1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ HUYỀN NGA
THỂ LOẠI PHÓNG SỰ ẢNH BÁO CHÍ HIỆN ĐẠI
Ngành: Báo chí học
Mã số: 932 32 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS NGUYỄN VĂN DỮNG
Hà Nội – 2018
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Về mặt thực tiễn
Bƣớc sang thế kỷ 21, hệ thống các phƣơng tiện truyền thông phát triển
mạnh mẽ, có xu hƣớng ƣu tiên cho phần hình ảnh. Hình ảnh đã trở thành một
phần không thể thiếu, thậm chí đã là một yếu tố gắn chặt với sự tồn tại và thay
đổi của các phƣơng tiện truyền thông. Các thể loại báo chí có liên quan đến
hình ảnh, nằm trong xu thế chung, cũng đƣợc quan tâm đến nhiều hơn.
Thể loại phóng sự ảnh báo chí phản ánh hiện thực bằng rất nhiều bức
ảnh đƣợc kết nối với nhau thành những câu chuyện về con ngƣời, sự kiện hay
các vấn đề có ảnh hƣởng tới sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, sự tồn tại của
thể loại phóng sự ảnh báo chí cũng đang gặp những trở ngại lớn:
Thứ nhất, yếu tố thể loại vẫn chƣa đƣợc nhìn nhận một cách thiết thực:
Về phía ngƣời chụp ảnh, vẫn còn có những ngƣời sử dụng phƣơng pháp chụp
sắp xếp hoặc can thiệp để tạo ra những bức ảnh hoàn hảo nhƣng không giống
thực. Về phía những ngƣời sử dụng ảnh, sự thiếu chuyên nghiệp đã khiến cho
những tác phẩm phóng sự ảnh bị mất đi các đặc trƣng vốn là thế mạnh của thể
loại này, nhƣ là: thiếu sự kết nối để tạo thành câu chuyện, thiếu các khoảnh
khắc bùng nổ để tạo ra cao trào của câu chuyện, thiếu các nhân vật đƣợc khai
thác từ nhiều góc độ để trở nên ấn tƣợng…
Thứ hai, sự xuất hiện của các phƣơng tiện truyền thông mới nhƣ báo
mạng điện tử, mạng xã hội cũng buộc thể loại phóng sự phải có những thay
đổi để phù hợp hơn. Thực tế cho thấy mục đích sử dụng các thể loại ảnh báo
chí trên các phƣơng tiện truyền thông là không giống nhau. Việc sử dụng các
thể loại ảnh báo chí chịu ảnh hƣởng rất nhiều vào cấu trúc và phƣơng thức
của phƣơng tiện truyền thông, ví dụ: báo in là mảnh đất tốt cho các bài viết
phân tích, nghiên cứu của thể loại bình luận hay phóng sự điều tra, trong khi
3
báo mạng điện tử lại ƣu tiên cho những bài viết ngắn gọn của thể loại tin; Hay
nhƣ: dung lƣợng của báo mạng cho phép số lƣợng không hạn chế của một tác
phẩm phóng sự ảnh, nhƣng trên báo in chỉ cho phép 5 đến 7 ảnh trong một
phóng sự. Thêm vào đó, ranh giới giữa các thể loại vốn không phải là bất
biến, dẫn đến việc sử dụng các nhóm ảnh và phóng sự ảnh luôn ở tình trạng
không rõ ràng, điều này đã khiến cho nhiều tác phẩm ảnh chỉ có tính chất
minh họa nhiều hơn là thông tin báo chí với tƣ cách là một thể loại.
Thứ ba, sự xuất hiện của chiếc điện thoại thông minh có chức năng
chụp ảnh, giúp ngƣời sử dụng dễ dàng lƣu giữ những khoảnh khắc của cuộc
sống, đã khiến cho phƣơng thức truyền thông thay đổi, khiến cho những
ngƣời dù không biết nhiều về tạo hình cũng có thể lƣu giữ những khoảnh khắc
ấn tƣợng của ảnh báo chí, nhƣng đáng lo là các bức ảnh đã không còn giữ
những đặc trƣng, không thể hiện đƣợc hết sức mạnh của mỗi thể loại, bởi
ngƣời chụp không quan tâm nhiều đến yếu tố này, và đây cũng chính lý do
khiến các quan niệm về thể loại phóng sự ảnh có sự thay đổi.
1.1. Về mặt lý thuyết
Trong những năm gần đây, Việt Nam tiếp nhận thêm những quan niệm
mới về truyền thông hình ảnh và truyền thông thị giác từ phƣơng Tây. Trong
xu thế phát triển chung của truyền thông thế giới là coi trọng yếu tố hình ảnh,
thì những lý thuyết về truyền thông hình ảnh cần đƣợc nghiên cứu một cách
nghiêm túc và có hệ thống, đây là cơ hội để chúng ta nhìn nhận rõ hơn về các
quan niệm về báo chí truyền thông truyền thống và đƣơng đại.
Dƣới góc độ tiếp cận của lý thuyết truyền thông hình ảnh, đề tài “Thể
loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại” đặt trong sự tƣơng quan giữa môi trƣờng
truyền thông hiện đại với thể loại báo chí, giữa thể loại báo chí truyền thống
với thể loại báo chí hiện đại. Các luận điểm khoa học trong luận án đƣợc
minh chứng bằng các tác phẩm phóng sự ảnh đã đƣợc lựa chọn kỹ càng, có
4
nhấn mạnh về yếu tố thị giác và vai trò của hình ảnh trong quá trình truyền
thông, điều này xét thấy là cần thiết trong điều kiện các lý thuyết về truyền
thông hình ảnh ở Việt Nam là chƣa có nhiều.
Việc xuất hiện các phƣơng thức truyền thông mới đang đặt ra những
thách thức cho các cơ sở đào tạo truyền thông về nguồn lực, cũng nhƣ chƣơng
trình đào tạo và khung lý thuyết. Ở Việt Nam, các cơ sở đào tạo chuyên về
truyền thông hình ảnh không nhiều, và vẫn chƣa có cơ sở nào có quy mô và
điều kiện đủ để đáp ứng nhu cầu về truyền thông hình ảnh trên thực tế. Đề tài
“Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại” mong muốn góp một phần vào
khoảng trống lý thuyết tại các cơ sở đào tạo chuyên về truyền thông.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết về thể loại phóng sự ảnh báo chí,
đồng thời nhận diện thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại, từ đó đƣa ra
những nhận xét khoa học về sự phát triển của thể loại phóng sự ảnh báo chí
trong điều kiện thực tiễn hiện nay.
1.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án tập hợp và phân tích các tác phẩm phóng sự ảnh để tìm ra các đặc
điểm nổi bật của thể loại phóng sự ảnh, đánh giá các tác phẩm trong sự so
sánh đối chiếu giữa thời gian trƣớc và hiện nay để tìm ra các đặc mới của
thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại.
- Luận án khảo sát, đánh giá thực trạng thể loại phóng sự ảnh trên một số tờ
báo in và báo mạng điện tử, để nhìn nhận những vấn đề thực tế của thể loại
phóng sự ảnh báo chí trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, luận án đƣa ra một
số khuyến nghị và giải pháp khoa học nhằm nâng cao chất lƣợng của thể
loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
5
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại
3.2. Đối tượng và phạm vi khảo sát:
Báo Tuổi trẻ từ năm 2012 đến 2016, báo Lao động từ năm 2012 đến
2016; báo điện tử VnExpress.net năm 2016; Các tác phẩm phóng sự ảnh đoạt
giải ảnh báo chi thể giới từ năm 1961 đến năm 2016.
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi:
- Thể loại phóng sự ảnh báo chí chịu tác động nhƣ thế nào dƣới ảnh
hƣởng của môi trƣờng truyền thông hiện đại?
- Thể loại phóng sự ảnh báo chí sẽ xuất hiện những đặc điểm mới nào?
- Ngƣời thực hiện phóng sự ảnh cần sử dụng phƣơng pháp nào cho phù
hợp với những thay đổi của thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại?
4.1. Giả thuyết nghiên cứu
Trong môi trƣờng truyền thông hiện đại, thể loại phóng sự ảnh sẽ xuất
hiện những đặc điểm mới, bên cạnh những đặc điểm cũ vẫn tiếp tục phát huy
thế mạnh trong quá trình phản ánh hiện thực cuộc sống. Phƣơng pháp thực
hiện tác phẩm phóng sự ảnh dù đƣợc hỗ trợ bởi các phần mềm chỉnh sửa ảnh
tiện dụng, nhƣng vẫn đặt mục đích phản ánh hiện thực đúng với bản chất của
hiện thực khách quan.
5. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết đề triển khai vấn đề nghiên cứu của luận án là chủ
nghĩa duy vật biện chứng, trong đó vận dụng nguyên lý của các cặp phạm trù:
bản chất và hiện tƣợng, nội dung và hình thức, tất nhiên và ngẫu nhiên,
nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực, để phân tích, đối chiếu và so
sánh các kết quả nghiên cứu, để từ đó có những luận điểm và lựa chọn tác
phẩm minh họa mang tính khoa học và biện chứng.
6
Ngoài ra, luận án triển khai vấn đề còn dựa trên cơ sở lý thuyết về thể
loại, các nguyên tắc sáng tạo tác phẩm báo chí, đặc điểm và tính chất của tác
phẩm ảnh báo chí, các nguyên tắc và các yếu tố của tạo hình nhiếp ảnh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu là phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong việc phân loại
các quan niệm, khảo cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài
của luận án.
- Thống kê, phân loại là phƣơng pháp đƣợc sử dụng để thống kê và phân
loại các tác phẩm phóng sự ảnh và nhóm ảnh trên các tờ báo thuộc diện
khảo sát, từ đó có những căn cứ khoa học để đƣa ra những nhận định và
đánh giá về chất lƣợng của các tác phẩm phóng sự ảnh trên các tờ báo đó.
- Phân tích nội dung là phƣơng pháp đƣợc sử dụng để đánh giá các kết quả
từ quá trình khảo sát tác phẩm. Để sử dụng phƣơng pháp này, tác giả luận
án cần vận dụng các kiến thức về thể loại, để phân tích các tác phẩm dựa
trên hình thức và nội dung, đồng thời đƣa ra đánh giá và nhận định các xu
hƣớng phát triển của tác phẩm đƣợc khảo sát.
- Phương pháp phỏng vấn sâu đƣợc sử dụng để phỏng vấn các chuyên gia
về truyền thông, chủ yếu là truyền thông về ảnh báo chí, bao gồm các
phóng viên ảnh (5 ngƣời) – những ngƣời trực tiếp sáng tạo nên tác phẩm
phóng sự ảnh; các biên tập viên (5 ngƣời) – những ngƣời quyết định về nội
dung và hình thức của tác phẩm phóng sự ảnh; nhà quản lý báo chí (2
ngƣời) – những ngƣời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ảnh
báo chí; các giảng viên về ảnh báo chí (3 ngƣời) – những ngƣời có vai trò
lớn trong việc duy trì chất lƣợng và sự tồn tại của thể loại phóng sự ảnh.
- Phương pháp anket đƣợc dụng để thu thập những thông tin mang tính định
lƣợng, về mức độ quan tâm của công chúng tới hình ảnh trên các tờ báo
thuộc diện khảo sát, về nhận biết của công chúng về thể loại phóng sự ảnh.
7
Mẫu khảo sát đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên ở ba thành phố lớn ở Việt Nam là
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Số phiếu phát ra là 500
phiếu (200 ở Hà Nội, 200 ở thành phố Hồ Chí Minh, và 100 ở Đà Nẵng).
Đối tƣợng đƣợc khảo sát phải đảm bảo yếu tố là biết sử dụng ngôn ngữ
tiếng Việt, đồng thời khi phân phát phiếu hỏi, những ngƣời thực hiện cũng
chú trọng đến tỉ lệ ngƣời trong độ tuổi lao động, bởi căn cứ vào thống kê
dân số ở Việt Nam năm 2013 thì số ngƣời trong độ tuổi từ 15 đến 64 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất (64%)
6. Những điểm mới của luận án
- Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về thể loại
phóng sự ảnh báo chí hiện đại, luận án đã xây dựng khung lý thuyết cho
thể loại ảnh báo chí trong môi trƣờng truyền thông số hiện nay; chỉ ra
những cơ sở lý thuyết – thực tiễn và các đặc điểm loại hình của loại thể,
cũng nhƣ những đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình sáng tạo loại thể tác
phẩm ảnh báo chí trong môi trƣờng công nghệ số hiện nay; chỉ ra những
lợi thế cũng nhƣ những bất cập do môi trƣờng truyền thông số tạo ra, nhƣ
khả năng siêu kết nối, siêu tƣơng tác, công chúng chủ động.
- Bằng phƣơng pháp thống kê-phân loại, phân tích sản phẩm truyền thông
(trên 1187 tác phẩm phóng sự ảnh trên 3 tờ báo trong nƣớc và 537 tác
phẩm phóng sự ảnh báo chí nƣớc ngoài) và phỏng vấn sâu, thảo luận
nhóm, luận án đã chỉ ra và phân tích 4 đặc điểm mới của thể loại phóng sự
ảnh báo chí hiện đại.
- Luận án nêu lên một số vấn đề thực tiễn và hệ thống các giải pháp nhằm
nâng cao chất lƣợng thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại, cụ thể gồm: 4
vấn đề đặt ra, 3 giải pháp chung, 2 giải pháp đặc thù và 3 khuyến nghị
khoa học.
6.1. Ý nghĩa lý luận:
8
Luận án nghiên cứu về vấn đề “Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại”
có thể bổ sung những kiến thức mới cho hệ thống lý thuyết về truyền
thông hình ảnh. Thêm vào đó, hệ thống các ví dụ minh họa, các đối tƣợng
khảo sát đƣợc tiến hành trong thời gian gần nhất, có thể là những phần
tham khảo bổ ích cho các học viên chuyên ngành truyền thông, đặc biệt
đối với những học viên và những ngƣời quan tâm đến ảnh báo chí.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo cho các phóng viên, biên tập viên ảnh tại
các tòa soạn, các học viên và những ngƣời quan tâm đến lĩnh vực ảnh báo
chí.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm:
3 chƣơng, 20 hình minh họa, 5 biểu đồ. Nội dung các chƣơng cụ thể nhƣ sau:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của thể loại phóng sự ảnh báo chí
hiện đại.
- Chƣơng 2: Nhận diện thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại
- Chƣơng 3: Khuyến nghị và giải pháp nâng cao chất lƣợng thể loại
phóng sự ảnh báo chí hiện đại.
9
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đề tài “Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại” là đề tài nghiên cứu về
các vấn đề của ảnh báo chí và thể loại của ảnh báo chí. Xuất phát từ góc nhìn
khoa học, ảnh báo chí và thể loại ảnh báo chí vốn có nguồn gốc từ báo chí và
các thể loại báo chí, do đó luận án sẽ bắt đầu từ phần gốc của vấn đề, đó là thể
loại phóng sự báo chí. Nghiên cứu về phóng sự báo chí, tác giả luận án có thể
tìm ra các mốc phát triển quan trọng của thể loại, các yếu tố cần thiết cho sự
hình thành và phát triển của thể loại báo chí. Sự khác biệt giữa báo in, báo
phát thanh và báo truyền hình với báo ảnh cũng là những tham chiếu có ích
cho việc xây dựng khung lý thuyết và tìm ra những đặc điểm mới của thể loại
phóng sự ảnh báo chí hiện đại.
I/ CÁC CÔNG TRÌNH CỦA CÁC TÁC GIẢ NƢỚC NGOÀI CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Liên quan đến đề tài “Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại”, tác giả
luận án đã tìm thấy những vấn đề liên quan ở các khía cạnh khác nhau trong
một số cuốn sách của các tác giả nƣớc ngoài.
A - Các sách
Cuốn sách đầu tiên đƣợc tác giả luận án sử dụng làm tƣ liệu tham chiếu
về các dữ kiện lịch sử của nhiếp ảnh và tên tuổi của các nhiếp ảnh gia nổi
tiếng trên thế giới là cuốn “The History of Photography: From 1839 to the
Present” của tác giả Beaumont Newhall đƣợc xuất bản năm 1982.
Beaumont Newhall (1908–1993) là một sử gia nghệ thuật, là nhà văn
và nhiếp ảnh gia. Năm 1935, ông trở thành thủ thƣ tại Bảo tàng Nghệ thuật
hiện đại ở New York. Năm 1940, ông trở thành Giám đốc đầu tiên của bộ
phận Nhiếp ảnh của MoMA. Ông là giám tuyển của Bảo tàng Nhiếp ảnh quốc
tế từ năm 1948 đến năm 1958, sau đó là Giám đốc từ 1958 đến 1971. Tại
Eastman House, Newhall chịu trách nhiệm sƣu tập một trong những bộ sƣu
10
tập ảnh lớn nhất thế giới. Kể từ khi xuất bản lần đầu vào năm 1937, cuốn sách
“The History of Photography: From 1839 to the Present” đã đƣợc ca ngợi là
tác phẩm kinh điển về nhiếp ảnh. Chƣa có cuốn sách nào và chƣa có tác giả
nào từng trình bày mối liên hệ giữa sự tiến hóa thẩm mỹ của nghệ thuật nhiếp
ảnh, những đổi mới kỹ thuật của nó kết hợp với những chi tiết hấp dẫn, bay
bổng và lòng nhiệt tình nhƣ Beaumont Newhall đã thể hiện trong cuốn sách.
Qua hơn 300 tác phẩm của các nhiếp ảnh gia bậc thầy nhƣ William Henry
Fox Talbot, Timothy O'Sullivan, Julia Margaret Cameron, Eugène Atget,
Peter Henry Emerson, Alfred Stieglitz, Paul Strand, Alvin Langdon Coburn,
Man Ray, Edward Weston, Dorothea Lange, Walker Evans, Ansel Adams,
Brassaï, Henri Cartier-Bresson, Harry Callahan, Minor White, Robert Frank
và Diane Arbus, tác giả Beaumont Newhall đã trình bày một nghiên cứu hấp
dẫn, toàn diện về các xu hƣớng và các mốc phát triển quan trọng kể từ khi
những bức ảnh đầu tiên đƣợc thực hiện vào năm 1839. Các lựa chọn mới
đƣợc thêm vào ấn bản lần thứ năm bao gồm các bức ảnh đƣợc làm bằng màu
sắc, từ các kiểu máy vẽ tay màu của năm 1850 của Edward Steichen, đến các
tác phẩm do các bậc thầy đƣơng đại nhƣ Eliot Porter, Ernst Haas, William
Eggleston, Stephen Shore và Joel Meyerowitz. thực hiện. Từ góc độ nghiên
cứu, tác giả luận án tiếp thu đƣợc các quan điểm và xu hƣớng sáng tạo của
các nhiếp ảnh gia sáng tác theo khuynh hƣớng hiện thực nhƣ Alfred Stieglitz,
Edward Steichen và Henri Cartier-Bresson.
Cuốn sách thứ hai là cuốn “Let Truth Be the Prejudice: W. Eugene
Smith, His Life and Photographs” của tác giả Ben Maddow, đƣợc xuất bản
năm 1998. Cuốn sách “Let Truth Be the Prejudice” ghi lại cuộc đời và công
việc của W. Eugene Smith, một ngƣời có công trong việc tạo nên thể loại ảnh
báo chí mới mang sức mạnh thẩm mỹ và đạo đức là phóng sự ảnh. Smith sinh
năm 1918 tại Wichita, Kansas, và lớn lên với các giá trị truyền thống của Mỹ.
11
Ông bắt đầu chụp ảnh khi vẫn còn là một cậu bé bằng chiếc máy ảnh của mẹ
mình và tiếp tục thực hành công việc này trong suốt thời gian học của mình.
Năm 1937, tham vọng cháy bỏng đã đƣa ông đến thành phố New York, nơi đã
bồi đắp cho ông trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Trƣớc khi bƣớc
sang tuổi hai mƣơi, Smith đã thực hiện hàng trăm bức ảnh cho các tạp chí ảnh
lớn của thời đại. Phong cách ấn tƣợng, thông minh của ngƣời chụp đã thể hiện
ngay trong các tác phẩm ban đầu này. Nhƣng khoảnh khắc bùng nổ thực sự đã
diễn ra trong chiến tranh thế giới II, đó là khi Smith hành quân cùng với đội
thủy quân lục chiến tại Saipan, Guam và Iwo Jima, đó cũng là khoảnh khắc
W. Eugene Smith nhận ra công việc chụp ảnh gắn liền với ý thức trách nhiệm
đạo đức. Ông viết: "Mỗi lần tôi nhấn nút chụp, tôi hy vọng rằng sự lên án có
thể vang vọng qua tâm trí của những ngƣời đàn ông trong tƣơng lai, khiến họ
thận trọng, nhớ lại và nhận ra những gì họ đã làm". Những bức ảnh chiến
tranh của Smith đã giúp ông khẳng định năng lực sáng tạo của mình và đƣợc
so sánh với Mathew Brady. Tác phẩm của ông về các nhà tù chiến tranh của
Mỹ, đã giúp thuyết phục ngƣời Nhật rằng nỗi sợ của họ bị phóng đại, và ngăn
chặn tự sát của hàng ngàn công dân Nhật khiếp sợ quân đội Mỹ thời bấy giờ.
Cuốn sách này là một tài liệu tham khảo vô cùng quý giá, bởi những
minh họa sống động của các tác phẩm ảnh đƣợc coi nhƣ là những tác phẩm
phóng sự ảnh đầu tiên trong lịch sử nhiếp ảnh. Các tác phẩm phóng sự ảnh
của W. Eugene Smith đƣợc công nhận là những tác phẩm mẫu mực của một
thể loại ảnh báo chí vừa mang tính thời đại, vừa mang tính thẩm mỹ, là các
phóng sự ảnh: “Country doctor”, “Nurse”, hay “Minamata". Phóng sự ảnh
tuyệt vời cuối cùng của ông - "Minamata", mô tả sự đau khổ của con ngƣời do
ngộ độc thủy ngân trong một cảng công nghiệp Nhật Bản, góp phần chấm dứt
sự ô nhiễm đó. Ngày 15 tháng 10 năm 1978, những tên côn đồ do các doanh
nghiệp Nhật thuê đã tấn công Eugene Smith, khiến sức khỏe của ông bị ảnh
12
hƣởng và ông đã chết sau đó. Bốn mƣơi năm trôi qua, các tác phẩm phóng sự
ảnh của Smith trở thành những tài liệu quý giá. Ông đã từng viết: "Tôi không
bao giờ tìm thấy giới hạn của tiềm năng nhiếp ảnh. Mỗi khi chạm tới chân
trời, nó lại cho thấy một sự vẫy gọi khác ở đằng xa. Luôn luôn, tôi chỉ đang ở
ngƣỡng". Cuốn sách là tác phẩm chính xác về cuộc đời và công việc của
Smith. Niềm đam mê về nhiếp ảnh và sự kiên định về đạo đức là thƣớc đo về
sự vĩ đại của ông, bao gồm cả việc ông không bao giờ thỏa hiệp với các thế
lực ngăn cản ông phản ánh sự thật. Trong cuốn tiểu sử đi kèm "The Wounded
Angel", tác giả Ben Maddow đã ví ông là ngƣời đàn ông không thỏa hiệp với
ma quỷ. Cuốn sách của Maddow là xuất bản đầu tiên về cuộc đời của W.
Eugene Smith. Đó là một câu chuyện đầy kịch tính, sống động hơn bởi sự
cam kết của tác giả Maddow đối với sự thật về nhân vật đƣợc viết trong cuốn
sách.
Một cuốn sách không thể không nhắc tới, là cuốn “Henri CartierBresson: The Decisive Moment”, xuất bản năm 2015.
Đƣợc xuất bản lần đầu vào năm 1952, cuốn sách bao gồm các tác phẩm
hay nhất của Cartier-Bresson từ những năm đầu trong sự nghiệp nhiếp ảnh
của ông cho tới bức tấm ảnh ghép của Henri Matisse. Cuốn sách này đã ảnh
hƣởng đến các thế hệ nhiếp ảnh gia, trong khi tựa đề tiếng Anh của nó đã xác
định khái niệm về giây phút bấm máy điển hình, trong đó bao gồm tất cả các
yếu tố tích lũy để tạo thành hình ảnh hoàn hảo, đó không chỉ là thời điểm của
hành động, mà còn là dấu ấn thị giác cao độ. Ấn phẩm mới này (bản in đầu
tiên và duy nhất kể từ bản gốc năm 1952) là một bản sao tỉ mỉ của cuốn sách
gốc đã đƣa tên tuổi của nhà nhiếp ảnh đến với quốc tế, với những bổ sung về
lịch sử „Thời điểm quyết định‟ của Pompidou Clément Chéroux.
Một cuốn sách khác của Henri Cartier-Bresson cũng đƣợc các nhiếp
ảnh gia nhắc tới và đƣợc tác giả luận án sử dụng để tham khảo là cuốn “Henri
13
Cartier-Bresson: The Mind's Eye: Writings on Photography and
Photographers”, xuất bản năm 2005. Cuốn sách bao gồm các bài luận của
Henri Cartier-Bresson (một số bài chƣa bao giờ đƣợc dịch sang tiếng Anh)
đƣợc thu thập lần đầu tiên. “The Mind's Eye” có văn bản nổi tiếng của
Cartier-Bresson về "khoảnh khắc quyết định" cũng nhƣ những quan sát của
ông về Moscow, Cuba và Trung Quốc trong thời kỳ hỗn loạn. Những bài tiểu
luận này đặc trƣng cho quan điểm nhiếp ảnh của Henri Cartier-Bresson – một
tƣợng đài của giới nhiếp ảnh gia thế giới.
Qua các câu chuyện liên quan trực tiếp tới quá trình tác nghiệp, tác giả
luận án hiểu rõ hơn về quan điểm sáng tác của một nhiếp ảnh giả bậc thầy.
Những nhận xét về khoảnh khắc bấm máy nổi tiếng của nhiếp ảnh gia đƣợc
nêu lên trong cuốn sách, là những tham chiếu khoa học về kinh nghiệm sáng
tác của một nhiếp ảnh gia có nhiều tác phẩm ảnh báo chí chất lƣợng, nhƣ là:
“Thật là ảo tƣởng khi cho hình ảnh đƣợc thực hiện bằng máy ảnh, chúng đƣợc
ghi nhận bằng mắt, trái tim và cái đầu”; “Một mắt của nhiếp ảnh gia nhìn qua
khung ngắm mở rộng của máy ảnh, mắt kia nhắm lại để nhìn vào tâm hồn của
chính mình”; “Nhiếp ảnh là một cách để la hét, tự giải phóng bản thân, không
phải là cách chứng minh hay khẳng định sự độc đáo của cá nhân mình. Đó là
một cách sống”; “Khoảnh khắc! Một khi bạn bỏ lỡ nó, nó sẽ biến mất vĩnh
viễn”
Cuốn sách tham khảo khác cung cấp đa dạng các bài học kinh nghiệm
từ một nhiếp ảnh gia thành công với các chủ đề gai góc là cuốn sách “Untold:
The stories behind the Photographs” của tác giả Steve McCurry. Cuốn sách
“Untold: The stories behind the Photographs” đi sâu vào khám phá kho lƣu
trữ cá nhân của McCurry để tiết lộ những điều xảy ra phía sau ống kính máy
ảnh. Cuốn sách đƣợc tổ chức thành 14 câu chuyện ảnh, mỗi câu chuyện đƣợc
trình bày kèm theo văn bản tƣờng thuật và hơn 100 bức ảnh đầy màu sắc, tràn
14
ngập hơi thở của cuộc sống. Cùng với nhau, những tài liệu hấp dẫn này tạo
nên một tiểu sử sống động về một trong những tƣợng đài của nhiếp ảnh hiện
đại.
Ngoài các cuốn sách đề cập trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của luận
án, các cuốn sách có đề cập tới các vấn đề liên quan đƣợc tìm thấy trong các
cuốn sách “On Photography” của tác giả Susan Sontag tái bản năm 2001,
“Believing Is Seeing: Observations on the Mysteries of Photography” của
tác giả Errol Morris xuất bản năm 2011, “A History of Photography: From
1839 to the Present” của tác giả George Eastman xuất bản năm 2012, “Fred
Herzog: Modern Color” của tác giả Fred Herzog xuất bản năm 2017, “The
Art of Movement” của tác giả Ken Browar và Deborah Ory xuất bản năm
2016, “Chavez Ravine: 1949” của tác giả Chavez Ravine tái bản năm 2003,
“Gregory Heisler: 50 Portraits: Stories and Techniques from a
Photographer's Photographer” của tác giả Gregory Heisler xuất bản năm
2013, “Distant Shores: Surfing The Ends Of The Earth” của tác giả Chris
Burkard xuất bản năm 2013. Mỗi cuốn sách là một gợi mở mới mẻ cho tác giả
luận án về cách mà các tác phẩm phóng sự ảnh báo chí đƣợc tạo thành.
Bên cạnh các cuốn sách đƣợc tham khảo bằng tiếng Anh, các cuốn sách
khác của các tác giả nƣớc ngoài đã đƣợc dịch sang tiếng Việt cũng là những
tài liệu thiết thực đƣợc tác giả luận án sử dụng tham chiếu cho đề tài của luận
án. Những cuốn sách đó là: “Các thể loại báo chí” của tác giả A.A
Chertƣchơnƣi (Nga) đƣợc nhà xuất bản Mátxcơva ấn hành năm 2002 và đƣợc
nhà xuất bản Thông tấn dịch và ấn hành năm 2004; “Phóng sự - Tính chuyên
nghiệp và đạo đức” của M.I.Sostak, “Phóng sự truyền hình” của Brigitte
Besse Didier Desormeaux; “Các thể loại báo chí phát thanh” của
V.V.Xmirnốp; “Ảnh báo chí” của Brian Horton; “Nhiếp ảnh báo chí” của
Petr Tausk, và “Bàn về nhiếp ảnh” của Susan Sontag.
15
Cuốn sách “Các thể loại báo chí” của tác giả A.A Chertƣchơnƣi (Nga)
đƣợc nhà xuất bản Mátxcơva ấn hành năm 2002, và đƣợc nhà xuất bản Thông
tấn dịch và ấn hành năm 2004. Cuốn sách đƣợc chia làm bốn chƣơng: chƣơng
1 là phần lý luận chung về các yếu tố hình thành thể loại trong báo chí, ba
chƣơng còn lại trình bày 43 màu sắc đặc thù trong bảng màu các thể loại báo
chí đƣợc phân tích theo tính chất của các thể loại tin, thể loại phân tích, thể
loại chính luận – nghệ thuật. Đặc biệt, mỗi thể loại đƣợc minh họa bằng nhiều
bài viết hấp dẫn đã đăng tải trên báo và tạp chí ở nƣớc Nga nhằm giúp ngƣời
đọc có thể hình dung trực quan về diện mạo các thể loại báo chí một cách sắc
nét. Phần nghiên cứu mà luận án tham khảo đƣợc nhiều nhất trong tác phẩm
này nằm ở chƣơng đầu tiên của cuốn sách. Đầu tiên, tác giả đƣa ra các lý do
phải quan tâm đến yếu tố thể loại trong tác phẩm báo chí. Tiếp đến, tác giả
đƣa ra ba phƣơng pháp phản ánh hiện thực trong sáng tạo thể loại báo chí.
Tác giả cho rằng các phƣơng pháp phản ánh hiện thực, về bản chất, trƣớc hết
đều là những cách thức đặc biệt dùng để thực hiện một cách có quy củ những
mục tiêu liên quan đến nhau, và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Tác giả
cũng chỉ ra các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của các sản phẩm truyền thông,
từ đó xác định những mục tiêu của hoạt động sáng tạo báo chí.
Từ các định nghĩa đối tƣợng, chức năng, và phƣơng pháp, tác giả đi đến
những kết luận thể hiện rõ tính chất của các thể loại báo chí hiện đại. Trong
cách sắp xếp của tác giả, thể loại phóng sự nằm trong nhóm các thể loại tin.
Khi đề cập đến thể loại phóng sự trong nhóm các thể loại tin, tác giả chủ yếu
muốn nói về thể loại của báo in, nhấn mạnh những bài viết thuộc thể loại tin
về mặt số lƣợng tạo nên phần chủ yếu trong dòng thông tin đại chúng. Tác giả
cũng cho biết phóng sự là một trong những thể loại đƣợc ƣa chuộng nhất của
các phóng viên Nga. Tính chất đặc thù của các bài báo thuộc thể loại phóng
sự xuất hiện trƣớc hết là do kết quả của việc áp dụng „triển khai‟ phƣơng pháp
16
quan sát và định hình trong văn bản quá trình và các kết quả của nó. Nhiệm
vụ của bất kỳ phóng viên nào khi thực hiện phóng sự trƣớc hết là cung cấp
cho bạn đọc khả năng đƣợc nhìn thấy sự kiện bằng con mắt của ngƣời chứng
kiến, tức là tạo “hiệu quả của sự hiện diện”. Với phóng viên thực hiện phóng
sự, điều quan trọng không chỉ là mô tả trực quan một sự kiện nào đó, mà còn
là mô tả nó sao cho gây đƣợc sự đồng cảm ở bạn đọc về những điều đƣợc
nhắc đến trong văn bản. Điều này có thể thực hiện đƣợc bằng nhiều cách khác
nhau, nhƣng thông thƣờng hơn cả thì có hai cách để đạt đƣợc mục tiêu. Thứ
nhất là trình bày quá trình phát triển của sự kiện. Thứ hai, đƣa lên bề mặt sự
kiện tiến trình bên trong của nó hoặc trình bày quá trình phát triển cảm xúc
của tác giả này sinh trong khi tiếp cận với sự kiện.
Bàn trực tiếp về ảnh báo chí, cuốn sách “Ảnh báo chí” của tác giả
Brian Horton là tổng hợp của lý thuyết và những bài học kinh nghiệm từ
những phóng viên ảnh nổi tiếng thế giới. Cuốn sách chia thành 8 chƣơng: Ấn
tƣợng (Chƣơng 1), Ánh sáng (Chƣơng 2), Thời sự (Chƣơng 3), Ảnh chuyên
mục và ảnh chân dung (Chƣơng 4), Thể thao (Chƣơng 5), Điều khiển từ xa
(Chƣơng 6), Kỹ thuật số (Chƣơng 7), và Bài học từ những bậc thầy (Chƣơng
8).
Mặc dù cuốn sách không bàn trực tiếp thế nào là phóng sự ảnh báo chí
hay đặc điểm và tính chất của thể loại phóng sự ảnh là gì, nhƣng rải rác trên
khắp các trang sách, tác giả đã lồng những quan điểm về ảnh báo chí và
phóng sự ảnh báo chí vào các ví dụ sinh động và dễ hiểu, ví dụ tác giả quan
niệm: “Ảnh báo chí kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh, tƣờng thuật với
chiếc máy ảnh, ghi nhận một khoảnh khắc trong thời gian, cái phút giây điển
hình khi một hình ảnh đúc kết một câu chuyện” (tr 17, 3).
Cuốn sách đƣợc viết từ năm 2002 nhƣng các vấn đề đƣợc đề cập trong
cuốn sách đƣợc gợi mở đến tận thời điểm hiện tại, đây là phần mà luận án có
17
thể sử dụng làm dữ liệu tham chiếu có ích. Nhƣ trong phần viết về kỹ thuật
số, tác giả đã đƣa ra nhận định “Kỹ thuật số: Tƣơng lai của ảnh báo chí”, và
điều đó đã đƣợc khẳng định là hoàn toàn đúng trong thực tế hiện nay, đó là:
“Khi chuyển sang thiên niên kỷ mới, những thế hệ máy ảnh kỹ thuật số mới
nhất đã xuất hiện trên thị trƣờng. Với giá rẻ hơn và chất lƣợng gần nhƣ chụp
bằng phim, các kiểu máy ảnh mới này đã cho phép các nhật báo tiến thẳng
vào thời đại kỹ thuật số” (tr 200, 3)
Một phần hấp dẫn và cực kỳ hữu ích cho luận án, là chƣơng cuối cùng
của cuốn sách: Bài học từ những bậc thầy. Bài học đầu tiên là từ phóng viên
ảnh Host Faas, với bài học „Rèn luyện cả cuộc đời để tập trung vào một vài
khoảnh khắc‟. Host Fass đã từng đến Việt Nam và có những bức ảnh ám ảnh
về cuộc chiến tranh ở đây. Fass tin rằng quyền tiếp cận mà các nhà báo đã đạt
đƣợc ở Việt Nam không tự nhiên mà có. Ông cho biết các nhà báo đã phải nỗ
lực để đạt đƣợc quyền tiếp cận đó bằng cách lội bộ năm cây số cùng với binh
sĩ. Hành động đó khiến họ kính trọng và vì sự kính trọng đó, ông đƣợc nhiều
đơn vị chào đón khi quay lại và chính họ giúp ông đến nhiều nơi cần đến.
Phóng viên Host Fass chia sẻ: “Trƣớc hết, khi anh đƣợc đặc quyền có mặt ở
nơi những điều phi thƣờng đang diễn ra, anh đừng có chĩa ống kính vào mặt
một ngƣời đang hấp hối. Anh hoặc là xúc động hoặc là không. Đây là một
quy tắc không thể viết thành văn bản. Ai xâm phạm những quy tắc đó thì
không phải ngƣời biết cảm thông, không phải là phóng viên ảnh tốt. Anh phải
có cảm xúc trong những tình huống tận cùng của giới hạn. Đó là điều hiển
nhiên trong tình huống chiến tranh” (tr 224, 3)
Bài học thứ hai là từ J.Pat Carter, ngƣời đã từng thành công khi chụp
các cơn bão dữ dội ở Oklahoma. Lao mình vào các cơn bão, anh càng biết tôn
trọng sức mạnh của thiên nhiên hơn và tôn trọng những bài học anh tích lũy
đƣợc qua kinh nghiệm. Anh cho rằng: “Mỗi lần bạn lên đƣờng, bạn phải cân
18
nhắc những gì sẽ xảy ra. Không hề có quy tắc nào, không có giáo trình nào
dạy cách tƣờng thuật những chuyện nhƣ thế này. Bạn phải không ngừng tích
lũy kiến thức và hy vọng rằng bạn sẽ có quyết định đúng đắn khi đang tác
nghiệp” (tr 234, 3)
Bài học thứ ba là từ David Guttenfelder – phóng viên ảnh chuyên về
những vấn đề tị nạn và đã từng làm nhiều phóng sự loại này ở khắp Châu Phi
và Albania. Bất kể bối cảnh khác nhau, Guttenfelder cảm thấy mình vẫn có
thể tạo đƣợc những hình ảnh quan trọng, chỉ cần làm việc theo cách đã làm
trong quá khứ. Đó là tập trung vào con ngƣời. “Chính con ngƣời mới đáng
quan tâm chứ không phải chiến tranh hay núi lửa” (tr240, 3). Rất nhiều lần,
Guttenfelder đã chứng kiến các phóng viên ảnh bị cuốn theo tình huống chiến
tranh hay thiên tai mà quên rằng đời sống con ngƣời mới là điều quý giá nhất.
Bài học thứ tƣ từ phóng viên ảnh Alan Diaz: “Tiếp cận, xây dựng quan
hệ tốt và luôn sẵn sàng, luôn luôn dự kiến những tình huống và lựa chọn khả
năng” (tr 240, 3); Bài học thứ năm từ phóng viên hãng thông tấn AP Charles
Rex Arbogast: “Muốn tiếp cận, phải chuẩn bị kỹ càng. Quan hệ tốt với các
chính khách” (tr 248, 3); Bài học thứ sáu từ phóng viên ảnh AP David
Longstreath: “Ta vào nghề này để chụp ảnh chứ không phải để viện cớ. Luôn
luôn sẵn sàng phƣơng tiện bên mình để khỏi lỡ những sự kiện đột xuất” (tr
251, 3). Bài học thứ bảy David Martin, phóng viên ảnh AP: “Muốn có hình
ảnh hay nhất thì đừng sợ ƣớt. Không ngại gian khổ” (tr 255, 3). Bài học thứ
tám từ David Phillip và Pat Sullivan, phóng viên ảnh AP: “Đừng chụp theo lối
mòn. Sáng tạo trong những hoàn cảnh cụ thể” (tr 258, 3)
Các bài học kinh nghiệm của các phóng viên ảnh đƣợc gắn liền với mỗi
tình huống tác nghiệp cụ thể mà họ đã sáng tạo tác phẩm ảnh báo chí thành
công. Cho dù đó có phải là tác phẩm phóng sự ảnh hay không thì những bài
19
học mà họ chia sẻ đều có thể đƣợc coi nhƣ những dữ liệu độc đáo khi nghiên
cứu về phƣơng pháp sáng tạo tác phẩm phóng sự ảnh của phóng viên.
B - Các bài báo khoa học, luận án, đề tài khoa học
Các bài báo viết về nhiếp ảnh trên các tạp chí khoa học nƣớc ngoài có
thể kể đến con số hàng trăm bài, tuy nhiên những bài đề cập đến thể loại
phóng sự ảnh báo chí thì không có nhiều. Tác giả luận án chƣa có cơ hội để
đọc hết các bài báo có nội dung liên quan đến nhiếp ảnh, tuy nhiên có thể nêu
ra đây một vài bài báo đƣợc tác giả luận án sử dụng nhƣ những tài liệu tham
khảo có giá trị cho luận án “Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại”
Bài viết “Roger Fenton: the First Great War Photographer” của tác
giả James Estrin đăng trên tờ The New York Time ngày 18/1/2018 là một bức
tranh rực rỡ về chân dung của nhiếp ảnh gia chiến trƣờng đầu tiên: Roger
Fenton. Trƣớc chiến tranh, Roger Fenton là một luật sƣ xuất thân từ một gia
đình khá giả, nổi tiếng về kỹ thuật lƣu giữ hình ảnh, có mối quan hệ thân thiết
với gia đình hoàng gia và đã chụp một số bức chân dung lịch sử. Ông là ngƣời
đồng sáng lập của Hội Nhiếp ảnh Hoàng gia Anh, cũng là một nhiếp ảnh gia
phong cảnh hoàn hảo, một kỹ năng mà ông thƣờng sử dụng khi làm việc ở
Crimea. Ba trăm năm mƣơi bức ảnh của ông về cuộc chiến ở Crime hiện đƣợc
Sophie Gordon tập hợp trong "Shadows of War: Photo of Crim Fenton's
Crimea, 1855" cùng với sự đóng góp của Louise Pearson. Các bức ảnh cung
cấp một cái nhìn toàn diện hơn về công việc của ông, khác hơn so với các
hình ảnh quen thuộc mà công chúng từng chứng kiến.
Tác giả James Estrin cũng đƣa quan điểm của mình vào khi nhận định
về Roger Fenton: Robert Capa, nhiếp ảnh gia chiến tranh hiện đại có câu nói
nổi tiếng là “Nếu bức ảnh của bạn không đủ tốt, bạn đã không tiến đến đủ
gần”. Lời khuyên này mặc dù tốt, nhƣng nó không áp dụng cho Roger Fenton
– „bố già‟ của thể loại ảnh chiến tranh, ngƣời đã ghi lại cuộc chiến Crimean
20
năm 1855. Lý do là bởi Roger Fenton phải sử dụng máy ảnh lớn và những
tấm kính âm bản khó sử dụng (khi ấy máy ảnh Leica khổ nhỏ và chụp nhanh
còn chƣa đƣợc phát minh), thêm vào đó là bởi vì Fenton tránh xa các đối
tƣợng chụp ảnh phổ biến hiện nay, nhƣ một quý ông ngƣời Anh đúng đắn,
anh ta sẽ không chụp ảnh xác chết của những ngƣời lính, bởi vì làm nhƣ vậy
là không lịch sự.
Do thời gian phơi sáng lâu khiến ông Fenton không thể chụp các hoạt
động và không thể nắm bắt những khoảnh khắc thực sự của trận chiến. Tuy
nhiên, ông đã cho công chúng Anh một cái nhìn mới về cuộc chiến bằng cách
miêu tả cuộc sống của những ngƣời đàn ông và sĩ quan Anh, các loại vũ khí,
các tuyến đƣờng và những con ngựa – hình thức vận tải quân sự quan trọng
thời đó. Ông sống trong quân đội và di chuyển trong một chiếc xe ngựa
chuyên chở các vận dụng để chụp ảnh, có chức năng nhƣ một phòng tối.
Chiếc xe này của ông còn đƣợc sử dụng trong khi chụp ảnh về thất bại của
Nga trƣớc một liên minh bao gồm Anh, Pháp và Đế chế Ottoman.
Giống nhƣ nhiếp ảnh hiện đại, sự xung đột của khuynh hƣớng sáng tạo
thể hiện trong mối quan hệ giữa tính thẩm mỹ và tính hiện thực. Hình ảnh nổi
tiếng mà Fenton chụp về "Thung lũng của bóng tối chết chóc" là bức ảnh
chiến tranh mang tính biểu tƣợng đầu tiên - và nó đƣợc cho là đã bị sắp xếp.
Có thể nói, bài báo đã cung cấp nhiều chi tiết thú vị, bao gồm cả những hình
ảnh minh họa chân thực, là cơ sở để tác giả luận án tham khảo và triển khai
những luận điểm về phƣơng pháp sáng tạo của thể loại phóng sự ảnh báo chí
hiện đại đƣợc đề cập đến trong luận án.
Bài viết khác đƣợc tác giả luận án tham khảo là “Editing Pictures,
Influencing Photographers” đăng trên The New York Time ngày 21/8/2013.
Bài viết là tập hợp các mẩu chuyện nhiếp ảnh gia chia sẻ về ngƣời biên tập
ảnh - ngƣời cộng sự, ngƣời hƣớng dẫn của mình. Rất nhiều nhiếp ảnh gia đã
21
gửi lời tri ân tới những biên tập ảnh có ảnh hƣởng nhất tới sự nghiệp của
mình, nhƣ phóng viên ảnh Yunghi Kim và Kenneth Jarecke đã viết, những
biên tập viên hình ảnh này “là ngƣời đã cổ vũ và thúc đẩy họ, đôi khi là ép
buộc để họ tạo ra đƣợc những tác phẩm xuất sắc. Ngƣời biên tập ảnh đã tin họ
khi không ai khác tin họ – đã nhận ra tiềm năng và thế mạnh của từng nhiếp
ảnh gia và dành thời gian để tôi luyện nó”.
Bài viết là những câu chuyện của các nhiếp ảnh gia đã ghi dấu ấn ở một
số thể loại trong đó có thể loại phóng sự ảnh, với các biên tập viên hình ảnh
có ảnh hƣởng tới quan điểm sáng tác của họ. Đó là Alexandra Avakian và
biên tập viên Robert Stevens của tạp chí Time, là Stan Grossfeld và biên tập
viên Tom Winship của Boston Globe, là Joseph Rodriguez và biên tập viên
Fred Ritchin của New York Time, là Darcy Padilla và biên tập viên ảnh
Nancy Lee của New York Time. Những câu chuyện của các nhiếp ảnh gia đã
cho tác giả luận án những cơ sở để nhìn nhận vai trò của ngƣời chụp ảnh và
ngƣời biên tập viên hình ảnh trong quá trình sáng tạo tác phẩm phóng sự ảnh.
II/ CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN
CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG NƢỚC
A - Các sách
Các sách nghiên cứu về thể loại báo chí mà luận án sử dụng để tham
chiếu phần kết quả là của các tác giả: Nguyễn Văn Dững, Tạ Ngọc Tấn và
Đinh Hƣờng. Về thể loại phóng sự báo chí, các tác giả có công trình nghiên
cứu về vấn đề này mà luận án dùng để tham khảo gồm có: Nguyễn Đức Dũng,
Trịnh Bích Liên, Huỳnh Dũng Nhân và Nguyễn Quang Hòa. Phần các công
trình nghiên cứu về thể loại phóng sự ảnh báo chí là phần tham chiếu đƣợc sử
dụng nhiều nhất, bởi các kết quả nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến nội
dung đề tài của luận án, là của các tác giả Trần Mạnh Thƣờng, Nguyễn Đức
Chính, Chu Chí Thành, Vũ Đức Tân, Vũ Huyến. Ngoài ra, còn có rất nhiều
22
phần nghiên cứu của các tác giả khác nữa đƣợc tác giả luận án tham khảo
nhƣng không đƣợc nêu ở đây, bởi các nghiên cứu của họ chỉ đề cập đến một
vài khía cạnh nhỏ của vấn đề trong luận án.
Khi bàn về thể loại, các nhà nghiên cứu về báo chí học của Việt Nam
cũng đã có những luận điểm, luận cứ khoa học trong các công trình nghiên
cứu của mình, nhƣ là PGS, TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Tác phẩm báo chí –
tập 1”, hay PGS, TS Đinh Hƣờng trong cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn”.
Cuốn sách “Tác phẩm báo chí – tập 1” của tác giả Tạ Ngọc Tấn gồm 2
phần chính là: Những vấn đề lý luận chung về tác phẩm báo chí; Loại tác
phẩm thông tấn. Quan điểm về thể loại của tác giả đƣợc nêu trong phần 1
„Thể loại tác phẩm báo chí‟ khá rõ ràng, cụ thể và chi tiết, thành 4 vấn đề có
liên quan đến thể loại tác phẩm báo chí.
Thứ nhất, tác giả khẳng định thể loại tác phẩm là một khái niệm để chỉ
quy luật loại hình của tác phẩm báo chí. Thể loại là sự thống nhất có tính quy
luật – lặp lại của các yếu tố trong một tác phẩm báo chí.
Thứ hai, tác giả nêu tính chất quy luật trong sự hình thành và phát triển
của thể loại tác phẩm báo chí. Liên quan đến nội dung đề tài luận án này ở nội
hàm “hiện đại”, tác giả luận án quan tâm đến ý kiến của tác giả cuốn sách khi
bàn về yếu tố các phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại: “Thể loại tác phẩm báo chí
có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của các phƣơng tiện kỹ thuật. Sự ra đời
của máy ghi âm, máy ghi hình, máy tính điện tử tạo điều kiện cho các thể loại
truyền thông trong báo chí đƣợc tăng cƣờng khả năng truyền tải thông tin,
phong phú thêm về cách thể hiện, ngôn ngữ và kết cấu. Với các phƣơng tiện
kỹ thuật hiện đại, âm thanh, tiếng động, hình ảnh trở thành một bộ phận hữu
cơ của tác phẩm, gắn bó với tín hiệu ngôn ngữ trong việc thực hiện nhiệm vụ
truyền tải nội dung thông tin đến công chúng. Tác giả cũng chỉ ra rằng, khi đã
đƣợc hình thành, thể loại tác phẩm báo chí mang tính ổn định tƣơng đối.
23
Chính do sự ổn định tƣơng đối về nội dung và hình thức mà thể loại tác phẩm
hình thành kênh giao tiếp, một thói quen tiếp nhận thông tin của công chúng”.
Thứ ba, tác giả đƣa ra một số vấn đề có tính phƣơng pháp luận trong
việc phân chia thể loại tác phẩm báo chí. Sự phân loại hợp lý phải dựa trên hệ
thống tiêu chuẩn hợp lý. Có thể coi tiêu chí phân loại nhƣ là sự khái quát các
mối quan hệ đặc trƣng, các đặc điểm phổ biến của đối tƣợng nghiên cứu. Nhƣ
vậy, việc xác định tiêu chí có ý nghĩa quyết định đối với hệ thống phân loại.
Thứ tư, tác giả phân chia các loại tác phẩm báo chí và đặc trƣng cơ bản
của chúng. Trong phần này, tác giả xếp phóng sự và loại tác phẩm thông tấn,
bởi 3 lý do chính: Lý do thứ nhất, phóng sự ra đời gắn liền với sự ra đời của
báo chí. Cùng với sự phát triển của báo chí, phóng sự ngày càng hoàn thiện,
tăng cƣờng các khả năng thông tin và thể hiện nội dung hiện thực. Trong quá
trình đó, phóng sự hội nhập các yếu tố hợp lý của văn học, nhất là phƣơng
pháp miêu tả, các thủ pháp ngôn ngữ; Lý do thứ hai, thực tiễn hoạt động sáng
tạo tác phẩm của nhà báo cũng nhƣ khảo sát trực tiếp các tác phẩm cho thấy
giữa ký sự và phóng sự có những khác biệt khá rõ ràng. Trƣớc hết, phóng sự
phản ánh các sự kiện, sự việc trong một không gian cụ thể có tính thời sự cấp
bách; Lý do thứ ba, về thuật ngữ, phóng sự và phóng viên có chung một gốc
từ trong ngôn ngữ các nƣớc Châu Âu.
Từ các lập luận của mình, tác giả cuốn sách nêu lên khái quát các đặc
điểm của loại tác phẩm thông tấn – nghệ thuật (trong đó có phóng sự) nhƣ
sau: Đặc điểm 1: Nội dung của loại tác phẩm thông tấn – nghệ thuật là các sự
kiện, vấn đề khách quan tồn tại trong thực tế, mang tính thời sự hoặc quan hệ
chặt chẽ với dòng thời sự chủ lƣu, có ý nghĩa chính trị hoặc giáo dục, hƣớng
dẫn suy nghĩ, hành vi của con ngƣời trong xã hội hiện thời. Chất lƣơng thông
tin trong loại tác phẩm này là sự thống nhất giữa nhận thức, phán đoán khách
quan với nhận thức thẩm mỹ chủ quan của ngƣời viết về sự kiện, vấn đề hiện
24
thực; Đặc điểm 2: Ngôn ngữ và kết cấu của loại tác phẩm thông tấn – nghệ
thuật uyển chuyển, kết hợp giữa tính chất thông tin, chính luận khách quan
đặc trƣng của báo chí và tính chất nghệ thuật với các thủ pháp phong phú của
văn học; Đặc điểm 3, mục đích chính của tác phẩm thông tấn – nghệ thuật là
cung cấp cho công chúng thông tin về các vấn đề, sự kiện toàn diện hơn trong
các mối quan hệ với giá trị thẩm mỹ.
Cuốn sách “Các thể loại thông tấn báo chí” của tác giả Đinh Hƣờng là
cuốn giáo trình đƣợc biên soạn trên cơ sở tài liệu giảng dạy từ năm 1991 đến
2006, và tập bài giảng đƣợc biên soạn và nghiệm thu chính thức năm 2004,
cấu trúc gồm các phần chính là: Những vấn đề chung về thể loại báo chí
(Phần 1); Tin (Phần 2); Phỏng vấn (Phần 3); Tƣờng thuật (Phần 4).
Trong phần những vấn đề chung về thể loại báo chí, tác giả Đinh
Hƣờng xếp phóng sự báo chí và nhóm các thể loại báo chí chính luận – nghệ
thuật, là những thể loại kết hợp yếu tố chính luận của báo chí (tƣ liệu, số liệu,
sự kiện, nhân vật có thật, chất lý luận, hùng biện …) với các yếu tố văn học –
nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc, thái độ, khái quát, so sánh và các
thủ pháp khác) để thể hiện tác phẩm sinh động, sâu sắc, mềm mại và hấp dẫn
đối với công chúng. Có thể nói đây là một trong những nhóm thể loại có sự
giao thoa đậm nét nhất „chất văn‟ trong báo chí (trừ tính hƣ cấu của văn học).
Chính điều này đã tạo điều kiện cho ngƣời viết ngoài nội dung thông tin có
thật, còn thể hiện đƣợc tƣ tƣởng, quan điểm thẩm mỹ của mình, hay chiều sâu
của vấn đề một cách nhẹ nhàng, lay động lòng ngƣời. Vì vậy, thông tin sự
kiện, lý lẽ và thẩm mỹ là tính trội của nhóm thể loại này.
Có thể nói, cuốn sách “Tác phẩm báo chí – tập 1” của tác giả Tạ Ngọc
Tấn và cuốn “Các thể loại thông tấn báo chí” của tác giả Đinh Hƣờng đã cho
tác giả luận án cái nhìn tƣơng đối toàn diện về vấn đề thể loại, là cơ sở để
triển khai đề tài “Thể loại phóng sự ảnh báo chí hiện đại” dƣới góc độ là một
25
thể loại báo chí. Từ vấn đề thể loại, các nghiên cứu đƣợc tác giả luận án sử
dụng nhƣ một phần tham chiếu chính là các cuốn sách, tài liệu viết về thể loại
phóng sự báo chí.
Một trong số những nghiên cứu khá toàn diện và khái quát về thể loại
báo chí là của tác giả Nguyễn Đức Dũng – nguyên giảng viên Khoa Báo chí
Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Cuốn sách “Phóng sự báo chí hiện đại”
của tác giả Nguyễn Đức Dũng đƣợc chia thành 2 phần lý luận và thực tiễn rõ
ràng. Phần lý luận gồm 3 chƣơng là: Phóng sự và những quan niệm về thể
loại phóng sự; Những đặc điểm của phóng sự báo chí hiện đại; Những xu
hƣớng của phóng sự - viết phóng sự. Phần thực tiễn là 36 bài phóng sự đƣợc
chọn lọc, sắp xếp theo tính chất của nhóm đối tƣợng phản ánh là: Phóng sự
vấn đề, phóng sự chân dung, phóng sự sự kiện, phóng sự điều tra, và phóng sự
về hoàn cảnh, hiện trạng.
Phần tham chiếu nhiều nhất cho luận án từ cuốn sách “Phóng sự báo
chí hiện đại”, là phần viết về những đặc điểm của phóng sự báo chí hiện đại.
Trong phần này, tác giả Nguyễn Đức Dũng triển khai theo các đặc điểm về
nội dung và về hình thức.
Về nội dung, phóng sự báo chí phản ánh những mâu thuẫn và trả lời các
câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra, nhân trần thuật – cái tôi của tác giả là nhân
chứng khách quan của hiện thực. Cái tôi trong phóng sự là cái tôi trần thuật,
đƣợc ví nhƣ sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung tác phẩm, làm nên linh
hồn và bản sắc của tác phẩm đó. Nó đóng vai trò tập hợp và sắp xếp các sự
kiện của sự thật, thống nhất trong một chỉnh thể sống động và nhất quán. Sự
xuất hiện của nhân vật trần thuậtn là một đặc điểm nổi bật của phóng sự nói
chung và phóng sự báo chí nói riêng. Đó là cái tôi vừa logic, lý trí, đủ lý lẽ,
đồng thời mang sức mạnh của một tâm hồn giàu cảm xúc, thấm nhuần tính
nhân văn cao cả, cho dù nhân vật trần thuật phải luôn thể hiện sự khách quan