đánh trả. Hiệu quả
của chiến dịch không quân là đã làm thiệt hại 10% toàn bộ lực lượng quân sự Iraq được
triển khai trên sa mạc. Theo tờ The Time của Mỹ, sau 38 ngày đêm không kích, Mỹ và
liên quân đã phá hủy 1685/5500 xe tăng, 1400/3500 khẩu pháo, 97 máy bay chiến đấu
của Iraq. Hệ thống cầu cống, đường giao thông, các cơ sở kinh tế, quốc phòng chủ yếu...
bị đánh phá dữ dội. Chiến dịch này cũng ngăn chặn một cách có hiệu quả việc tiếp tế của
Iraq cho những đơn vị đồn trú chiến đấu phía trước và khiến số quân đông đảo (450.000)
người không thể tập trung phát huy sức mạnh.
Những vũ khí được sử dụng trong chiến dịch này gồm các vũ khí dẫn đường chính
xác (hay "bom thông minh"), bom bầy, BLU-82"daisy cutters" và tên lửa hành trình. Iraq
trả lời bằng cách phóng 8 tên lửa Scud vào Israel ngày hôm sau. Mục tiêu ưu tiên hàng
đầu của liên minh là phá hủy các cơ sở không quân và phòng không của Iraq. Nhiệm vụ
này được nhanh chóng hoàn thành và trong suốt thời gian xảy ra cuộc chiến, không quân
liên minh hầu như không gặp phải trở ngại nào khi hoạt động. Dù khả năng phòng không

của Iraq tốt hơn so với dự đoán, liên minh chỉ thiệt hại một máy bay trong ngày mở màn
chiến tranh. Máy bay tàng hình đã được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu tiên này nhằm
tránh các hệ thống tên lửa đất đối không SAM dày đặc của Iraq; khi đã phá hủy xong
những hệ thống đó, các kiểu máy bay khác có thể được đem ra sử dụng với độ an toàn
cao hơn. Đa số các phi vụ tấn công xuất phát từ Ả Rập Saudi và sáu nhóm tàu sân
bay của liên minh ở Vịnh Péc-xích.
Các mục tiêu tiếp theo của liên quân là các sở chỉ huy và thông tin. Những nhà lập
kế hoạch bên phía liên quân hy vọng sự kháng cự của Iraq sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu hệ
thống chỉ huy và liên lạc của họ bị phá huỷ. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch không
quân Iraq ít khi xuất kích và cũng không gây thiệt hại gì đáng kể, 38 máy bay MiG của
Iraq đã bị không quân liên quân bắn hạ. Ngay sau đó, không quân Iraq bắt đầu chạy trốn
sang Iran, với khoảng 115 tới 140 chiếc [13]. Cuộc bỏ chạy ồ ạt của không quân Iraq sang
Iran khiến các lực lượng liên quân rất kinh ngạc và không kịp phản ứng gì trước khi các
máy bay Iraq đã "an toàn" tại các sân bay Iran. Iran không bao giờ trả lại các máy bay đó
cho Iraq và chỉ cho phép các phi công trở về nước vào năm sau. Ngày 23 tháng 1, Iraq bắt
đầu đổ gần 1 triệu tấn dầu thô xuống vịnh, gây ra vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử.
Trong đa số các trường hợp, liên quân tránh gây thiệt hại tới những cơ sở dân sự
thuần tuý. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 2 năm 1991, hai quả bom thông minh điều khiển
bằng tia laze đã phá hủy lô cốt Amiriyah mà người Iraq cho là nơi tránh bom của thường
dân. Các quan chức Mỹ cho rằng lô cốt đó là một trung tâm thông tin quân đội, nhưng
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 23


Hồ Phước An

DSU130606

các nhà báo phương tây đã không tìm được bằng chứng về việc đó. Trong một báo cáo
với nhan đề "Bộ máy nói dối: Thảm kịch của sự lừa đảo", Nhà trắng đã tuyên bố rằng các
nguồn tin tình báo của họ cho thấy lô cốt này đang được sử dụng cho mục đích chỉ huy

quân sự[14]. Trong cuốn sách của mình, Kẻ chế tạo bom của Saddam, cựu giám đốc
chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq, người đã đào thoát sang phương tây, ủng hộ giả
thuyết rằng lô cốt này được sử dụng cho cả hai mục đích.
Chúng tôi đã tìm người trú ẩn nhiều lần tại lô cốt.... Nhưng nó luôn bị bịt kín.... Lô
cốt có vô tuyến, vòi nước uống, máy phát điện riêng, và trông đủ vững chắc để chống lại
các loại vũ khí thông thường. Nhưng tôi đã thôi tìm cách vào trong, bởi một đêm tôi đã
nhận ra vài chiếc limousine đen chạy ra chạy vào qua cánh cổng ngầm ở phía sau. Tôi hỏi
những người ở xung quanh và được trả lời rằng đó là một trung tâm chỉ huy. Sau khi xem
xét nó kỹ càng hơn, tôi đã cho rằng có thể nó là căn cứ điều hành riêng của Xát-đam.
Iraq đã tung ra các cuộc tấn công tên lửa vào các căn cứ của liên quân tại Ả Rập
Saudi và Israel, với hy vọng buộc Israel tham gia cuộc chiến và các nước Ả Rập khác rút
lui khỏi nó. Chiến thuật này tỏ ra không hiệu quả. Israel không tham gia vào liên quân, và
tất cả các nước Ả Rập ở lại với liên quân trừ Jordani, về mặt chính thức vẫn giữ thái độ
trung lập. Các tên lửa Scud nói chung là gây ra rất ít thiệt hại, dù nó cũng đã một lần
chứng minh được sức mạnh vào ngày 25 tháng 2 với 28 người Mỹ đã thiệt mạng khi một
tên lửa Scud phá hủy doanh trại của họ tại Dhahran. Những tên lửa Scud nhắm vào Israel
không có hiệu quả bởi vì khi tăng tầm bắn, tên lửa Scud bị giảm đi rất nhiều về độ chính
xác và khả năng sát thương. Ngày 29 tháng 1, Iraq dùng xe tăng, bộ binh tấn công và
chiếm thành phố Khafji của Ả Rập Saudi lúc ấy dang được bảo vệ bởi một số lính thủy
đánh bộ trang bị vũ khí hạng nhẹ.
Tuy nhiên, Trận Khafji đã kết thúc khi quân Iraq phải lùi bước trước các lực lượng
Ả Rập Saudi được các lính thủy đánh bộ và không quân Mỹ yểm trợ hai ngày sau đó.
Ngay sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Khafji đã trở thành một thành phố có vị trí chiến
lược. Sự chậm chạp của Iraq khi đưa các sư đoàn thiết giáp vào Khafji và sau đó dùng nơi
này làm bàn đạp để tiến vào phần phía đông được bảo vệ kém cỏi của Ả Rập Saudi là
một sai lầm lớn về chiến lược. Nếu làm được như vậy, Iraq không chỉ kiểm soát được
phần lớn những nguồn cung cấp dầu ở Trung Đông mà sau đó còn đe dọa được lực lượng
quân Mỹ triển khai dọc theo các đường chiến tuyến.
Hiệu quả của chiến dịch không quân là đã làm thiệt hại mười phần trăm toàn bộ
lực lượng quân sự Iraq được triển khai trên sa mạc. Chiến dịch này cũng ngăn chặn một

cách có hiệu quả việc tiếp tế của Iraq cho những đơn vị đồn trú chiến đấu phía trước, và
khiến số quân đông đảo (450.000) người không thể tập trung lại được và là nhân tố căn
bản dẫn đến thắng lợi.
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 24


Hồ Phước An

DSU130606

Chiến dịch không quân có một tác động rõ nét trên các mưu mẹo mà các bên xung
đột về sau này sử dụng. Họ không tập trung quân đội để đối mặt với quân Mỹ mà phân
tán các sư đoàn ra, ví dụ Các lực lượng Serbia tại Kosovo. Các bên tham chiến cũng giảm
bớt khoảng cách tiếp tế hậu cần và diện tích vùng bảo vệ. Điều này đã được thấy
trong Chiến tranh Afghanistan khi quân Taliban rút lui khỏi những vùng đất rộng lớn về
giữ những cứ điểm mạnh của họ. Điều này giúp tăng cường tập trung quân đội và giảm
bớt khoảng cách tiếp tế. Chiến thuật này cũng được sử dụng trong cuộc tấn công của Iraq
khi các lực lượng Iraq rút lui khỏi miền bắc Kurdistan thuộc Iraq vào trong các thành
phố.

2.4 Chiến Dịch Trên Bộ
Ngày 22/2/1991, Iraq chấp nhận đề nghị hòa bình do Liên Xô đưa ra, theo đó sẽ
rút quân không điều kiện khỏi Kuwait, đồng thời giải quyết tất cả các vấn đề khác trong
vùng. Việc rút quân do Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc giám sát. Tuy nhiên, phía Mỹ
bác bỏ thỏa thuận này nhưng nói rằng việc rút quân của Iraq sẽ không bị tấn công và giới
hạn trong 24 giờ.
Đúng 1 giờ (GMT) ngày 24/2/1991, liên quân tiến hành cuộc tiến công trên bộ với
mật danh “Thanh kiếm sa mạc”. Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 và 2 của Mỹ xuất phát từ
biên giới Saudi Arabia - Kuwait, vượt qua tuyến phòng thủ của Iraq, tiến vào Kuwait theo
hướng đông bắc. Cùng lúc, các lực lượng Saudi Arabia vượt qua biên giới tiến dọc theo

bờ biển Kuwait. Sư đoàn thiết giáp số 6 của Pháp, sư đoàn không vận 101 của Mỹ với
khối lượng lớn dự trữ nhiên liệu, nước, trang bị vượt biên giới Iraq tiến theo hướng bắc đông bắc. Từ phía tây, các đơn vị Saudia Arabia - dọc biên giới Saudi Arabia - Kuwait
cũng nổ súng tấn công và tiến theo hướng đông bắc.
Cùng thời gian này sư đoàn bộ binh số 24, 1 bộ phận quân đoàn đổ bộ đường
không số 18, quân đoàn bộ binh số 7 Mỹ cùng với sư đoàn thiết giáp số 1 của Anh tiến
vào Iraq bằng đường bộ, đường không theo hướng bắc, đánh chiếm các kho, trạm nhiên
liệu và hậu cần của Iraq nằm sâu trong sa mạc. Sư đoàn không vận 101 Mỹ với 460 trực
thăng, tiến hành cuộc đổ bộ xuống thung lũng sông Tigre và Euphrate (cách Bagdad gần
200 km) thiết lập căn cứ tác chiến và hậu cần nhằm chia cắt, chặn đường rút lui của quân
Iraq. Tướng Norman Schwarzkopf (Mỹ) nói: “Nhờ có chiến thuật nghi binh và hiệu quả
của nó, chúng tôi chẳng phải lo lắng gì về những chướng ngại vật. Chúng tôi đi vòng qua
đối phương và nhanh chóng đánh tập hậu”.
Ngày 25-26/2, lực lượng đặc nhiệm Saudi Arabia tiếp tục tiến công sườn phía
đông Kuwait tạo điều kiện cho các lính thủy đánh bộ đang tiến về phía bắc bắt đầu
chuyển sang hướng đông tiến về thủ đô Kuwait. Lực lượng Anh tiến trên lãnh thổ Iraq
dọc theo biên giới Iraq - Kuwait trong khi quân đoàn 7 Mỹ chuyển sang hướng đông
đánh vào các sư đoàn Vệ binh cộng hòa. Sư đoàn bộ binh số 24 Mỹ thọc sâu tới thung
Cuộc Chiến Vùng Vinh Lần I Năm 1990Trang 25


×