Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Nguồn cấp động mạch
Động mạch chủ bụng bắt nguồn từ lỗ động
mạch chủ của cơ hoành, phía trước bờ dưới
của đốt sống T12 (Fig. 4.110) Nó đi xuống
xuyên qua bụng, phía trước thân các đốt sống,
và vào lúc này nó kết thúc ở đốt sống L4 và hơi
trái so với đường giữa. Nhánh cuối cùng của
động mạch chủ bụng là hai động mạch chậu
chung.
Các nhánh trước của động mạch chủ bụng
Động mạch chủ bụng có các nhánh trước, bên và sau vì nó
băng qua ổ bụng. Ba nhánh trước cung cấp tạng dạ dày –
ruột non: ĐM thân tạng, ĐM mạc treo tràng trên và ĐM mạc
treo tràng dưới. (Fig. 4.110)
Ống ruột nguyên thủy có thể bị chia thành đoạn ruột trước
(cơ quan tiêu hóa nguyên thuỷ), đoạn ruột giữa phôi và
đoạn ruột cuối phôi. Ranh giới của những
343
Bụng
vùng này trực tiếp liên quan đến vùng phân bố của
ba nhánh trước của động mạch chủ bụng (fig.
4.111).
▪ Phần ruột trước bắt đầu từ vùng bụng của thực
quản và kết thúc ngay sau nhú tá lớn, ở giữa dọc
theo phần xuống của tá tràng. Nó bao gồm vùng
bụng của thực quản, dạ dày, tá tràng (phía trên
nhú tá lớn), gan, tuyến tụy và túi mật.
Lách cũng phát triển liên quan đến vùng ruột trước.
Nó được cung cấp bởi động mạch thân tạng.
▪ Đoạn ruột giữa phôi bắt đầu ngay ở sau nhú tá lớn,
trong phần xuống của tá tràng, và kết thúc ở đường
nối 2/3 gần và 1/3 xa của kết tràng ngang. Nó bao
gồm tá tràng (sau nhú tá lớn), hỗng tràng, hồi tràng,
manh tràng, ruột thừa, kết tràng lên và 2/3 phải của
kết tràng ngang. Đoạn ruột giữa phôi được cung cấp
bởi động mạch mạc treo tràng trên (Fig. 4.111).
▪ Đoạn ruột cuối phôi bắt đầu ngay trước góc tràng
ngang (đường nối giữa 2/3 gần và 1/3 xa của kết
tràng ngang) và kết thúc giữa chừng qua ống hậu
môn. No bao gồm 1/3 trái của kết tràng ngang, kết
tràng xuống, kết tràng xích ma, trực tràng và phần
trên của ống hậu môn. Đoạn ruột cuối phôi được
cung cấp bởi động mạch mạc treo tràng dưới (Fig.
4.111).
Động mạch thân tạng
Động mạch thân tạng là nhánh trước của động mạch
chủ bụng cung cấp cho đoạn ruột trước. Nó khởi nguồn
từ động mạch chủ bụng ngay dưới lỗ động mạch chủ
của cơ hoành (Fig. 4.112), phía trước của phần trên của
đốt sống L1. Nó ngay lập tức phân chia thành động
mạch vị trái, động mạch lách, và động mạch gan chung.
Động mạch vị trái
Động mạch vị trái là nhánh nhỏ nhất của động
mạch tạng. Nó lên đến điểm tiếp giáp thực quản
tâm vị và cho các nhánh thực quản đi lên phần
bụng của thực quản (Fig. 4.112). Môt vài nhanh
tiếp tục xuyên qua lỗ thực quản ở cơ hoành và
thông nối với động mạch chủ ngực. Động mạch
vị trái tự quay sang phải và đi lên dọc theo bờ
cong bé dạ dày ở mạc nối bé. Nó cung cấp cho
toàn bề mặt của dạ dày ở vùng này và thông
nối với động mạch vị phải.
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Fig. 4.112. ĐM thân tạng. A. Sự phân chia của ĐM thân tạng. B. Hình chụp X-quang kỹ thuật số ĐM thân tạng và các nhánh.
345
Bụng
Động mạch lách
Động mạch lách, nhánh lớn nhất của động mạch thân tạng, đi
một đường quanh co dọc theo bờ trên của tuyến tụy (Fig.
4.112). Nó đi trong dây chằng thận – lách và chia thành rất
nhiều nhánh đi vào rốn lách. Khi động mạch lách băng qua rìa
trên của tuyến tụy , nó sẽ cho ra nhiều nhánh nhỏ để cung cấp
cho cổ, thân và đuôi tụy.
Fig. 4. 113. Động mạch cấp máu cho tuyến tụy
346
Gần đến lách, động mạch lách tỏa ra thành các động
mạch vị ngắn, xuyên qua dây chằng vị lách để cấp máu
cho đáy dạ dày. Nó cũng cho nhánh động mạch vị mạc
nối trái, chạy phía bên phải dọc theo bờ công lớn của dạ
dày, và thông nối với động mạch vị mạc nối phải.
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Động mạch gan chung
Động mạch gan chung là một nhánh vừa của động
mạch thân tạng chạy bên phải và chia thành hai
nhánh tận của nó: động mạch gan riêng và động mạch
vị - tá tràng (Figs. 4.112 và 4.113).
Động mạch gan riêng tiến về phía gan ở bờ tự do
của mạc nối nhỏ. Nó chạy tới bên trái ống mật và
trước tĩnh mạch cửa, chia thành động mạch gan trái
và phải gần cửa gan (Fig. 4.114).
Khi động mạch gan phải gần gan, nó cho nhánh
động mạch túi mật.
Động mạch vị - tá tràng có thể cho nhánh động
mạch trên tá tràng và cho nhánh động mạch tá - tụy
trên sau gần phần trên tá tràng. Sau khi phân nhánh,
động mạch vị tá tràng tiếp tục đi xuống về phía sau
so với phần trên
Fig. 4.114. Sự phân chia của động mạch gan chung
của tá tràng. Vươn tới bờ dưới của phần trên tá
tràng, động mạch vị tá tràng chia thành các nhánh
tận của nó, động mạch vị mác nối phải và động mạch
tá tụy trên trước
Động mạch vị mạch nối phải bang qua bên trái,
dọc theo bờ cong lớn dạ dày, cuối cùng thông nối với
động mạch vị mạc nối trái từ động mạch lách. Động
mạch vị mạc nối phải cho nhánh đến toàn bộ bề mặt
của dạ dày và ngoài ra còn cho nhánh xuống mạc nối
lớn.
Động mạch tá tụy trên trước đi xuống và cùng
với động mạch tá tụy trên sau, cung cấp cho đầu tụy
và tá tràng (Fig, 4. 113). Các mạch này cuối cùng
thông nối với nhánh trước và sau của động mạch tá
tụy dưới.
347
Bụng
Động mạch mạc treo tràng trên
Động mạch mạc treo tràng trên là một nhánh trước
của động mạch chủ bụng cung cấp máu cho đoạn ruột
giữa phôi. Nó khởi nguồn từ động mạch chủ bụng
ngay dưới động mạch thân tạng (Fig. 4.115), trước
phần dưới của đốt sống L1.
tràng trên có ba mạch - Động mạch kết tràng giữa, động
mạch kết tràng phải và động mạch hồi kết tràng – cung cấp
máu cho đoạn cuối hồi tràng, manh tràng, kết tràng lên, và
2/3 của kết tràng ngang.
Động mạch mạc treo tràng trên bị băng qua phía
trước bởi tĩnh mạch lách và cổ của tuyến tụy. Phía sau
động mạch là tĩnh mạch thận trái, mỏm móc của tụy
và phần dưới của tá tràng. Sau khi cho ra nhánh đầu
tiên của nó (động mạch tá tụy dưới), động mạch mạc
treo tràng trên cho nhánh động mạch hỗng tràng và
hồi tràng ở bên phải của nó (Fig. 4.115). Nhánh từ bên
phải của thân chính ở động mạch treo
Động mạch tá tụy dưới là nhánh đầu tiên của động mạch
mạc treo tràng trên. Nó phân chia ngay thành các nhánh
trước và sau, đi lên bên tương ứng của đầu tụy, Ở vị trí phía
trên, các động mạch này thông nối với động mạch tá tụy
trước và sau (xem Figs. 4.114 và 4.115). Mạng lưới động
mạch này cung cấp cho đầu mà mỏm móc của tụy và tá
tràng.
Động mạch tá tụy dưới
Fig. 4. 115. Khởi đầu sự phân nhánh và các mối liên hệ của động mạch mạc treo tràng trên
348
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Động mạch hỗng tràng và hồi tràng
Ở xa động mạch tá tụy dưới, động mạch mạc treo
tràng trên cho rất nhiều nhánh. Phát sinh ở bên trái
là một lượng lớn động mạch hỗng tràng và hồi tràng
cung cấp máu cho hỗng tràng và hầu hết hồi tràng
(Fig. 4. 116). Các nhánh này rời khỏi thân
chính động mạch, băng qua hai lớp mạc nối, và nối
thành hình vòm hoặc cung khi chúng đi ra ngoài để
cung cấp máu cho ruột non. Số lượng các động mạch
tăng dần dọc theo ruột .
Có thể có cung đơn và sau đó là cung kép ở khu vực
hỗng tràng, với sự gia tăng liên tục số lượng các
Fig. 4. 115. ĐM mạc treo tràng trên. A. Sự phân chia của ĐM treo tràng trên. B. Ảnh chụp kỹ thuật số ĐM treo tràng trên và các nhánh.
349
Bụng
cung đường di chuyển vào và qua khu cực của hồi tràng.
Kéo dài từ cung cuối cùng là các động mạch thẳng, cho
nguồn cung cấp máu trực tiếp cuối cùng tới thành của
ruột non. Các động mạch thẳng cấp máu hỗng tràng
thường dài và gần nhau, hình thành nên các ô hẹp có
thể nhìn thấy trong mạc treo. Các động mạch thẳng cấp
máu cho hồi tràng thường ngắn và cách xa nhau, tạo
thành các ô rộng.
Động mạch kết tràng giữa
Động mạch kết tràng giữa là nhánh đầu tiên trong ba
nhánh bên phải thân chính của động mạch mạc treo
tràng trên (Fig. 4.116). Phát sinh khi động mạch mạc
treo tràng trên xuất hiện từ bên dưới tuyến tụy, động
mạch kết tràng giữa đi vào mạc treo kết tràng ngang và
chia thành các nhánh phải và trái. Nhánh phải thông nối
với động mạch kết tràng phải trong khi nhánh trái
thông nối với động mạch kết tràng trái – một nhánh của
động mạch mạc treo tràng dưới.
Động mạch kết tràng phải
Tiếp tục dọc theo thân chính của động mạch mạc treo
tràng trên, động mạch kết tràng phải là nhánh thứ hai
trong ba nhánh bên phải thân chính của động mạch mạc
treo tràng trên (Fig. 4. 115). Nó là một nhánh không
tương xứng, băng qua bên phải vị trí sau phúc mạc để
cung cấp cho kết tràng lên. Gần kết tràng, nó chia tành
nhánh xuống, thông nối với động mạch hồi kết tràng, và
nhánh lên thông nối với động mạch kết tràng giữa.
Động mạch hồi kết tràng
Nhánh cuối cùng đi ra từ bên phải của động mạch kết
tràng trên là động mạch hồi kết tràng (Fig. 4. 116). Nó
đi xuống dưới và sang phải về phía hố chậu nơi mà nó
chia thành các nhánh trên dưới:
▪ Nhánh trên đi lên dọc theo kết tràng lên để thông
nối với động mạch kết tràng phải.
▪ Nhánh dưới tiếp tục hướng dọc theo đường nối hồi
kết tràng, chia thành các nhánh kết tràng, manh
tràng, ruột thừa và hồi tràng (Fig. 4. 116).
Kiểu phân bố đặc trưng và nguồn gốc của những nhánh
này là bất định:
350
▪ Các nhánh ruột thừa đi vào bờ tự do và cung cấp cho mạc
treo ruột thừa và ruột thừa.
▪ Nhánh hồi tràng đi lên phía trái và cấp máu cho phần
cuối hồi tràng trước khi thông nối với động mạch mạc
treo tràng trên
Động mạch mạc treo tràng dưới
Động mạch mạc treo tràng dưới là nhánh trước của động
mạch chủ bụng mà nó cấp máu cho đoạn ruột cuối phôi. Nó
nhỏ nhất trong ba nhánh trước của động mạch chủ bụng là
đi ra từ tước thân của đốt sống L3. Ban đầu, động mạch mạc
treo tràng dưới đi xuống trước động mạch chủ sau đó đi dần
xuống về bên trái (Fig. 4.117). Nhánh của nó bao gồm động
mạch kết tràng trái, các động mạch xích – ma, và động mạch
trực tràng trên.
Động mạch kết tràng trái
Động mạch kết tràng trái là nhánh đầu tiên của động mạch
mạc treo tràng dưới (Fig. 4.117). Nó đi lên sau phúc mạc,
chia thành nhánh lên và nhánh xuống:
▪
Nhánh lên đi qua phía trước bên trái thận, sau đó đi
vào mạc kết tràng ngang, và băng qua phía trên để
cung cấp máu cho phần trên của kết tràng xuống và
phần xa của kết tràng ngang; nó thông nối với các
nhánh của động mạch kết tràng giữa.
▪
Nhánh xuống đi xuống dưới, cung cấp máu cho
phần xuống của kết tràng xuống, và thông nối với
động mạch xích – ma đầu tiên.
Động mạch xích – ma
Động mạch xích – ma bao gồm hai đến bốn nhánh, đi xuống
bên trái, vào mạc treo kết tràng xích – ma, cấp máu cho phần
dưới cùng của kết tràng xuống và kết tràng xích – ma (Fig.
4. 117). Các nhánh này thông nối ở trên với các nhánh từ
động mạch kết tràng trái và ở dưới với các nhánh của động
mạch trực tràng trên.
Động mạch trực tràng trên
Nhánh tận cùng của động mạch mạc treo tràng dưới là động
mạch trực tràng trên (Fig. 4.117). Mạch này đi xuống
khoang chậu trong mạc treo kết tràng xích – ma, giao nhau
với mạch chậu gốc. Động mạch trực tràng trên phân chia
đối diện đốt sống S3. Hai nhánh tận cùng đi lên từ mỗi bên
của trực tràng, chia thành các nhánh nhỏ hơn ở thành của
trực tràng. Các nhánh nhỏ hơn này tiếp tục đi xuống tới
nhánh cơ vòng hậu môn, thông nối dọc đường đi với các
nhánh động mạch trực tràng giữa (từ động mạch chậu
trong) và động mạch trực tràng dưới (từ động mạch thẹn
trong).
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Fig. 4. 117. ĐM mạc treo tràng dưới. A. Sự phân chia của ĐM mạc treo tràng dưới. B. Ảnh chụp mạch máu ĐM mạc treo tràng dưới và các
nhánh của nó
Trong lâm sàng
Mạch máu cung cấp cho hệ thống dạ dày – ruột non
Các phần bụng của hệ thống dạ dày – ruột non được cung
cấp chính bởi động mạch thân tạng và động mạch mạc
treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới (Fig. 4.
118).
▪
Động mạch thân tạng cấp máu cho phần dưới
thực quản, dạ dày, phần trên của tá tràng, và nửa
gần của phần xuống tá tràng.
▪
Động mạch mạc treo tràng trên cấp máu cho
phần còn lại của tá tràng, hỗng tràng, hồi tràng,
kết tràng lên, và 2/3 gần của kết tràng ngang.
▪
Động mạch mạc treo tràng dưới cấp máu cho
phần còn lại của kết tràng ngang, kết tràng xuống
và kết tràng xích – ma, và hầu hết trực tràng.
Dọc theo phần xuống của tá tràng có vùng cấp máu
giữa giữa dòng máu đông mạch thân tạng và động
mạch mạc treo tràng trên. Hiếm khi khu vực này bị
thiếu máu cục bộ, trong khi đó vùng cấp giữa động
mạch thân tạng trên và động mạch thân tạng dưới, ở
góc lách, rất dễ bị thiếu máu cục bộ.
Trong một số tình trạng bệnh, khu vực góc lách của
kết tràng có thể thiếu máu cục bộ. Khi điều này xảy
ra, niêm mạc bong ra, khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm
trùng và thủng ruột già, sau đó yêu cầu phẫu thuật
khẩn cấp.
Xơ vừa động mạch có thể xảy ra khắp động mạch
chủ bụng và ở chỗ mở đầu của động mạch thân tạng,
động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo
tràng dưới.
(Còn nữa)
Bụng
Lâm sàng – Tiếp theo
Fig. 4. 118. Động mạch cấp máu cho phần bụng của hệ thống dạ dày – ruột non cho lách
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Lâm sàng – tiếp theo
Hiếm khi động mạch mạc treo tràng dưới bị thuyên tắc.
Thú vị là rất nhiều bệnh nhân không chịu bất kì biến
chứng nào bởi vì sự thông nối giữa động mạch kết tràng
phải, giữa và trái dần dần mở rộng, hình thành động
mạch bờ nối tiếp nhau. Do đó, ruột già được cấp máu
bởi các động mạch bờ này (động mạch bờ của
Drummond), thay thế nguồn cấp máu cho động mạch
mạc treo tràng dưới (Fig. 4. 119).
Nếu cửa của động mạch thân tạng và động mạch mạc
treo tràng trên trở nên chật hẹp, máu cấp cho ruột sẽ bị
giảm đi. Sau bữa ăn lớn, nhu cầu oxy của ruột vì thế mà
vượt quá giới hạn cung cấp máu qua các mạch máu hẹp,
dấn đến hệ quả là những cơn đau dữ dội và khó chịu
(đau thắt mạc). Bệnh nhân với triệu chứng này có xu
hướng nhịn ăn bởi cơn đau và sụt cân nhanh chóng.
Chẩn đoán được xác định bằng cách chụp động mạch
chủ và hẹp động mạch thân tạng và động mạch mạc treo
tràng trên là cách tốt nhất từ bên ngoài.
.
Fig. 4. 119. Động mạch bờ mở rộng và sự kết nối giữa
động mạch treo tràng trước sau. Ảnh chụp kỹ thuât số.
353
Bụng
Sự lưu thông tĩnh mạch
Sự lưu thông tĩnh mạch ở lách, tụy, túi mật và phần
bụng của đường tiêu hóa, ngoại trừ phần dưới của trực
tràng, thông qua hệ cửa, cấp máu từ các cấu trúc này
cho gan. Một khi máu đi qua các xoang gan, nó dần đi
qua tĩnh mạch rộng hơn tới khi nhập vào tĩnh mạch
gan, trở lại các tĩnh mạch tới tĩnh mạch chủ dưới ngay
dưới cơ hoành.
Tĩnh mạch cửa
Tĩnh mạch cửa là đường chung cuối cùng trong đường
vận chuyển máu của tĩnh mạch lách, tụy, mật và phần
bụng của đường tiêu hóa. Nó hình thành bởi sự kết
hợp của tĩnh mạch lách và tĩnh mạch mạc treo tràng
trên phía sau cổ tuyến tụy ở đốt sống L2 (Fig. 4. 120)
354
Fig. 4. 120. Tĩnh mạch cửa
Lên dần về phía gan, tĩnh mạch cửa đi qua phía sau
tới phần trên của tá tràng và nhập vào bờ bên phải của
mạc nối bé. Khi đi qua phần này của mạc nối bé, nó ở
trước lỗ mạc nối và sau các ống mật nằm hơi lệch về bên
phải, và động mạch gan riêng hơi lệch về bên trái (xem
Fig. 4. 114, tr.347).
Để tiếp cận gan, động mạch của chia thành các nhánh
phải và trái, đi vào nhu mô gan. Các nhánh tĩnh mạch
cửa bao gồm:
▪
tĩnh mạch vị phải và trái chảy ở bờ công bé
của dạ dày và thực quản bụng.
▪
tĩnh mạch túi mật từ túi mật, và
▪
các tĩnh mạch cạnh rốn, liên quan đến tĩnh
mạch rốn đã cắt kết nối với các tĩnh mạch trước thành
bụng (Fig. 4. 122 on p. 357).
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Tĩnh mạch lách
▪ tĩnh mạch vị mạc nối trái từ đường cong lớn của dạ
Tĩnh mạch lách được hình thành từ rất nhiều mạch nhỏ đi
ra từ rốn lách (Fig. 4. 121). Nó đi qua bên phải, bang qua
dây chằng thận – lách cùng với động mạch lách và đuôi của
tuyến tụy. Tiếp tục về phía bên phải, tĩnh mạch lách rộng,
thẳng tiếp xúc với thân tuyến tụy khi nó đi qua phía sau
thành bụng. Sau cổ tuyến tụy, tĩnh mạch lách nhập vào tĩnh
mạch treo tràng trên để hình thành tĩnh mạch cửa.
Các nhánh của tĩnh mạch lách bao gồm:
▪ các tĩnh mạch vị ngắn từ đáy và phần trái của
đường cong lớn dạ dày.
dày,
▪ tĩnh mạch tụy chảy dọc thân và tai của tuyến tụy, và
▪ thường có tĩnh mạch mạc treo tràng dưới.
Fig. 4. 120. Sự lưu thông của các tĩnh mạch ở hệ tiêu hóa.
Tĩnh mạch mạc treo tràng trên
Tĩnh mạch mạc treo tràng trên dẫn máu từ ruôt non,
manh tràng, kết tràng lên, và kết tràng ngang (Fig. 4.
121). Nó bắt nguồn từ hố chậu phải là một tĩnh mạch
dẫn lưu cuối hồi tràng, manh tràng và ruột thừa, đi lên
trong mạc nối tới bên phải của động mạch treo tràng
trên.
Bụng
Sau cổ tuyến tụy, tĩnh mạch mạc treo tràng trước
nhập vào tĩnh mạch lách thành tĩnh mạch cửa.
Khi tĩnh mạch liên lạc đi theo mỗi nhánh của tĩnh
mạch mạc treo tràng trên, cho nhánh tới tĩnh mạch mạc
treo tràng trên bao gồm tĩnh mạch hỗng tràng, hồi tràng,
hồi kết tràng, kết tràng phải và kết tràng giữa. Ngoài ra
còn bao gồm các nhánh:
▪ tĩnh mạch vị mạc nối phải, đi dọc theo bên phải
▪
của bờ cong lớn của dạ dày, và
tĩnh mạch trước dưới và sau dưới chạy dọc theo
cạnh các động mạch cùng tên; tĩnh mạch tá tụy
trên trước thường đổ vào tĩnh mạch vị mạc nối
phải, và tĩnh mạch tá tụy trên sau thương đổ
trực tiếp vào tĩnh mạch cửa.
Tĩnh mạch mạc treo tràng sau
Tĩnh mạch mạc treo tràng sau dẫn máu từ trực tràng,
kết tràng xích – ma, kết tràng xuống, và góc lách (Fig.
4. 121). Nó bắt đầu là tĩnh mạch trên trực tràng và đi
lên, nhận nhánh từ tĩnh mạch xích ma và tĩnh mạch
kết tràng trái. Tất cả các tĩnh mạch này đi theo các
động mạch cùng tên. Tiếp tục đi lên phía trên, tĩnh
mạch mạc treo tràng dưới đi qua phía trước thân
tuyến tụy và thường nhập vào tĩnh mạch lách. Đôi khi,
nó kết thúc ở điểm giao nhau của tĩnh mạch lách và
tĩnh mạch treo tràng trên hoặc nhập vào tĩnh mạch
treo tràng trên.
Lâm sàng
Chai gan (liver cirrhosis)
Chai là một rối loạn phức tạp của gan, thường được
chẩn đoán bằng mô bệnh. Khi nghi ngờ trường hợp
này, việc sinh thiết gan là cần thiết.
Chai gan có đặc tính phổ biến là sự lan rộng của xơ gan
xen kẽ với các khu vực tái hình thành các u nhỏ và các
cấu trúc thùy gan trước đó. Sự xuất hiện của chai gan
cho thấy các tổn thương trước đó hoặc tổn thương kéo
dài của tế bào gan.
Nguyên căn của chai gan phức tạp và bao gồm các độc
tố (cồn), virut viêm, tắc nghẽn mật, tắc nghẽn đầu ra
mạch máu, nguyên nhân về dinh dưỡng, và rối loạn
giải phẫu và chuyển hóa do di truyền.
Khi chai gan tiến triển, hệ mạch trong gan bị biến dạng,
từ đó dẫn đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa và các nhánh
dẫn của nó (tăng huyết áp kịch phát). Tăng huyết áp
cực phát làm tăng áp lực ở các tiểu tĩnh mạch, dẫn tới
phình lách. Ở những điểm hệ thống thông nối (xem ở
dưới), sự giãn nở của tĩnh mạch (varices) càng phát
triển. Những tĩnh mạch này dễ bị chảy máu và có thể
gây mất máu, trong một số trường hợp có thể gây tử
vong.
Gan có nhiệm vụ tổng hợp rất nhiều protein, bao gồm
các yếu tố đông máu. Bất kì chuyển hóa nào của gan
(bao gồm nhiễm trùng và chai) có thể giảm bớt sự sản
xuất của những protein này và ngăn sự đông máu cần
thiết. Bệnh nhân chai gan nghiêm trọng có nguy
cơ cao bị chảy máu nghiêm trọng, thậm chí từ
những vết cắt nhỏ; ngoài ra, khi bị giãn tĩnh mạch,
có nguy cơ cạn kiệt máu đột ngột.
Khi gan dần hỏng, bệnh nhân bị ứ muối và nước,
gây phù nề. Chất dịch tự do (ascites) tích tụ trong
khoang phúc mạc, có thể chứa rất nhiều lít.
Các tế bào gan bị suy giảm chức năng không thể
phân hủy máu và các sản phẩm máu, dẫn tới sự gia
tăng của bilirubin huyết thanh, mà nó biểu hiện
tình trạng vàng da.
Với sự suy giảm chức năng chuyển hóa của gan,
sản phẩm chuyển hóa độc hại không được chuyển
hóa thành chất vô hại. Sự tích tụ của các hợp chất
độc hại này làm tệ hơn bởi rất nhiều portosystemic
shunts (sự nối tắc cửa – toàn thể ), cho phép chất
độc chuyển hóa bỏ qua gan. Bệnh nhân có thể các
biểu hiện nghiêm trọng về thần kinh, có thể dẫn tới
động kinh, sa sút trí tuệ, và tổn thương thần kinh
không hồi phục.
Tuần hoàn bàng hệ cửa (portosystemic
anastomosis)
Hệ thống cửa gan nhận máu từ các cơ quan nội tạng
bụng với gan. Ở người bình thường, 100% lưu
lượng máu tĩnh mạch cửa có thể được phục hồi lại
nhờ các tĩnh mạch gan, trái lại ở những bệnh nhân
có huyết áp tĩnh mạch cửa cao (vd. do chai gan), có
lưu lượng máu đến gan ít hơn đáng kể. Phần còn lại
của dòng máu chảy vào các kênh bên cạnh rót vào
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Lâm sàng – tiếp theo
hệ tuần hoàn ở điểm cụ thể (Fig. 4. 122). Thường
xảy ra ở:
▪
điểm tiếp giáp dạ dày thực quản xung
quanh tâm vị - nơi mà tĩnh mạch vị trái và
nhánh của nó hình thành nên một hệ nối
tĩnh mạch cửa – chủ với các nhánh tĩnh
mạch đơn thuộc tĩnh mạch chủ;
▪
tĩnh mạch hậu môn – trực tràng trên của
hệ cửa thông nối với tĩnh mạch trực tràng
giữa và dưới của hệ thống tĩnh mạch; và
▪
thành bụng trước bao quanh tĩnh mạch
rốn và tĩnh mạch cận rốn thông nối với
tĩnh mạch trên thành bụng trước.
Khi huyết áp ở tĩnh mạch cửa tăng cao, giãn
tĩnh mạch có xu hướng xảy ra ở xung quanh các
vị trí của hệ hối và những tĩnh mạch bị giãn
rộng này thường được gọi là:
▪ giãn tĩnh mạch ở điểm tiếp giáp hậu
môn trực tràng,
▪ giãn tĩnh mạch thực quản tại điểm
tiếp giáp dạ dày thực quản, và
▪ hình đầu sứa ở vùng rốn
Giãn tĩnh mạch thực quản dễ bị tổn thương và
một khi bị tổn thương có thể gây chảy máu ồ ạt,
yêu cầu phẫu thuật can thiệp khẩn cấp.
Gan
TM cửa
TM lách
Các TM cận rốn
và các dây chằng
tròn
TM mạc treo tràng dưới
Các TM bề mặt
trên thành bụng
TM mạc treo tràng trên
TM chủ dưới
TM trên trực tràng
TM chậu chung
TM chậu trong
TM trực tràng dưới
Fig. 4. 122. Hệ thông nối tĩnh mạch cửa – tĩnh mạch chủ
Trực tràng
Bụng
Hệ bạch huyết
Dòng bạch huyết của hệ tiêu hóa ở bụng, ít ở
phần dưới trực tràng, và khá dày ở lách, tụy, túi
mật và gan, qua các mạch và hạch và cuối cùng
đều tụ lại các hạch trước động mạch chủ tại điểm
bắt đầu của ba nhánh trước động mạch chủ
bụng, chi phối cho các cấu trúc này. Những điểm
này được gọi là nhóm tạng, treo tràng trên và
treo tràng dưới của các hạch trước động mạch
chủ. Bạch huyết từ nội tạng được cung cấp bởi
ba nhánh:
▪ Nhánh tạng (thuộc đoạn ruột trước) đổ về
các hạch trước tạng gần đầu của động
mạch thân tạng (Fig. 4. 123) – những hạch
tạng này cũng nhận bạch huyết từ nhóm
mạc treo trên và dưới của các hạch trước
động mạch chủ, và bạch huyết từ các hạch
tạng nhập vào bể nhũ chấp.
▪ Động mạch mạc treo tràng trên (thuộc
đoạn ruột giữa) đổ vào các hạch trước
động mạch chủ gần đầu của động mạch
mạc treo tràng trên (Fig. 4. 123) – các
hạch mạc treo tràng trên cũng nhận bạch
huyết từ nhóm mạc treo tràng dưới của
các hạch trước động mạch chủ, và bạch
huyết từ các hạch mạc treo tràng trên đổ
vào các hạch tạng.
▪ Động mạch mạc treo tràng dưới (thuộc
đoạn ruột cuối) đổ vào các hạch trước
động mạch chủ gần điểm bắt đầu của
động mạch mạc treo tràng dưới (Fig. 4.
123), và bạch huyết từ các hạch mạc treo
tràng dưới đi vào các hạch mạc treo tràng
trên.
Sự phân bổ thần kinh
Nội tạng được phân tố bởi tất cả các thành phần
bên trong và bên ngoài của hệ thần kinh:
▪ Sự phân bổ thần kinh ngoại lai liên quan
đến việc nhận xung động đi, truyền cảm
giác đến thần kinh trung ương.
▪ Sự phân bổ thần kinh nội tại liên quan đến
hoạt động tiêu hóa nhờ mạng lưới thần
kinh cảm giác và vận động (hệ thống thần
kinh ruột).
Nội tạng ruột nhận sự phân bố thần kinh ngoại lai
bao gồm đường tiêu hóa. Lách, tụy, túi mật và gan.
Những cơ quan này gửi thông tin cảm giác về thần
kinh trung ương nhờ các sợi hướng tâm và nhận
các xung động từ thần kinh trung ương nhờ các
sợi li tâm.
Fig. 4. 123. Hệ bạch huyết phần bụng của hệ tiêu hóa
Các sợi li tâm là một phần phần giao cảm và đối
giao cảm của các bộ phận tự chủ hệ thần kinh ngoại
biên.
Thành phần cấu trúc ống dẫn cho những sợi li tâm
và hướng tâm này bao gồm các rễ trước và sau của tủy
sống, tương ứng, các dây thần kinh tủy sống, các nhánh
trước, các nhánh thông xám và trắng, thân giao cảm,
thần kinh nội tạng mang sợi giao cảm (ngực, thắt lưng,
cùng), sợi đối giao cảm (chậu hông), đám rối trước đốt
sống và các hạch liên quan, thần kinh lang thang [X] .
Hệ thần kinh ruột bao gồm thần kinh vận động và
cảm giác ở hai đám rối nối liền với nhau trên thành của
hệ tiêu hóa. Những tế bào thần kinh này điều khiển
phối hợp co bóp và thư giãn cơ trơn của ruột, sự điều
hòa bài tiết dạ dày và lưu lượng máu.
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Trong phạm vi của thân giao cảm, có thể nhìn thấy các vùng
nhỏ. Những cơ quan tế bào thần kinh ngoài CNS (hệ thần
kinh trung ương) là các hạch giao cảm bên cột sống. Thường
có:
Thân giao cảm
Thân giao cảm có hai dây thần kinh song song mở rộng ở
hai bên của cột sống từ nền sọ tới xương cụt (Fig. 4. 124).
Khi đi qua cổ, chúng nằm đằng sau vỏ động mạch cảnh. Ở
ngực trên, chúng ở trước cổ sườn, trong khi ở ngực dưới
chúng ở cạnh ngoài thân đốt sống. Ở vùng bụng, chúng ở
trước ngoài thân đốt sống thắt lưng và khi vào vùng chậu,
chúng đi ra trước xương cùng. Hai thân giao cảm đi cùng
nhau ra trước xương cụt để hình thành hạch cụt.
‘
▪ 3 hạch thuộc vùng cổ,
▪ 11 hoặc 12 hạch ở ngực,
‘
▪ 4 hạch ở thắt lưng,
▪ 4 đến 5 hạch ở xương cùng, và
▪ Hạch đơn trước ở xương cụt (Fig. 4. 124).
Các hạch và thân được kết nối với nhau thành các dây
thần kinh cột sống liền kề bởi các nhánh thông trắng và xám
xuyên suốt chiều dài thân giao cảm và nhờ các nhánh thông
trắng ở phần ngực và thắt lưng trên (t1 tới L2). Các sợi thần
kinh được tìm thấy trong thân giao cảm bao gồm sợi trước
hạch, sợi giao cảm sau hạch và các sợi nội tạng hướng tâm.
Dây thần kinh tạng
Các dây thần kinh tạng là thành phần quan trọng trong sự
phần bổ thần kinh nội tạng bụng. CHúng đi từ thân giao cảm
hoặc hạch giao cảm liên khết với thân, tới đám rối trước đốt
sống và hạch trước động mạch chủ bụng.
Có hai loại dây thần kinh tạng khác nhau, phụ thuộc vào từng
loại sợi tạng ly tâm mà chúng mang:
▪ Thần kinh tạng ngực, thắt lưng và xương cùng mang sợi giao
cảm trước hạch từ thân giao cảm tới hạch ở đám rối trước
đốt sống, và cả sợi tạng hướng tâm.
▪ Thần kinh tạng chậu (rễ đối giao cảm) mang sợi đối giao cảm
tước hạch từ trước các nhánh của thần kinh gai đốt sống S2,
S3 và S4 tới phần mở rộng của đám rồi thần knh tước đốt
sống ở chậy (đám rối dưới hạ vị hoặc đám rối chậu).
Thần kinh tạng ngực
Ba dây thần kinh tạng ngực đi từ hạch giap cảm dọc theo
thân giao cảm ở trực tới đám rối trước đốt sống và các hạch
liên kết với động mạch chủ bụng (Fig. 4. 125):
▪ Dây thần kinh tang lớn từ hạch ngực thứ năm đến thứ chín
(hoặc thứ mười) và đi quanh các hạch tân tạng ở bung (một
hạch tước đốt sống liên kết với thân tạng).
Bụng
Fig. 4. 125. Thần kinh tạng
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
▪ Thần kinh tạng bé đi ra từ hạch thứ chín và mười
(hoặc mười và mười một) và đi theo hạch chủ
thận.
▪ Thần kinh tạng bé nhất, khi xuất hiện, đi từ hạch
ngực thứ 12 và đi tới đám rối thần kinh thận.
Thần kinh tạng thắt lưng và thần kinh
tạng chậu hông – đáy chậu
Thường có 2 đến 4 dây thần kinh tạng thắt lưng , đi từ
phần thắt lừng của thân giao cảm hoặc hạch liên quan
và đi vào đám rối thần kinh trước đốt sống (Fig. 4.
125).
Tương tự, thần kinh tạng cùng đi từ phần cùng của
thân giao cảm hay hạch liên quan rồi đi vào đám rối
hạ vị dưới, là một sự mở rộng đám rối thần kinh trước
cột sống vào vùng chậu hông.
Thần kinh tạng chậu hông
Thần kinh tạng chậu hông (rễ đối giao cảm) là duy
nhất. Chúng là dây tạng duy nhất mang các sợi đối giao
cảm. Nói cách khác, chúng không bắt nguồn từ thân
giao cảm. Mà chúng bắt nguồn chính từ nhánh trước
của đốt sống S2 tới S4. Các sợi đối giao cảm trước hạch
bắt đầu ở tủy sống đi từ dây thần kinh tủy sống S2 đến
S4 tới đám rối dưới hạ vị, và phân phối với động mạch
cấp máu cho đoạn ruột cuối. Điều này cung cấp con
đường để phân bố thần kinh ở 1/3 xa của kết tràng
ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma bởi các sợ
đối giao cảm trước hạch.
Đám rối thần kinh bụng trước đốt sống và
hạch
Đám rối thần kinh bụng trước đốt sống là tập hợp các
sợ thần kinh xung quanh động mạch chủ bụng và tiếp
tục lên các nhánh chính của nó. Rải rác dọc khắp chiều
dài của đám rối thần kinh bụng trước đốt sống là các
thân tế bào của sợ giao cảm trước hạch. Một vài trong
số các thân tế bào được tổ chức thành các hạch riêng
biệt, trong khi những tế bào khác thường hay phân bố
ngẫn nhiên. Các hạch thường liên hệ với các nhánh
riêng của động mạch chủ bụng và được gọi tên theo
các nhánh đó.
Ba nhánh chính của đám rối thần kinh bụng
trước đốt sống và các hạch liên quan là đám rối tạng,
động mạch chủ và trên hạ vị (fig. 4. 126).
Đám rối thân tạng là một nhóm lớn các sợi thần kinh và
các hạch liên hệ với các rễ của động mạch thân tạng và
động mạch treo treo tràng trên ngay dưới lỗ động mạch
chủ ở cơ hoành. Các hạch liên hệ với đám rối thân tạng
bao gồm hai hạch thân tạng, một hạch mạc treo tràng trên
đơn và hai hạch chủ thận.
▪ Đám rối động mạch chủ bao gồm các sợi thần kinh và
các hạch liên hệ với mặt trước và bên của động mạch
chủ bụng mở rộng từ ngay dưới điểm bắt đầu của
động mạch mạc treo tràng trên tới điểm chia đôi của
động mạch chủ thành hai nhánh động mạch chậu
chung. Hạch chính của đám rối này là hạch mạc treo
tràng dưới ở rễ của động mạch mạc treo tràng dưới.
▪ Đám rối hạ vị trên gồm rất nhiều hạch nhỏ và là phần
cuối của đám rối thần kinh tạng bụng trước đốt sống
trước khi đám rối trước đốt sống tiếp tục đi vào hố
chậu.
Mỗi một đám rối chính cho một số đám rối thứ phát, có
thể gồm nhiều hạch nhỏ. Những đám rối này thường được
gọi tên theo hệ mạch mà chúng liên quan. Ví dụ, đám rối
thân tạng thường được mô tả là nguồn gốc của đám rối
cùng và đám rối mạc treo tràng trên, cũng như những đám
rối khác mở rộng ra cùng các nhánh khác nhau của thân
tạng. Tương tự, đám rối động mạch chủ có đám rối thứ
phát bao gồm đám rối mạc treo tràng dưới, đám rối tinh
và đám rối chậu ngoài.
Ở thấp hơn, đám rối hạ vị trên phaanh thành thần
kinh hạ vị , đi xuống chậu hông và đóng góp vào sự hình
thành của đám rối hạ vị dưới hay đám rối cùng (Fig. 4.
126).
Đám rối thần kinh tạng trước đốt sống nhận:
▪ sợi đối giao cảm trước hạch và sợi tạng hướng tâm
từ thần kinh lang thang,
▪ sợi giao cảm tước hạch và sợi tạng hướng tâm từ
thần kinh tạng ngực và thắt lưng,
▪ sợi đối giao cảm từ thần kinh tạng chậu hông
Sự phân bố thần kinh đối giao cảm
Sự phân bố thần kinh đối giao cảm của hệ tiêu hóa ở bụng,
lách, tuyến tụy, túi mật và gan từ hai nguồn – thần kinh
lang thang và thần kinh tạng chậu hông.
Bụng
m
e
s
e
n
t
e
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Thần kinh lang thang
Thần kinh lang thang [X] đi vào bụng liên quan đến
thực quản khi thực quản xuyên qua cơ hoành (Fig. 4.
127) và nó phân bố thần kinh đối giao cảm cho đoạn
ruột trước và ruột giữa.
Sau khi đi vào khoang bụng với hai thân trước và
sau thân kinh lan thang, chúng cho nhánh đến đám rối
thần kinh bụng trước đốt sống. Các nhánh này bao gồm
các sợi đối giao cảm trước hạch và các sợi tạng hướng
tâm, được phân phối với các thành phần khác của đám
rối trước đốt sống dọc theo các nhánh của động mạch
chủ trước.
Thần kinh tạng chậu hông
Thần kinh tạng chậu hông mang các sợi đối giao cảm
trước hạch từ tủy sống S2 đến S4, đi vào đám rối hạ vị
dưới ở chậu hông. Một vài các sợi này di chuyển lên
trên phần mạc treo tràng dưới của đám rối trước đốt
sống ở ổ bụng (Fig. 4 .127). Khi đó, những sợi này được
phân phối với các nhánh của động mạch mạc treo tràng
Bụng
dưới và phân bố các sợi đối giao cảm tới đoạn ruột
cuối.
Hệ thần kinh ruột (ENS)
Hệ thống thần kinh ruột là một phần thuộc nội
tạng của hệ thống thần kinh và là một mạch thần
kinh cục bộ ở thành ống tiêu hóa. Nó bao gồm thần
kinh vận động và cảm giác được tổ chức thành hai
đám rối được kết nối với nhau (đám rối thần kinh cơ
ruột và đám rối thần kinh dưới niêm mạc ruột) giữa
các lớp của thành ống tiêu hóa, và liên kết với các sợi
thần kinh đi qua giữa các đám rối và từ các đám rối
đến các mô lân cận (Fig. 4. 128).
Hệ thống thần kinh ruột điều tiết và phối hợp rất
nhiều hoạt động của ống tiêu hóa, bao gồm hoạt
động của dịch tiết dạ dày, lưu lượng máu, chu kỳ co
bóp và giãn nở của các cơ trơn (nhu động).
Mặc dù hệ thống thần kinh ruột thông thường độc
lập với hệ thần kinh trung ương, nó nhận dữ liệu vào
từ sau hạch thần kinh giao cảm và trước hạch thần
kinh đối giao cảm để điều phối hoạt động.
Phân bố thần kinh giao cảm của dạ dày
Con đường phân bố thần kinh giao cảm của dạy dày
theo các ý dưới đây:
▪ Một sợi giao cảm trước hạch bắt đầu tại nấc T6
tủy sống đi vào một rễ trước để rời khỏi đây.
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
▪
Tại lỗ gian đốt sống, rễ trước (bao gồm các sợi trước
hạch) và rễ sau nhập lại tạo thành thần kinh tủy
sống.
Bên ngoài cột sống, sợi trước hạch rời khỏi nhánh
trước của thần kinh tủy sống xuyên qua các nhánh
thông trắng.
Các nhánh thông trắng, bao gồm sợi trước hạch, kết
nối với thân giao cảm.
Nhập vào than giao cảm, sợi trước hạch không synap
(sự tiếp hợp thần kinh) mà đi qua thân và nhập vào
thần kinh tạng lớn.
Thần kinh tạng lớn đi qua trụ cơ hoành và nhập hạch
tạng.
Ở hạch tạng, các sợi trước hạch khớp thần kinh với
một nơ ron sau hạch.
Sợi sau hạch nhập vào đám rối thần kinh xung quanh
động mạch thân tạng và tiếp tục đi dọc theo các
nhánh của nó.
Sợi trước hạch đi qua đám rối thần kinh đi kèm các
nhánh của động mạch thân tạng cung cấp cho dạ dày
và cuối cùng đi đến điểm phân phối của nó.
Thông tin vào từ hệ thống giao cảm có thể điều tiết
hoạt động của hệ tiêu hóa nhờ hệ thống thần kinh
ruột.
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Lâm sàng
Phẫu thuật cho bệnh béo phì
Phẫu thuật bệnh béo phì được bến đến là phẫu
thuật giảm cân nặng. Loại phẫu thuật này càng trở
nên phổ biến trong những năm gần đây, giúp các
bệnh nhân không thể giảm một số cân đáng kể bằng
chế độ ăn uống hợp lí và các chương trình tập luyện.
Nó thường được xem là biện pháp cuối cùng. Quan
trọng, chúng ta cần phải chấp nhận các tác động y tế
ngày càng tăng mà các bệnh nhân thừa cân gây ra.
Vì thừa cân, các bệnh nhân thường dễ gặp phải các
vấn đề về đái tháo đường, tim mạch, và bị rối loạn
sức khỏe nói chung. Tất cả những điều này có tác
động đáng kể đến ngân sách chăm sóc sức khỏe và
được coi là điều nghiêm trọng đối với “sức khỏe của
một quốc gia”.
Có rất nhiều lựa chọn phẫu thuật để điều trị béo
phì. Phẫu thuật cho các bệnh nhân béo phì được
phân làm hai nhóm chính: thu nhỏ kích thước và
giảm hấp thu.
ngăn việc tái tăng cân và cũng làm giảm cân ngặng.
Có một vài biến chứng, có thể bao gồm thiếu máu,
loãng xương, và tiêu chảy.
Phương pháp thu nhỏ kích thước
Phương thức thu nhỏ kích thước bằng cách thắt
hoặc cắt bỏ bên trong hoặc xung quanh dạ dày để
giảm kích thước của nó. Sự cắt giảm này tạo cảm
giác no sớm và ngăn bệnh nhân ăn quá mức. hoặc
ngăn việc tái tăng cân và cũng làm giảm cân ngặng.
Có một vài biến chứng, có thể bao gồm thiếu máu,
loãng xương, và tiêu chảy.
Phương pháp phối hợp
Là phương pháp phổ biến nhất hiện nay ở Mỹ. bất
kì bệnh nhân thừa cân nào trải qua phẫu thuật đều
đối mặt với rủi ro đáng kể và tăng tỷ lệ mắc bệnh,
với tỉ lệ tử vong từ 1% đến 5%.
Phương pháp giảm lượng chất hấp thụ
Có hàng loạt cách tạo ra trạng thái kém hấp thu,
365
Bụng
VÙNG BỤNG SAU
Vùng bụng sau là sau hệ tiêu hóa thuộc bụng, lách
và tuyến tụy (Fig. 4. 129). Vùng này được giới hạn
bởi xương và các cơ dựng thành sau của bụng, bao
gồm rất nhiều cấu trúc không chỉ trực tiếp liên
quan đến các hoạt động vùng bụng mà còn sử
dụng vùng này như một đường dẫn giữa thân
mình. Ví dụ bao gồm động mạch chủ bụng và các
đám rối thần kinh liên kết của nó, tĩnh mạch
chủ dưới, thân giao cảm, và hệ bạch huyết. Cũng có các
cấu trúc khởi phát từ vùng này quan trọng đối với các
chức năng thông thường của các vùng khác trên cơ thể
(đám rối thần kinh thắt lưng), và có các cơ quan liên
kết với khu vực này trong suốt quá trình phát triển và
vẫn còn ở người trưởng thành (tuyến thượng thận).
Giải phẫu định khu • Nội tạng (Bụng)
Thành bụng sau
Xương
Đốt sống thắt lưng và đốt sống thắt lưng
Dóng vào đường giữa của vùng bụng sau là thân của
năm đốt sống (Fig. 4. 130). Gờ nổi của các cấu trúc
trong khu vực này là do đường cong thứ cấp (lồi về
phía trước) của phần thắt lưng ở cột sống.
Đốt sống thắt lưng có thể được phân biệt với đốt sống cổ và
ngực nhờ kích thước của nó. Chúng lớn hơn bất kì đốt sống
nào khác ở bất kì vùng nào. Thân đốt sống lớn dần từ đốt
sống L1 tới L5. Các cuống ngắn và bè, mỏm ngang dài và
mảnh, gai đốt sống rộng và dày. Mỏm khớp rộng và hướng
ra giữa và bên ngoài, tăng sự gấp và duỗi ở vùng này của
cột sống.
Giữa mỗi đốt sống thắt lưng và một đĩa gian đốt sống, hình
thành đường biên giữa phần này của thành bụng sau.
Ranh giới giữa của thành bụng sau, trước đốt sống thắt
lưng, bao gồm các rìa trên của xương cùng (Fig. 4. 130).
Xương cùng được tạo thành bởi sự kết hợp của 5 đốt sống
cùng làm một, cấu trúc xương hình nêm rộng phía trước và
hẹp ở sau. Bề trước lõm và bề sau lồi bao gồm các lỗ cùng
sau và trước cho các nhánh sau và trước của thần kinh gai
đốt sống đi qua.
Các xương vùng chậu
Xương chậu là một thành phần của các xương vùng
chậu, gắn ngoài xương cùng ở khớp cùng chậu (fig. 4.
130). Phần trên của mỗi cánh chậu mở rộng ra ngoài
thành một vùng mỏng giống cánh chim (hố chậu). Mặt
giữa vùng này của mỗi xương chậu, có các cơ liên
quan, là thành phần của thành bụng sau.
Các xương sườn
Ở phía trước, các xương sườn XI và XII hình thành nên
khung xương của thành bụng sau (Fig. 4. 130). Các
xương sườn này riêng biệt ở chỗ chúng không khớp với
xương ức hay các xương sườn khác, chúng có cạnh
khớp đơn ở đầu, và không có cổ và gò mấu.
Xương sườn XI ở phía sau của phần trước thận trái, và
xương sườn XII nằm ở sau phần trước cả hai thận.
Ngoài ra, xương sườn XII là một điểm bám cho nhiều cơ
và dây chằng.